Connect with us

Sách hay

Vở bi hài kịch về những kẻ hết thời và bại trận

Được phát hành

,

Trong tiểu thuyết “Serotonin”, Michel Houellebecq vạch trần thói đạo đức giả trong xã hội hiện đại, đồng thời khuyến khích độc giả cảm thông với những kẻ “hết thời và thất bại”.

Tranh: Dóra Kisteleki/Fianancial Times.

Serotonin của Michel Houellebecq kể chuyện một người đàn ông mắc bệnh trầm cảm. Một ngày, ông quyết định từ bỏ tất cả: công việc, nhà ở, cô bồ người Nhật để “tự biến mất”. Gã này bắt đầu lần về những mối quan hệ cũ, cố hiểu xem mình đã sai chỗ nào.

Nhân vật chính của cuốn sách tên là Florent-Claude Labrouste, 46 tuổi, đàn ông da trắng, khá giả, thất vọng với tình yêu, chán nản với công việc, không nhiều đam mê. Bất mãn với nhiều khía cạnh trong cuộc sống, Florent-Claude quyết định buông xuôi, giải thoát bản thân khỏi cuộc sống hiện tại.

“Mong muốn giải thoát không đến từ tinh thần độc lập mà đến từ sự chán ghét của một thuộc cấp phải theo lệnh cấp trên, một kiểu không chịu chấp hành, một cuộc nổi dậy đạo đức cá nhân, từng được mô tả trong nhiều vở kịch theo chủ nghĩa hiện sinh ngay sau Thế chiến II”, trích nội dung sách.

Qua câu chuyện của Florent-Claude, Michel Houellebecq cho thấy một khía cạnh tâm lý không hiếm trong thời hiện đại và cách xã hội đã vô tình cô lập một lớp người như thế nào.

van hoc duong dai anh 1

Tiểu thuyết Serotonin của Michel Houellebecq. Ảnh: P.B.

Sự thờ ơ của xã hội trước nỗi khốn khổ của những người bình thường

Sau khi xóa sạch dấu vết đời sống xã hội trước đây, Florent-Claude chuyển đến một khách sạn trên đại lộ Sơ Rosalie, Quận 13. Gã chọn chỗ này chỉ vì ở đây thì gã hút được thuốc lá và không phải lo đụng mặt ả bồ người Nhật.

Cũng trong khoảng thời gian này, Florent-Claude sử dụng thuốc chống trầm cảm và bị mất libido (ham muốn tình dục). Đối mặt với khả năng rằng đời sống tình dục của mình chỉ còn là quá khứ, Florent-Claude quyết định tổ chức một “nghi lễ mini vĩnh biệt libido” bằng cách tìm gặp lại tất cả những người đàn bà từng “vinh danh” dương vật của gã. Khi cuộc phiêu lưu vào miền ký ức bắt đầu, Florent-Claude khắc khoải về những tình yêu đã lụi tàn, hối tiếc vì sự thờ ơ ngây dại và tính trăng hoa mà giờ đây, gã tự gọi là “ngu xuẩn khủng khiếp”.

Michel Houellebecq không ngần ngại viết về những điều đáng xấu hổ, những điều gây khó chịu, những thứ mà ông cho là sự thật mất lòng – ngay cả khi những sự thật ấy trần trụi và kinh khủng.

Một sự thật Houellebecq trình bày trong Serotonin là cuộc sống không phải lúc nào cũng viên mãn và rằng đôi khi người ta chẳng làm gì để thay đổi tình thế được cả. Nhân vật Florent-Claude là người cảm thấy cuộc đời mình đã hết thuốc chữa. Cuộc đời gã ra nông nỗi này và người chịu trách nhiệm là chính gã chứ chẳng ai khác. Gã cũng nhận thấy mình đã bỏ lỡ mọi cơ hội sửa sai.

Bi kịch hơn, Florent-Claude là một người đàn ông da trắng khá giả, kiểu người mà xã hội cho là vốn có quá nhiều đặc quyền (điều Houellebecq chẳng phủ nhận) và nghiễm nhiên phớt lờ những nỗi thống khổ của gã. Đây đúng là kiểu nội dung ngược đời và tréo ngoe Michel Houellebecq thích khai thác.

