Connect with us

Văn mẫu 10

Cảm nhận về bài ca dao “Khăn thương nhớ ai,…”

Trong nền văn học Việt Nam từ thời xa xưa cho đến nay, cũng như rất nhiều thể loại từ: ca dao, tục ngữ, thơ ca… cho đến văn xuôi đều có vô vàn những đề tài thú vị, nó gợi lên rất nhiều cảm xúc ngọt ngào, tâm tư tình cảm của ông cha ta, những con nguời sống bình dị với tình yêu quê huơng đất nuớc, tình cảm giữa nguời với nguời, với những hình ảnh đặc trưng cho những nguời nông dân. Đặc biệt hơn, tình yêu đôi lứa là đề tài muôn thuở, những bài thơ, ca dao mang đậm âm huởng tình yêu đôi lứa của nguời xưa nhưng luôn gắn liền với đất nuớc, với gia đình. Bài thơ “Khăn thuơng nhớ ai” cũng vậy, nói đến tình yêu, niềm thuơng nhớ của cô gái, nhớ đến da diết cồn cào mà không dễ dàng bộc lộ phải gửi gắm niềm nhớ ấy vào chiếc khăn, những câu hỏi như nén chặt nỗi thuơng nhớ vào trong.

Không phải tự nhiên bài ca dao này được người ta nhớ đến với tên gọi “Khăn thương nhớ ai”. Hình ảnh chiếc khăn ấy không chỉ là biểu tượng khởi nguồn cho nỗi nhớ thuơng của cô gái mà còn là hình ảnh được lặp lại nhiều nhất với nhiều tình huống khác nhau. Mở đầu bài ca dao, tác giả đã nói đến nỗi nhớ thương ai đó của cô gái.

Khăn thương nhớ ai?

Khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai

Khăn thương nhớ ai?

Khăn chùi nước mắt

Trong xã hội phong kiến, phụ nữ luôn là tầng lớp duới, thấp cổ bé họng, kêu không ai nghe, than cũng không ai thấu. Bởi vậy họ chỉ biết gửi những dòng tâm sự, nỗi lòng ấy qua từng lời ca như xé ruột. Dễ cho chúng ta thấy, khăn là vật dụng rất quen thuộc đối với con người, nhất là đối với nguời phụ nữ. Trong những câu thơ trên, hình ảnh chiếc khăn lại được lặp đi lặp lại nhiều lần như điệp khúc nhớ thương triền miên, da diết. Đối với những đôi lứa yêu nhau, khăn là vật gần gũi, là vật trao duyên giữa đôi trai gái. Ở đây, chiếc khăn là hình ảnh được nhân hoá, từ vật thể vô hồn trở nên có tâm trạng, biết đau, biết nhớ, biết vui, biết buồn và là đối tuợng để cô gái có thể thể hiện được tình cảm, cảm xúc của mình. Ba lần hỏi “khăn thương nhớ ai” mỗi lần nỗi nhớ lại càng dâng trào, ngổn ngang trăm mối, bao trùm khắp không gian: rơi xuống đất, vắt lên vai. Nguời xưa có câu “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” và với cao độ là khi chiếc khăn giúp cô gái dấu đi những giọt nước mắt thầm khóc. Sáu dòng thơ đuợc tác giả sử dụng với đa số thanh bằng gợi nỗi niềm bâng khuâng da diết đậm màu sắc nữ tính, đầy kín đáo nỗi nhớ thương. Sau khi mượn hình ảnh khăn để nói lên nỗi niềm ấy, cô gái lại tiếp tục thể hiện nỗi niềm qua hai thứ quen thuộc gắn liền với khuôn mặt:

Đèn thương nhớ ai

Mà đèn không tắt

Mắt thương nhớ ai

Mắt ngủ không yên

Tác giả vẫn sử dụng biện pháp nhân hoá nhưng ở hình ảnh cây đèn này nỗi nhớ được trải dài theo thời gian. Hình ảnh đèn không tắt chính là hình ảnh ngọn lửa thương nhớ luôn đang cháy rực trong tim. Người con gái đang trằn trọc trong đêm nhớ thương đằng đẳng. Hình ảnh cuối cùng đuợc nhắc đến lại trở thành biểu tượng gần gũi nhất nói lên nỗi niềm tâm trạng cô gái là đôi mắt. Dù những câu hỏi đặt ra với chiếc khăn, ngọn đèn là sự phân thân trong tâm trạng cô gái nhưng đó vẫn chỉ là cách gián tiếp nhưng nỗi nhớ thì cứ da diết, cứ bồn chồn và đến lúc không thể kìm nén. Cô gái đã hỏi mình, trực tiếp bộc lộ nỗi lòng qua đôi mắt. “Mắt ngủ không yên” tạo nên sự đối xứng đẹp với “đèn không tắt” ở trên, hình ảnh đã gợi lên khung cảnh rất thực: một cô gái giữa đêm khuya đối diện với ngọn đèn mà nhớ đến người thương. Vì “mắt ngủ không yên” nên “đèn không tắt”. Nói đến đèn cũng chỉ nhắc đến người thương ấy mà thôi. Ngọn đèn chiếu vào đôi mắt, càng thấy nỗi thương nhớ vời vợi khôn nguôi. Mười câu thơ cùng năm câu hỏi không lời đáp. Điệp khúc thương nhớ ai trở đi trở lại như xoáy vào nỗi niềm da diết. Năm lần thương nhớ và năm lần từ “ai” xuất hiện. Từ “ai” mang ý phiếm chỉ, gợi lên một nỗi nhớ thương sâu thẳm không giới hạn. Từ “ai” không xác định cụ thể đối tượng, nhưng người nghe hiểu được “ai” là ai. Hỏi không có câu trả lời, nhưng thực câu trả lời đã nằm trong giọng điệu câu ca kia. Không cần nói rõ, không quá cầu kì nhưng nỗi nhớ đã được bộc lộ một cách kín đáo, gợi cảm, sâu sắc, mãnh liệt. Kết thúc bài ca dao là hai câu thơ:

Đêm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi không yên một bề

Từ nhịp thơ bốn chữ dồn dập và gây rung động lạ kỳ chuyển sang lục bát nhẹ nhàng và xao xuyến, bởi lẽ, cô gái một mực thương nhớ người yêu vẫn biết lo lắng cho số phận trái ngang của mình. Chỉ với những dòng thơ ngắn mà bao cảm xúc được dồn nén chất chứa đuợc thể hiện. Cảm xúc của nhân vật cô gái không sử dụng những động từ mạnh để biểu đạt nhưng với những hình ảnh lặp lại và với tình cảm chất chứa trong đó được gửi gắm bao điều đẹp đẽ cũng như tâm lý chung của trai gái trong tình yêu.

Bài ca với những lời lẽ bình dị, mộc mạc nhưng chân thành và sâu sắc. với sự lặp lại để diễn tả tâm trạng, những hình ảnh biểu tượng, phép nhân hoá đuợc sử dụng triệt để để tăng thêm sức sống cho hình ảnh, lối gieo vần linh hoạt, cấu tạo truyền thống kết hợp thơ bốn chữ với hai câu lục bát. “Khăn thương nhớ ai” đã lột tả được tâm trạng nhớ thương nguời yêu da diết khôn nguôi của nguời phụ nữ xưa dù rất kín đáo, ý nhị và nhẹ nhàng.

Đọc tiếp
Quảng Cáo

Văn mẫu 10

Phân tích 18 câu thơ đầu bài Trao duyên hay nhất

Gợi ý cho học sinh lớp 10 phân tích 18 câu thơ đầu bài Trao duyên của đại thi hào Nguyễn Du. Đón xem và nhớ nêu ý kiến riêng của mình về bài viết sau đây nhé.

Bài văn phân tích 18 câu đầu Trao duyên

Từ trước đến nay “trao duyên” thường mang sắc thái tình cảm; là dấu hiệu của niềm vui mừng; hạnh phúc của đôi lứa dành cho nhau ấy thế nhưng trong văn học xưa lại có cái “trao duyên” đầy đớn đau, bẽ bàng. Đó là cảnh trao duyên của chị em Thúy Kiều, Thúy Vân. Bằng ngòi bút đặc tả, Nguyễn Du đã vẽ nên một bức tranh thấm đẫm nước mắt.

Đoạn trích “Trao duyên” trải dài từ câu 723-756 của bài thơ kể về cuộc đời gian truân; kiếm đoạn trường; gia biến và lưu lạc của cô gái tài sắc Thúy Kiều. 18 câu thơ đầu của đoạn trích như tiếng nấc lòng nghẹn ngào đầy u sầu của Thúy Kiều khi gửi lại tấm chân tình của mình nhờ em là Thúy Vân nối tiếp cùng Kim Trọng:

Giữa hàng vạn người trong cõi nhân gian, con người ta có cơ duyên may mắn mới tìm được đến với nhau, đồng điệu cùng nhau. Duyên phận là mối keo tơ giữa đôi nam nữ đã được ấn định rõ ràng, ràng buộc về quan hệ tình cảm chẳng thể dễ dàng chuyển giao. Bởi lẽ đó Thúy Kiều đã tỏ ra thận trọng, ngần ngại khi gửi gắm lại cho cô em gái Thúy Vân:

Cậy em em có chịu lời

Ngồi lên cho chị lạy rồi hãy thưa”

Thúy Kiều là bậc bề trên thế nhưng khi mở lời muốn gửi gắm chuyện tình cảm cho cô em gái nàng lại dùng những từ ngữ có sức biểu đạt đầy trân trọng. “cậy” thể hiện độ tin tưởng, trông mong nhất nhất rằng chỉ có Thúy Vân mới có thể giúp được mình; từ “chịu” xuất hiện cuối câu vừa mang ý nghĩa nghi vấn lại vừa thể hiện sự ràng buộc, bắt buộc. Cả câu thơ ngắt nghỉ nhấn nhá với những câu từ trang nghiêm đã thu hút sự chú ý của Thúy Vân về câu chuyện của chị. Khi em đã thấu hiểu nỗi lòng chị, Thúy Kiều lại tha thiết:

Ngồi lên cho chị lạy rồi hãy thưa”

Thúy Kiều bảo rằng Thúy Vân hãy ngồi lên cho mình “lạy” rồi “thưa”. Ở đây dường như ta thấy có sự mâu thuẫn. Thúy Kiều là chị Thúy Vân, xét về vai vế Thúy Kiều ở đằng trên cớ sao lại phải hành lễ và kính cẩn với Thúy Vân. Điều đặc biệt trong ngụ ý của tác giả có lẽ phải chăng ở chính chỗ này. Đặt trong ngữ cảnh ấy hành động của nàng Kiều không hề phi lí mà hoàn toàn phù hợp. Bởi nàng chẳng còn sự lựa chọn nào khác là nhờ chính em gái ruột của mình, chịu ơn huệ lớn từ em đồng thời hành động ấy cũng lột tả sự khó xử, đầy éo le của cả chị và em Thúy  Kiều. Thúy Kiều thì khó mở lời còn Thúy Vân lại chẳng thể khước từ trước lời nhờ cậy thiết tha của chị. Và Thúy Vân từ đây có lẽ rằng đã ngờ ngợ hiểu ra câu chuyện hệ trọng mà chị mình sắp đề cập đến.

Khi đã được Thúy Vân thấu hiểu, Thúy kiều bắt đầu bày tỏ:

Giữa đường đứt gánh tương tư

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”

Thì ra câu chuyện Kiều nhờ cậy em là mong em sẽ thay mình nối duyên với Kim Trọng. Há sao nó lại là chuyện hệ trọng đến như thế. Bởi nó là chuyện tình cảm đời đời kiếp kiếp; là “gánh tương tư”- ám chỉ nghĩa vụ; bổn phận; trách nhiệm trong tình yêu của Thúy Kiều đối với Kim trọng nhưng giờ đây nàng lại chẳng thể thực hiện được mà phải nhờ đến em, cậy đến em, mong rằng em sẽ thay mình trả đủ nghĩa đủ tình cho chàng Kim. Và rằng Thúy Kiều buông câu “mặc” như vừa để em tùy lòng quyết định, chữ “mặc” ở đây lại vừa là sự phó mặc. Thúy Kiều đã đặt Thúy Vân vào sự lựa chọn không thể chối từ.

Biết rằng trao đi nghĩa tình này cho em là làm khó em và trong lòng em cũng dấy lên nhiều đắn đo, suy nghĩ nên Thúy Kiều đã đưa ra những lý do để thuyết phục em:

“Kể từ khi gặp chàng Kim ,

Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.

Sự đâu sòng gió bất kỳ,

Hiều tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?

Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ, thay lời nước non.”

Thúy  Kiều kể lại rằng giữa mình với Kim Trọng đã trót thề non hẹn biển Thời xưa, lời thề nguyền đặc biệt là thề nguyền đôi lứa có giá trị vô cùng, sắt son, khắc sâu ân tình nghĩa đậm hai bên, mãi mãi chằng chia lìa. Lời thề giống như linh hồn, phẩm giá mỗi người. Ước thề là chất keo dính chặt hai con người. Thế nhưng vì hoàn cảnh éo le, vì gia đình có biến cố vì chữ hiếu mà Thúy Kiều lại đành hi sinh chữ tình, chẳng thể thực hiện tròn cái ước hẹn với chàng để bảo vệ cho cha mẹ, gia tộc. Nhưng Kiều không muốn bội tin, không muốn chàng vì mình đau khổ nên đành nhờ em gái mình tin tưởng thay mình nối tiếp hẹn ước chăm sóc cho chàng. Kiều khéo léo cậy lời:

Ngày xuân em hãy còn dài

Xót tình máu mủ thay lời nước non”

Thúy Kiều dường như hiểu sự băn khoăn, chơi vơi trong tình cảm em. Thúy Kiều biết rằng em đắn đo vì đó là hạnh phúc cả đời. Nàng vỗ về rằng Thúy Vân còn trẻ, ngày xuân còn dài thời gian còn nhiều, Kim Trọng lại là người đàn ông tốt, sau này còn có nhiều cơ hội để vun vén tình cảm, há chăng còn sợ chi “mối tơ thừa”. Thúy Vân hãy vì tình chị em ruột thịt thăm thiết, vì hi sinh báo hiếu của chị mà hãy chấp nhận lời nguyện xin này của Thúy Kiều. Trao duyên cho Thúy Vân, để Thúy Vân cùng Kim Trọng đi suốt quãng đường bình yên còn lại phải chăng Thúy Kiều cũng đã và đang làm tròn nốt bổn phận của người chị, tìm cho em một bến đỗ an toàn, hạnh phúc, một cuộc sống hôn nhân êm đềm tốt đẹp trước khi mình đi xa. Nỗi lòng người chị cả biết lo toan, thấu hiểu mọi bề.