“Loài người không hề liên minh chống lại tôi; chỉ đơn giản là chẳng có gì cả, rằng sự gắn kết của tôi với thế giới, ngay từ đầu đã hạn hẹp, dần dần trở thành số 0, cho đến lúc chẳng còn gì có thể ngăn không cho nó tuột dốc”, trích nội dung sách.

Bên cạnh những cô tình cũ, Florent-Claude còn gặp lại người bạn thân thời đại học tên Aymeric. Aymeric cũng là một kiểu nhân vật với nỗi khốn khổ bị xã hội phớt lờ, một nhân vật đại diện cho tầng lớp nông dân đã tổ chức phong trào dân túy Áo vàng tại Pháp năm 2018. Nhân vật này xuất hiện trong Serotonin không phải để tác giả bày tỏ quan điểm chính trị, mà để chỉ ra sự vô cảm trong các bước tiến của xã hội, cả về mặt tự nhiên lẫn chính trị.

Trong sự vận chuyển không ngừng của thế giới, sự phát triển đột phá của công nghệ, những người như Aymeric bị bỏ rơi, bị đẩy vào cảnh khốn cùng. Trong con mắt của người đời và chính họ, Aymeric và Florent-Claude bị coi là những kẻ “hết thời và bại trận”. Từ đây, Michel Houellebecq đặt ra câu hỏi: Những con người ấy đáng trách hay đáng thương? Họ có thể làm gì? Chúng ta – những độc giả – những công dân trong xã hội hiện đại – có thể làm gì?

van hoc duong dai anh 2

Nhà văn Michel Houellebecq. Ảnh: Le Monde.

Vở hài kịch đen yêu cầu lòng cảm thông của khán giả

Chiêm nghiệm về những thất bại trong đời mình, Florent-Claude nghĩ: “…cơ thể của tôi hiện nay đang hành xử một cách chỉnh tề, chỉ có điều là tôi cô độc, theo đúng nghĩa của nó và tôi chẳng rút được khoái cảm nào từ nỗi cô độc của tôi, cũng như từ hoạt động tự do của tinh thần tôi, tôi cần tình yêu và tình yêu dưới một hình thức cụ thể, tôi cần tình yêu nói chung…”.

Mặc dù tràn đầy những chi tiết tấu hài, những bình luận táo tợn khiến người đọc phải nhướn mày, phần lớn nội dung cuốn sách tựa một nghiên cứu về cảm giác bi quan trong xã hội. Ở tuổi 46, Florent-Claude không còn cảm thấy tận hưởng cuộc sống nữa. Gã uống thuốc tăng serotonin (chất dẫn truyền thần kinh giúp gã bớt bi quan), khiến gã mất khả năng tận hưởng tình dục, thứ gã coi là niềm vui cuộc sống. Đây quả là một tình cảnh ngang trái.

Lần về quá khứ trong “nghi lễ mini vĩnh biệt libido”, Florent-Claude nhận ra mình đã thất bại trong việc phân biệt một khoảnh khắc hạnh phúc tầm thường với triển vọng một niềm hạnh phúc lâu dài. Thất bại này đã hủy hoại gã. Florent-Claude là một kẻ trăng hoa, một người bàng quan với sự đời, có thể nói là xấu tính, khó ưa. Nhưng điều đó có hạ thấp nỗi thống khổ của gã khi mất đi niềm vui sống không?

Cuốn tiểu thuyết như thách thức chính độc giả của mình trong việc phán xét các nhân vật như Florent-Claude hay Aymeric. Thông qua vở hài kịch đen này, Houellebecq khiến độc giả phải suy ngẫm về tính đạo đức giả của chính chúng ta khi phán xét và khinh rẻ những con người khó ưa, khi triệt tiêu lòng cảm thông dành cho họ.

Ở một khía cạnh, Serotonin như một thí nghiệm để Houellebecq bóc tách căn bệnh trầm cảm. Cách tiếp cận của Houellebecq có sự tương đồng với cách đạo diễn Lars von Trier đã làm trong bộ 3 phim về trầm cảm của mình (AntiChrist, Melancholie, Nymphomaniac).

Cả Lars von Trier và Houellebecq đều đặt các nhân vật với mô thức tư duy khác nhau vào các xung đột để xem cách họ phản ứng thế nào. Trong Serotonin, Florent-Claude được đưa vào cuộc hành trình lần về những mối quan hệ quá khứ, xem cuộc đời của những con người từng thân thiết với mình diễn tiến ra sao, để rồi tự nhìn lại vào bản thể mình.