Tình cảm của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng như khắc sâu vào từng ngóc ngách trong tâm hồn nàng. Bởi thế trao mối tơ duyên này, trong lòng Kiều đầy dằng xé, đớn đau:

“Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”

Trao người đàn ông mình yêu thương, trao tình cảm mặn nồng lại cho em chăm sóc, điều này như bòn rút hết sức lực, tâm hồn Thúy Kiều. Nàng giống như một cái xác không hồn; thấy sự sống của mình như vô nghĩa; như đã chấm dứt : “thịt nát xương mòn’; “ chín suối” . Ơn tình dành cho Thúy Vân vẫn sáng tỏ; dù nơi chín suối Thúy Vân vẫn mỉm cười, vẫn thấy an ủi và vui lòng khi em mình đã thay mình sống cho tròn cái nghĩa cái tình, không phụ sự kỳ vọng của chị. Tuy rằng Thúy Kiều cho em thấy sự an lòng nhưng có lẽ đằng sau đó là một tâm hồn đau khổ, bẽ bàng, đớn đau đến tột cùng của Thúy Kiều khi phải dứt bỏ mối nhân duyên tươi đẹp của mình.

Khi Thúy Vân đã an lòng phần nào Thúy Kiều trao lại kỷ vật đính ước cho em và tha thiết dặn dò em:

“Chiếc thoa với bức tờ mây

Duyên này thì giữ, vật này của chung.

Dù em nên vợ nên chồng,

Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên!

Mất người còn chút của tin,

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

Đây có lẽ là thời khắc khó khăn nhất đối với Kiều. Bởi lẽ những kỉ vật là kỉ niệm gắn bó; lưu dấu; là minh chứng rõ nét cho tình cảm đậm sâu của Kiều và Trọng. Đó la chiếc vành– là chiếc vòng tay Trọng tặng cho Kiều cái lần đầu tiên ấy, làm vật tin ước hẹn; đó là bức tờ mây ghi tạc những lời thề non ước hẹn trăm năm đầu bạc của đôi nam thanh nữ tú và là phím đàn đêm trăng thanh cất lên khúc nhạc cho bản tình ca Kim Kiều;…Những kỉ vật như gợi lại mối tình ngọt ngào đầy hạnh phúc của Kim Trọng và Thúy Kiều. Càng hạnh phúc lại càng bẽ bàng xót xa. Nhịp thơ ngắt nghỉ như tiếng thở dài đầy bịn rịn xen chút tiếc nuổi của Kiều khi đặt vào tay em những món kỉ vật vốn đã trở thành thói quen gắn bó với mình. Và rồi rằng cũng có mong muốn nhỏ nhoi dấy lên trong lòng Kiều, “Duyên này thì giữ, vật này của chung”. Duyên này kiều trao cho Vân nhưng xin Vân hãy cho những tín vật này là của chung của chúng ta, xin em hãy cho chị chút ích kỷ để được cùng Vân cùng Trọng sở hữu kỉ vật này. Mối tình dù có trao duyên đi nhưng cũng không thể dứt hẳn. Và chính Kiều cũng không thể phủ nhận được chính cảm xúc trái ngang này của bẩn thân, đầy quyến luyết và xót xa trăm bề.

Ngẫm lại quãng thời gian đã qua Kiều thương thay thân mình, cho rằng mình là người “mệnh bạc”, cái chết vẫn luôn thường trực đau đáu trong suy nghĩ của nàng “mất người”.  Mỗi lời nói mỗi hành động của Kiều như chứa chan hàng vạn con dao gim chặt vào tim nàng, nước mắt chảy lệ ướt mi. Lòng cô gái đôi mươi ấy như đang dấy lên ngàn cơn bão tố phong ba của sự xót xa, tủi hờn. Thúy Kiều đã hi sinh đi hạnh phúc cá nhân để làm tròn đạo hiếu, gánh gồng an yên gia đình, Thúy Kiều đã làm tròn cái đạo làm con và cả cái nghĩa với người thương.

Với 18 câu thơ đầu đoạn trích Trao duyên ta thấy Nguyễn Du xứng đáng là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ. Bằng ngòi bút khéo léo, tinh tế Nguyễn Du đã sai khiến đội quân ngôn ngữ của mình một cách điêu luyện, hòa hợp, để có thể bóc trần, lột tả trân thực cung bậc cảm xúc phức tạp đang ẩn dấu, dằng xé trong nỗi lòng mỗi nhân vật. Thúy Kiều trao duyên nhưng chẳng trao tình; tình cảm với Kim Trọng vẫn được nàng lưu giữ, trân trọng. Từ đây, Nguyễn Du đã đem đến cho độc giả cai nhìn đúng đắn đầy nhân văn cao đẹp về tình yêu: Yêu là để người mình yêu hạnh phúc, yêu là trọn vẹn và thủy chung sắt son một lòng. Tình yêu trân thành là bất tử và trường tồn.