“Đó là một nỗi buồn bình lặng, ổn định, không có khả năng tăng mà cũng không có khả năng giảm, tóm lại là một nỗi buồn vĩnh viễn nếu nhìn vào những gì quanh nó”, Michel Houellebecq viết trong Serotonin.

Với cách khai thác này, độc giả phần nào hiểu được góc nhìn của những con người bi quan ấy, không phải để bi quan cùng họ, mà để cảm thông với họ, để giúp họ giảm bớt nỗi áp lực, nỗi tuyệt vọng trong một xã hội vẫn thường đối đãi họ với sự vô cảm.

Serotonin chơi đùa với ranh giới của bi kịch và hài kịch. Cuốn tiểu thuyết có kiểu viết đậm chất Houellebecq, bắt gặp được trong các tác phẩm khác của ông như Les Particules élémentaires (Hạt cơ bản) hay Plateforme (Chênh vênh). Houellebecq là kiểu nhà văn có thể viết về các chủ đề mại dâm, phân biệt giới tính, phân biệt chủng tộc, ấu dâm, khiêu dâm, du lịch tình dục… một cách tỉnh bơ, không hề né tránh.

Thỉnh thoảng, Houellebecq viết lạnh lùng, trung lập, nhưng rất thường xuyên, ông viết với giọng điệu tếu táo, có phần thô thiển. Dù vậy, với khía cạnh đạo đức của Serotonin, Houellebecq trình bày với sự chân thành nghiêm túc.

Vừa u ám, tuyệt vọng, vừa hài hước quái đản, Serotonin là một cuốn tiểu thuyết gây tranh cãi khác của Michel Houellebecq. Tác phẩm chia rẽ giới phê bình, một bên cho rằng cuốn sách vô nghĩa và xấc xược, một bên ngợi ca sự táo bạo và chân thành trong điểm nhìn của tác giả.

Có lẽ đây chính là phản ứng Houellebecq mong đợi từ phía độc giả, để buộc độc giả suy nghĩ và cảm thông với đồng loại hơn. Mà cũng có thể ông chẳng quan tâm độc giả nghĩ gì mà chỉ viết những gì mình nghĩ.

Dù có thế nào, ta cũng phải công nhận lòng can đảm của Houellebecq khi dám viết về những đề tài nhạy cảm một cách thành thật như vậy. Serotonin gợi cho độc giả nhiều suy nghĩ về hiện thực cuộc sống và đạo đức con người, khiến ta cảm thông được với cả những người tưởng chừng không đáng cảm thông nhất.

Nguồn: https://zingnews.vn/vo-bi-hai-kich-ve-nhung-ke-het-thoi-va-bai-tran-post1388180.html

Sách hay

Tại sao cần điện hạt nhân?

Được phát hành

,

Bởi

Trong hai cuốn sách về năng lượng, khí hậu, hai tác giả Richard Rhodes và Bill Gates đánh giá điện hạt nhân là nguồn năng lượng phát thải thấp, quan trọng với hành trình tiến đến Net Zero.

Theo ước tính của Liên hợp quốc, dân số thế giới sẽ đạt khoảng 10,4 tỷ người vào năm 2100, tức tăng hơn 25% so với hiện nay. Không chỉ quy mô dân số gia tăng, mà mức sống cũng ngày càng tăng cao, chuyển từ sinh tồn sang thịnh vượng.

Điều này đặt ra một trong những thách thức lớn nhất của thế kỷ 21: Làm chậm quá trình nóng lên toàn cầu và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu trong khi vẫn đáp ứng nhu cầu sử dụng năng lượng để phát triển của nhân loại.

Khoa học cho thấy để ngăn chặn những tác động tồi tệ nhất của biến đổi khí hậu và bảo tồn một hành tinh phù hợp cho sự sống, nhiệt độ toàn cầu phải giới hạn mức tăng không quá 1,5°C so với trước thời kỳ công nghiệp. Hiện tại, Trái đất đã nóng hơn khoảng 1,2°C so với cuối những năm 1800 và lượng khí thải vẫn tiếp tục tăng.

Để giữ mức nóng lên toàn cầu không quá 1,5°C (như đã nêu trong Thỏa thuận Paris), lượng khí thải phải giảm 45% vào năm 2030 và đạt mức phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050. Điều này đòi hỏi một cuộc cách mạng triệt để trong các phương thức sản xuất, tiêu thụ và di chuyển của con người.

Ngành năng lượng là nguồn phát thải khoảng 3/4 lượng khí nhà kính hiện nay và nắm giữ chìa khóa để ngăn chặn những tác động tồi tệ nhất của biến đổi khí hậu. Thay thế năng lượng gây ô nhiễm từ than, khí đốt và dầu bằng nguồn năng lượng tái tạo như gió hoặc Mặt trời sẽ làm giảm đáng kể lượng khí thải carbon.

Tính đến tháng 6/2024, 107 quốc gia, chiếm khoảng 82% lượng khí thải nhà kính toàn cầu, đã thông qua các cam kết phát thải ròng bằng 0 với thời hạn đạt mục tiêu khác nhau. Việt Nam đã phê duyệt Thoả thuận Paris về biến đổi khí hậu vào năm 2016, cam kết đạt Net Zero vào năm 2050.

Nhằm đáp ứng nhu cầu điện về dài hạn, đồng thời hướng đến thực hiện cam kết trên, mới đây Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết Chính phủ đã đề xuất cấp có thẩm quyền tái khởi động dự án điện hạt nhân, phát triển mạnh điện gió ngoài khơi.

Trong hai cuốn sách Thảm họa khí hậuNăng lượng: Lịch sử nhân loại từ than củi tới hạt nhân, các tác giả chỉ ra những ưu và nhược điểm của năng lượng hạt nhân, lý giải vì sao các quốc gia nên triển khai nguồn năng lượng này.

Điện hạt nhân là thiết yếu để tiến tới Net Zero

Trong Năng lượng: Lịch sử nhân loại từ than củi tới hạt nhân, Richard Rhodes so sánh: chuyển từ than đá sang khí đốt tự nhiên là quá trình khử carbon, còn từ than đá sang điện hạt nhân là khử carbon triệt để. Bởi lẽ khí đốt tự nhiên giảm được lượng CO2 khoảng một nửa so với đốt than; còn điện hạt nhân chỉ tạo ra khí nhà kính trong lúc xây dựng, khai thác, xử lý nhiên liệu, bảo trì và ngừng hoạt động – tương tự với điện Mặt trời. Điện hạt nhân và điện Mặt trời đều chỉ tạo ra khoảng 2% đến 4% lượng CO2 so với nhà máy nhiệt điện chạy than và khoảng 4% đến 5% so với nhà máy điện chạy bằng khí đốt tự nhiên.

Trong Thảm họa khí hậu, Bill Gates chỉ ra rằng không chỉ vượt trội về khả năng giảm thiểu carbon, điện hạt nhân còn được chứng minh là nguồn năng lượng được sản xuất hữu hiệu nhất trên một đơn vị vật liệu.

nang luong hat nhan anh 1

Biểu đồ minh họa đơn vị vật liệu cần để xây dựng nhà máy điện mặt trời, nước, gió, nhiệt điện, than đá, hạt nhân và khí tự nhiên trong sách Thảm họa khí hậu. Ảnh: Omega Plus/Fonos.

Cột trong biểu đồ của điện hạt nhân thấp đáng kể khi so với nguồn năng lượng từ Mặt trời, gió, nước, địa nhiệt. Điều này nghĩa là mỗi đơn vị vật liệu đầu tư cho xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân, ta nhận được nhiều năng lượng hơn so với các cách khai thác điện khác.

Hơn nữa, nhà máy điện hạt nhân có công suất ổn định hơn các nguồn năng lượng khác: không phải lúc nào cũng có Mặt trời chiếu sáng, không phải lúc nào gió cũng thổi, không phải lúc nào nước cũng đổ xuống các tua-bin của đập.

Richard Rhodes lấy ví dụ Mỹ vào năm 2016: các nhà máy điện hạt nhân có hệ số công suất trung bình 92,1%, tương đương với công suất hoạt động đạt mức 336 ngày mỗi năm. 29 ngày công suất còn lại dành cho công tác bảo trì.

Trong khi đó, hệ thống thủy điện đạt 38% công suất tối đa; tua-bin điện gió đạt 34,7%; trang trại điện Mặt trời chỉ đạt 27,2%. Ngay cả các nhà máy chạy bằng than hoặc khí đốt tự nhiên cũng chỉ tạo ra điện trong khoảng một nửa thời gian của năm.