Cứ ngỡ một con người tài sắc vẹn toàn, mười phân vẹn mười như Kiều sẽ được sống một cuộc sống êm đềm, hạnh phúc thế nhưng lại trớ trêu thay, cuộc đời Kiều lại nổi trôi vô định đến xót lòng. Và phải chăng đó cũng là lời than thân chung cho số phận những người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa? Và phải chăng mọi sóng gió mới chỉ là bắt đầu, trang sách giông tố cuộc đời nàng mới chỉ bắt đầu từ hôm nay..

Ngoài ra bạn có thể xem thêm Phân tích 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên”

Tiếp tục đọc

Văn mẫu 10

“Điểu minh giản” – Một bài thơ thiền đặc sắc của Vương Duy

1. Học giả Lâm Ngữ Đường (Trung Quốc) đã từng nói: “Thơ có nhiệm vụ thay thế tôn giáo, nghĩa là nhiệm vụ làm cho tâm hồn thanh khiết, cảm nhận được cái đẹp của vũ trụ và khiến cho con người cảm hoá được sinh vật”. Nói thế nghĩa là thơ có những điểm gặp gỡ, đồng điệu với tôn giáo. Điều này thể hiện rất rõ trong những bài thơ Thiền. Thơ và Thiền gặp nhau trong trực giác và cảm nhận của tri thức “Thơ và Thiền từ Đông sang Tây trợ duyên nhau mà làm nên những bài thơ siêu việt. Phương Đông xưa nay là quê hương, xứ sở của Thiền”[1]. Trong văn học Trung Quốc từ đời Đường cho cuối đời Thanh, có một nguồn thơ Thiền đặc sắc (thể hiện trí tuệ giác ngộ – tinh thần Bát-Nhã-Ba-La-Mật) trong đó sáng tác của thi Phật Vương Duy (701-761) là một đỉnh cao. Một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật đậm chất Thiền của ông chính là thi phẩm Điểu minh giản (Khe chim kêu). Bài thơ đã được đưa vào chương trình Ngữ văn 10 (tập 1, NXB Giáo dục, 2006):

Phiên âm:

Nhân nhàn hoa quế lạc,

Dạ tĩnh xuân sơn không.

Nguyệt xuất kinh sơn điểu,

Thời minh tại giản trung.

Dịch nghĩa:

Người nhàn, hoa quế rụng,

Đêm yên tĩnh, non xuân vắng không.

Trăng lên làm chim núi giật mình,

Thỉnh thoảng cất tiếng kêu trong khe núi.

Dịch thơ:

Người nhàn hoa quế nhẹ rơi,
Đêm xuân lặng ngắt trái đồi vắng tanh.

Trăng lên, chim núi giật mình,

Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi.

(Ngô Tất Tố dịch)

2. Thơ Thiền thể hiện tư tưởng Phật giáo nhưng có những đặc sắc riêng. Thiền là tĩnh lặng, trầm lắng để tâm hồn siêu thoát, vượt thế tục đi vào cõi riêng của tuệ giác; ngược lại, thơ thuộc về tâm tưởng chủ quan của thi sĩ, là “lời nói trong” (chữ dùng của Chu Hy ) của chính nhà thơ. Thiền và thơ nằm trong cái thế giới siêu hình, giải thoát con người ra khỏi vô minh. Chính vì vậy, có người ở đời Đường khi lý giải về thơ đã kết luận “Thi thị khả giảng bất khả giảng chi gian” có nghĩa thơ có cái giảng được và có cái không thể giảng được. Thơ đôi khi trở thành vô ngôn, nhưng đến một lúc nào đó khi tâm tĩnh tại có thể nhận ra được, cảm nhận được, hiểu thấu được thì lúc đó, Thiền và Thơ gọi là Ngộ và Nhận “Đó là tâm thức và trí tưởng của ta đủ khả năng giúp ta sáng tạo những gì mà ta nhận thức” (G. Bachelard). Trọng tâm của thơ là cảm xúc hơn là suy tưởng, còn thiền là thức tỉnh để nhận thức “Thi ca không có hình ảnh thì không còn là thi ca nữa cũng như đi vào suy luận siêu hình thì thiền không còn là thiền nữa”[2]. Nhưng nếu có ý thức tôn giáo hay tâm thức thiền thì người nghệ sĩ nói chung, trong một giây phút tình cờ nào đó có thể bộc lộ tâm thức thiền hay ý thức tôn giáo của mình qua sáng tạo tinh thần của chính họ. Vì thế đọc thơ Thiền không dễ, cần một phương pháp tiếp cận khác với phương pháp thông thường (phương pháp truyền thống, phân tích nhân vật trữ tình, phương pháp tiểu sử, phân tâm học, phản ánh luận, cấu trúc luận,…). Tất cả vạn vật đang hiện hữu, nó là “không”. Ý niệm “không” không phải là hư vô, mà là trạng thái vượt qua nhị nguyên tử – sinh, vượt qua hữu – vô, vuợt qua sắc tướng. Thơ Thiền có khi thể hiện cái nhìn hành đạo của Kinh Hoa Nghiêm: tất cả đều là Phật, tất cả đều là pháp. Thế giới quan của Thiền tông nói như thiền sư Pháp Bảo: “Vạn là sự tản ra của một, một là nguồn gốc của vạn”. Đọc thơ Thiền, người đọc sẽ nhận ra những tư tưởng căn bản trên, nơi sự chứng ngộ của các Thiền sư. Vì thế thơ Thiền trước hết là thơ tư tưởng, không phải là kiểu thơ phản ánh hiện thực hay thơ giãi bày tâm trạng. Khi tư tưởng Thiền được hình tượng hoá, nghệ thuật hoá thì mới gọi là thơ. Độc giả chín muồi tâm thức Thiền nhận ra được cái gọi là ‘tâm hoa nở” trong thơ (Thơ yếu tự phát kỳ tâm hoa) thì mới “đồng thanh tương ứng” để tiếp nhận thơ thiền.

3. Vương Duy tự Ma Cật, là nhà thơ kiêm hoạ sĩ nổi tiếng đời Đường. Ông để lại hơn bốn trăm bài thơ. Thơ ông hiện lên hình tượng con người nhàn nhã, cảnh sắc thiên nhiên yên tĩnh, trong sáng. Đó chính là sự thể hiện màu sắc thanh tịnh vô vi, “vô sinh bất tử”, nhàn tâm của đạo Phật. Tô Thức đời Tống khi đọc thơ Vương Duy đã nhận xét: “Vi Ma Cật chi thị, thi trung hữu hoạ, quan Ma Cật chi hoạ, hoạ trung hữu thi” (Thưởng thức thơ Ma Cật, thấy trong thơ có hoạ, xem hoạ Ma Cật, thấy trong hoạ có thơ). Thế giới Thiền thi của Vương Duy là một nghệ thuật kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn giữa thơ và hoạ, giữa Phật giáo và Lão giáo, là sự dung hợp Thiền – Thơ. Điểu minh giản là một bài thơ xinh xắn, bình dị nhưng hàm chứa nhiều ý vị thâm trầm của Thiền học. Bài thơ được làm theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt, chỉ vẻn vẹn hai mươi chữ nhưng ý nghĩa của bài thơ không hạn định trong khuôn viên câu chữ của nó.

Cả bài thơ là một bức tranh phong cảnh nhuốm tình người:

Nhân nhàn hoa quế lạc,

Dạ tĩnh xuân sơn không.

Nguyệt xuất kinh sơn điểu,

Thời minh tại giản trung.

Tất cả cảnh vật được thu vào bên trong. Những hình ảnh xuất hiện trong bài thơ: hoa quế, ánh trăng, núi non, khe suối, chim kêu,.. là những hình ảnh quen thuộc trong thơ ca phương Đông nhưng ở đây lại có sức ám gợi lạ thường, sâu xa. Nói như Nguyễn Văn Hạnh: “Tính biểu tượng của thiên nhiên trong bài thơ không phải ở những hình ảnh đơn lẻ mà ở sự tương tác hài hoà giữa chúng (…). Màu thiền của bài thơ nằm khuất lấp giữa các dòng thơ, ẩn mình đằng sau cảnh sắc, trong cái tĩnh lặng của hồn người”[3]. Bởi vậy bài thơ tạo cảm giác tĩnh lặng, thanh nhã, bình đạm. Thế giới nghệ thuật của nó là một phức hợp cộng hưởng, giao hoà giữa: người và cảnh, âm thanh và ánh sáng, thính giác – thị giác – khứu giác và xúc giác, không gian và thời gian. Trong thơ Trần Nhân Tông ta cũng bắt gặp sự giao hoà này:

Bán song đăng ảnh mãn sàng thư

Lộ trích thu đình dạ khí hư

Thuỵ khởi châm thanh vô mịch xứ

Mộc Tê hoa thượng nguyệt lai sơ

Dịch thơ:
Đèn soi nửa cửa, sách đầy giường

Đêm vắng sân thu lác đác sương

Thức dậy đâu đây chày đập vải

Trên bông hoa Quế, ánh trăng non.

(Nguyệt – Trần Nhân Tông)

Ở đây, thiên – nhân – địa cùng hợp nhất. Mọi vật đều có linh hồn. Cảnh vật thiên nhiên trong tứ thơ của Điểu minh giản ảnh hưởng tư tưởng thiền “có có không không” hết sức sâu đậm, tạo thành một cảnh giới linh hoạt, huyền ảo, yên tịnh, vắng lặng đến nhiệm mầu. Con người, vũ trụ là một, “tất cả tức một, một tức tất cả”. Tác giả mượn cảnh sơn thuỷ hữu tình để truyền tải đến độc giả một cảnh giới “thong dong tự tại, tĩnh lặng trong lành” có cội nguồn gốc rễ tự trong tâm. Đó là bức tranh tâm cảnh. Đỗ Phủ trong bài thơ Giải muộn từng gọi Vương Duy là cao nhân Vương Hữu Thừa. Vương Xương Linh thì nói: “Thân ở thế gian nhưng tâm thì vượt thoát thế gian”. Nhận xét đó thật đúng với bài thơ này.