Cũng với những dẫn chứng tương tự, Bill Gates khẳng định năng lượng hạt nhân tạo ra từ phản ứng phân hạch là “nguồn năng lượng không phát thải carbon duy nhất có thể cung cấp năng lượng ổn định cả ngày lẫn đêm, qua mọi mùa, ở hầu hết mọi nơi trên Trái Đất và đã được chứng minh là có thể triển khai trên quy mô lớn”.

Hiện nay tại Mỹ – quốc gia sản xuất điện hạt nhân lớn nhất thế giới, khoảng 20% điện năng đến từ các nhà máy hạt nhân. Pháp là nước có tỉ trọng điện hạt nhân cao nhất thế giới, chiếm 70% sản lượng điện.

Bill Gates cho rằng nếu không sử dụng năng lượng hạt nhân thì khó thấy được tương lai loại bỏ carbon khỏi lưới điện với giá cả phải chăng. Năm 2018, phân tích gần 1.000 kịch bản đạt Net Zero tại Mỹ, các nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ Massachusetts nhận thấy các trường hợp chi phí thấp nhất đều cần sử dụng một nguồn điện sạch và luôn sẵn có như năng lượng hạt nhân.

Chất vấn những quan ngại về điện hạt nhân

Tuy nhiên, điện hạt nhân hiện vẫn vấp phải nhiều tranh cãi và phản đối trên thế giới. Bên cạnh quan ngại về chi phí sản xuất – đầu tư và hiệu quả kinh tế, nổi bật hơn cả là lo lắng về vấn đề an toàn.

Chỉ trong hơn 40 năm, đã có 3 tai nạn hạt nhân khiến thế giới bàng hoàng. Sự cố Three Mile tại Pennsylvania (Mỹ) vào năm 1979 phá hủy lò phản ứng nhưng không phá hủy cấu trúc cách ly bằng thép và bê tông, chỉ phát tán lượng phóng xạ tối thiểu vào khí quyển.

Vụ tai nạn tại Chernobyl năm 1986, đã phá hủy lò phản ứng (lò này bị thiếu cấu trúc cách ly). Lò phản ứng cháy mất kiểm soát trong 14 ngày và phát tán lượng phóng xạ đáng kể vào không khí.

Thảm họa hạt nhân Fukushima (Nhật Bản) xảy ra vào tháng 3/2011 sau một trận động đất và sóng thần lớn. Sóng thần làm ngập hệ thống cung cấp điện và hệ thống làm mát của ba lò phản ứng, khiến chúng tan chảy và nổ tung, phá vỡ cấu trúc cách ly.

nang luong hat nhan anh 2

Sách Năng lượng: Lịch sử nhân loại từ than củi tới hạt nhân Thảm họa khí hậu.

Những vụ tai nạn kể trên đã hướng sự quan tâm với vấn đề hạt nhân chủ yếu tập trung vào mặt rủi ro. Tuy nhiên, cả Richard Rhodes và Bill Gates đều lập luận rằng nếu nhìn rộng ra, rủi ro an toàn của điện hạt nhân thấp hơn so với các nguồn năng lượng khác.

Theo báo cáo đệ trình lên Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) vào tháng 6/2011, không tìm thấy ảnh hưởng có hại cho sức khỏe với 195.345 cư dân sống ở khu vực lân cận của nhà máy Fukushima Daiichi sau khi họ được kiểm tra sức khỏe vào cuối tháng 5/2011. Tất cả 1.080 trẻ em xét nghiệm phơi nhiễm tuyến giáp cho thấy kết quả trong giới hạn an toàn.

Đến tháng 12, chính quyền kiểm tra sức khỏe cho khoảng 1.700 cư dân đã được sơ tán từ ba thành phố cho thấy hai phần ba đã bị phơi nhiễm phóng xạ bên ngoài trong giới hạn quốc tế bình thường là 1 mSv/năm, 98% là dưới 5 mSv/năm và mười người bị phơi nhiễm với hơn 10 mSv.

Không có sự phơi nhiễm lớn nào với cộng đồng, cũng không có ca tử vong nào do phóng xạ, nhưng có đến có 761 ca tử vong “liên quan đến thảm họa”, đặc biệt là người già phải rời bỏ nhà ở và bệnh viện vì lệnh sơ tán bắt buộc và các biện pháp phòng tránh phóng xạ khác.

“Trong tất cả công nghệ năng lượng quy mô lớn, ngành hạt nhân có số vụ tai nạn ít nhất và số người chết ít nhất”, Richard Rhodes viết. Tác giả trích dẫn một nghiên cứu năm 2007 trên tạp chí y khoa Lancet của Anh. Trong đó cho thấy các dự án điện hạt nhân dẫn đến nguy cơ tử nghiệp ở mức khoảng 0,019 mỗi TWh(47), phần lớn là ở giai đoạn khai mỏ, chạy tua-bin, và các giai đoạn tạo năng lượng.

Đây là con số nhỏ trong bối cảnh vận hành bình thường. Để dễ hình dung, một lò phản ứng bình thường đang vận hành ở Pháp sẽ sản xuất 5,7 TWh một năm. Tức là hơn 10 năm hoạt động liên tục mới xảy ra một tai nạn gây tử vong.

Bên cạnh đó, Richard Rhodes đưa ra những báo cáo dẫn chứng rằng những tai nạn và thiệt hại liên quan đến điện hạt nhân chủ yếu gây ra bởi lỗi trong vận hành quản lý, hơn là lỗi trong công nghệ và sử dụng.

Bill Gates ví von rằng tránh né năng lượng hạt nhân với lý do an toàn thì tương tự loại bỏ ôtô vì nguy cơ tai nạn. Mà theo ông, thực tế thì “Năng lượng hạt nhân gây thiệt hại nhân mạng ít hơn nhiều so với ôtô. Xét về khía cạnh này, nó gây ra ít cái chết hơn nhiều so với bất kỳ loại nhiên liệu hóa thạch nào”.

Do đó, ông khuyến khích con người cải thiện công nghệ hạt nhân, “giống những gì chúng ta đã làm với ôtô, bằng cách phân tích từng vấn đề và tiến hành giải quyết chúng bằng sự cải tiến”.

Khép lại công trình của mình, Richard Rhodes nhận định nhân loại sẽ cần tất cả nguồn năng lượng từ gió, năng lượng Mặt trời, thủy điện, hạt nhân, khí đốt tự nhiên nếu muốn hoàn thành mục tiêu khử carbon. Mỗi hệ thống năng lượng đều có ưu và nhược điểm riêng, nhưng có lẽ như Bill Gates nghĩ, quan trọng nhất là một kế hoạch cụ thể để phát triển các lưới điện mới – với khả năng cung cấp điện không carbon ổn định, giá cả phải chăng và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu sử dụng.

Đọc được sách hay, hãy gửi review cho Tri Thức – Znews

Bạn đọc được một cuốn sách hay, bạn muốn chia sẻ những cảm nhận, những lý do mà người khác nên đọc cuốn sách đó, hãy viết review và gửi về cho chúng tôi. Tri Thức – Znews mở chuyên mục “Cuốn sách tôi đọc”, là diễn đàn để chia sẻ review sách do bạn đọc gửi đến qua Email: [email protected]. Bài viết cần gửi kèm ảnh chụp cuốn sách, tên tác giả, số điện thoại.

Trân trọng.

Nguồn: https://znews.vn/tai-sao-can-dien-hat-nhan-post1511051.html

Tiếp tục đọc

Sách hay

Cuộc đời soi tỏ

Được phát hành

,

Bởi

Cuốn sách là một tuyển tập cảm động những cuộc gặp gỡ ngắn ngủi nhưng đầy riêng tư giữa một nhà phân tâm học và các bệnh nhân của ông. “Cuộc đời soi tỏ” tiết lộ nghệ thuật thấu hiểu có thể soi tỏ những trải nghiệm phức tạp, rối bời và rất “con người”.

Tôi đã điều trị cho những bệnh nhân trong các bệnh viện tâm thần, phòng khám tâm lý trị liệu, trung tâm trẻ em và thanh thiếu niên, phòng khám tư…

Trong hai mươi lăm năm qua, tôi làm nghề phân tâm học. Tôi đã điều trị cho những bệnh nhân trong các bệnh viện tâm thần, các phòng khám tâm lý trị liệu và tâm lý trị liệu pháp y, các trung tâm trẻ em và thanh thiếu niên, và cả phòng khám tư. Tôi đã gặp trẻ em, thanh thiếu niên và người trưởng thành để tham vấn, giới thiệu và trị liệu tâm lý một lần mỗi tuần.

Tuy nhiên, phần lớn tôi làm phân tâm học với người lớn – gặp gỡ một người trong năm mươi phút, bốn hoặc năm lần một tuần, trong suốt nhiều năm liền. Tôi đã dành hơn 50.000 giờ với các bệnh nhân. Chất liệu của công việc đó tạo nên chất liệu của cuốn sách này.

Tam ly anh 1
Ảnh minh họa.Nguồn: The Psych Professionals.

Các chương tiếp theo là những câu chuyện được rút ra từ công việc hằng ngày. Chúng có thật, tuy nhiên tôi đã chỉnh sửa mọi chi tiết nhận dạng vì mục đích bảo mật.

Lúc này hay lúc khác, phần lớn chúng ta từng cảm thấy bị mắc kẹt bởi chính suy nghĩ và hành động do mình tạo ra, bị cuốn vào những thôi thúc hoặc lựa chọn ngu ngốc của bản thân; bế tắc trong những bất hạnh hoặc sợ hãi; bị cầm tù bởi chính lịch sử của bản thân.

Ta cảm thấy không thể bước tiếp nhưng vẫn luôn tin rằng phải có một con đường. “Tôi muốn đổi thay, nhưng không muốn thay đổi”, một bệnh nhân từng nói với tôi với vẻ hoàn toàn “vô tội”. Vì công việc của tôi là giúp mọi người thay đổi, cuốn sách này nói về sự thay đổi. Và bởi vì thay đổi và mất mát có mối liên hệ sâu sắc – không thể thay đổi mà không có mất mát – nỗi mất mát ám ảnh cuốn sách này.

Triết gia Simone Weil miêu tả cách hai tù nhân trong phòng giam liền kề học cách nói chuyện với nhau bằng cách gõ lên tường trong một thời gian dài. “Bức tường chính là thứ ngăn cách họ, nhưng nó cũng là phương tiện giao tiếp của họ,” bà viết. “Mọi sự chia cắt đều là một kết nối”.

Cuốn sách này nói về bức tường đó. Về khát khao trò chuyện, thấu hiểu và được hiểu của chúng ta. Nó cũng là việc lắng nghe nhau, không chỉ là ngôn từ mà còn là khoảng cách giữa chúng. Những gì tôi miêu tả ở đây không diễn ra như một phép màu. Nó là một phần của đời sống hằng ngày – ta gõ, ta lắng nghe.

Nguồn: https://znews.vn/nha-phan-tam-hoc-danh-50000-gio-gap-benh-nhan-post1511767.html

Tiếp tục đọc

Sách hay

Hướng dẫn thực hành để tạo thiện cảm

Được phát hành

,

Bởi

Đọc Vị chính là khám phá các công cụ tạo thiện cảm khi giao tiếp, chẳng hạn như ngôn ngữ cơ thể; tông điệu của giọng nói; sự nhất quán giữa lời nói và hành động cho đến mức năng lượng khi đưa ra ý kiến cá nhân. – Tải ngay ứng dụng Voiz FM tại: voiz.vn/download để nghe trọn vẹn nội dung sách!

Đọc Vị chính là khám phá các công cụ tạo thiện cảm khi giao tiếp, chẳng hạn như ngôn ngữ cơ thể; tông điệu của giọng nói; sự nhất quán giữa lời nói và hành động cho đến mức năng lượng khi đưa ra ý kiến cá nhân. – Tải ngay ứng dụng Voiz FM tại: voiz.vn/download để nghe trọn vẹn nội dung sách!

Henrik Fexeus anh 1Henrik Fexeus anh 2

Hướng dẫn thực hành để tạo thiện cảm

Đọc Vị chính là khám phá các công cụ tạo thiện cảm khi giao tiếp, chẳng hạn như ngôn ngữ cơ thể; tông điệu của giọng nói; sự nhất quán giữa lời nói và hành động cho đến mức năng lượng khi đưa ra ý kiến cá nhân. – Tải ngay ứng dụng Voiz FM tại: voiz.vn/download để nghe trọn vẹn nội dung sách!

Nghệ thuật Đọc vị bất kỳ ai

Nguồn: https://znews.vn/nghe-sach-nghe-thuat-doc-vi-bat-ky-ai-biet-nguoi-biet-ta-tram-tran-tram-thang-post1510522.html

Tiếp tục đọc

Xu hướng