Hai câu đầu đã thể hiện hình ảnh con người sống trong cảnh nhàn hạ “người nhàn”- đó là cuộc sống của người ẩn sĩ nơi điền viên sơn thuỷ để hoà mình, giao cảm với thiên nhiên. Theo Lại Quang Nam: “Người nhàn là một danh từ “song lập”, là một bậc trong đạo ở ẩn, từ dùng để chỉ lớp người đã gác mọi ràng buộc phiền não của xã hội đương thời, đi tìm sự yên tĩnh trong tâm hồn”. Ở đây có sự giao hoà, giao cảm một cách tự nhiên giữa người và cảnh. Trong đêm tĩnh lặng, thi nhân nghe được tiếng hoa quế rơi. Hoa quế là loài hoa màu trắng, có hương thơm và rất nhỏ, khi rụng rơi rất khẽ. Vậy mà con người cũng nghe được. Cái động nhỏ bé, mong manh ấy khiến ta liên tưởng đến “Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” trong thơ Trần Đăng Khoa. Tâm hồn thi nhân nhạy cảm vô cùng! Lắng nghe được âm thanh đó không phải chỉ vì cảnh đêm mùa xuân nơi núi non yên tĩnh mà còn vì tâm hồn nhà thơ cũng đang tĩnh lặng! Tâm hồn nhà thơ chiếu ứng ra cảnh: Dạ tĩnh xuân sơn không. Sự kết hợp của ba từ: lạc (rụng), tĩnh (vắng lặng) và không (vắng không) vừa gợi sự tịch mịch của cảnh đêm nơi rừng núi, vừa phảng phất nỗi buồn man mác, cô tịch. Cảnh hàm chứa sự quán chiếu của Vương Duy về các vấn đề vô thường, vô ngã! Nó diễn tả cái quan niệm sắc sắc không không của đạo Phật. Bản dịch thơ của Tương Như trong SGK Ngữ văn 10: “Đêm xuân núi vắng teo”, đã đánh mất chữ tĩnh, là chữ quan trọng làm nổi bật cái tĩnh lặng trong bài thơ!

Hai câu thơ cuối dường như có sự chuyển dịch từ không gian tĩnh và tối (hai câu đầu) sang động, sáng rõ hơn. Đó là sự xuất hiện của ánh sáng: “nguyệt xuất” (trăng lên) và âm thanh: chim núi cất tiếng kêu. Nhưng ánh sáng và âm thanh càng tô điểm thêm cho vẻ tĩnh lặng của cảnh vật, cho Dạ tĩnh xuân sơn không. Trong thời gian đêm xuân, ánh trăng huyền ảo lung linh dàn trải khắp núi non làm cho không gian thêm rộng và huyễn hoặc, mơ hồ, vắng lặng (sơn không). Ánh sáng lan toả cũng làm kinh động đến chim núi, làm chim núi bừng tỉnh, “giật mình” thảng thốt! Chim núi giật mình bởi ánh trăng hay “giật mình” bởi màn đêm quá tĩnh lặng? Đó không phải đơn thuần là sự bừng sáng của ánh trăng chiếu ứng lên cảnh vật, tác động đến trạng thái của chim núi mà còn là sự thảng thốt, bừng ngộ trong tâm hồn thi nhân. Ý thơ và tình thơ thật tinh tế! Nhà thơ mới Hằng Phương của văn học Việt Nam dường như cũng đã tiếp thu một cách sáng tạo ý thơ của các nhà thơ Đường với câu thơ: Sáng trưng mái ngói nhà ai/ Đôi chim ngỡ buổi ban mai giật mình. Nhưng ý tình trong thơ thi Phật hàm súc, cô đọng hơn nhiều! Âm thanh: tiếng chim thỉnh thoảng cất tiếng kêu trong khe núi điểm xuyết vào cái nền không gian ấy càng làm cho không gian tĩnh lặng hơn “Có cái gì đó mơ hồ như bóng đêm, lạnh lùng như ánh trăng khuya làm độc giả rơi vào một trạng thái hư vô. Đầu óc không còn bị vướng bận bởi những vòng tục luỵ nữa. Cảm xúc tuy vô định nhưng siêu thoát, thoải mái vô cùng”. Tĩnh từ tâm hồn thi nhân lan đến cảnh. Động xuất phát từ tĩnh, nhờ động mà ta càng thấy tĩnh. Tất cả vạn vật đều cảm ứng với nhau, có mối liên hệ mật thiết với nhau một cách vô hình; đặc biệt cảnh vật vào thời điểm đêm xuân càng dễ khơi gợi nhiều nỗi niềm bâng khuâng, nhiều xúc cảm vô định trong lòng người. Nổi bật trong bức tranh sơn thuỷ hữu tình, giàu sức gợi, nên thơ và tĩnh lặng đó là hình ảnh một tao nhân mặc khách – một ẩn sĩ muốn thoát khỏi mọi hệ luỵ của chốn bụi trần để “tịnh tâm”. Vương Duy chịu ảnh hưởng Thiền học rất sâu đậm, “không tịnh” là cảnh giới ông ra sức để đạt được ở trong thơ. Đó cũng chính là sự “bừng ngộ” trong tâm hồn ông. Vì vậy, cái khoảng không gian tĩnh lặng ở khe núi nên thơ nên hoạ, đậm chất Thiền xuất hiện khá nhiều trong thơ ông:

Giản hộ tịch vô nhân

Phân phân khai thả lạ

(Ngõ khe vắng không người

Mặc tình hoa nở rụng)

(Tân di ổ)

Không sơn bất kiến nhân

Đản văn nhân ngữ hưởng

(Núi vắng không bóng người,

Tiếng nói đâu vọng lại)

(Lộc trại)

Nói như Lý Anh trong Thư pháp dị giản lục: “Mô tả núi vắng không bắt đầu từ vô thanh vô sắc, lại đi từ hữu thanh hữu sắc để cảm nhận sâu sắc hơn cái tĩnh lặng của nó”. Thơ Vương Duy thể hiện tính biện chứng, cái tiềm ẩn vô cùng trong thế giới sắc không.

Trong bài thơ Điểu minh giản, triết lý của Thiền học giống như cục nam châm tạo nên tâm điểm hút dính các câu thơ lại thành một chỉnh thể, một cấu trúc ẩn, một hàm ý siêu thoát! Có thể thấy rằng, cái hay của bài thơ thể hiện ở tính độc đáo trong cách diễn tả sự chứng ngộ Phật – sự “Tịnh độ” trong tâm linh của Ma Cật: an nhiên, tĩnh tại, hoà nhập với thế giới sắc không (lớp nghĩa tư tưởng) và ở thế giới hình tượng thơ tương giao, hoà quyện, gắn kết tạo nên ý nghĩa thẩm mỹ mới lạ (lớp nghĩa nghệ thuật). Nghĩa tư tưởng và nghĩa nghệ thuật của tứ thơ có sự chuyển hoá, dung hợp, đan quyện, giao hoà đem đến cho người đọc những mỹ cảm, nhận thức khác. Đó là vẻ đẹp tâm hồn dung dị của nhà thơ hoà mình trong đời sống dân dã, đằm thắm. Có lẽ nhà thơ đã khám phá ra chính mình trong thiên nhiên và trong thái tĩnh lặng, hư vô. Bài thơ gợi ra hình ảnh một Thiền sư ở giữa cuộc sống, giữa thiên nhiên vừa ung dung giản dị vừa tinh tế nhạy cảm, vượt lên tất cả, hoà nhập tất cả, “tất cả tức một, một tức tất cả”. Bài thơ ngắn, ý tứ cô đọng rất thích hợp với tình cảnh sâu lắng mang đậm nội tâm của Thiền.

4. Thơ ca và tôn giáo nói chung đều gặp gỡ nhau ở kiểu tư duy hướng nội, gắn liền với con người cá nhân, cá thể, đều dùng thế giới biểu tượng làm phương thức thể hiện “Thơ bay vi vút trong không gian thẩm mỹ ước lệ. Thiền bay thênh thang trong cõi tĩnh mặc, trong sáng và vô duy. Thơ là tinh hoa của ngôn ngữ, làm cho con chữ lấp lánh nhiều sắc màu, ý tượng; lung linh đa chiều tư duy và cảm xúc. Thiền là tinh hoa của minh triết đông phương, là đoá trăng soi giữa miền u tĩnh, đánh thức vô minh, vọng lầm để tao ngộ với quê hương sơn thuỷ”[4]. Bài thơ Điểu minh giản của Vương Duy chính là sự kết tinh diệu kì của Thiền và Thơ. Tác phẩm toát lên vẻ đẹp bình dị, hồn nhiên, điềm đạm, ý tại ngôn ngoại với ý vị vô cùng thâm sâu, tiêu biểu cho minh triết phương Đông. Như vậy, nếu tiếp cận đúng hướng thơ Thiền, người đọc có thể thưởng thức được những giá trị mang tính chất “khải thị”, những khoái cảm thẩm mỹ đặc biệt mà thơ Thiền đem lại. Thiền tạo nên cái đẹp mới lạ, sự bừng sáng trong tâm hồn ở những áng thơ, có khi đọc không hiểu, song vẫn có thể cảm nhận được qua hình tượng tư tưởng – thẩm mỹ.

[1, 2] Bùi Công Thuấn, “Một cách tiếp cận thơ Thiền”.
[3] Nguyễn Văn Hạnh, “Quan hệ giữa tôn giáo và thơ ca trong thế giới biểu tượng”, Tạp chí Văn học, số 9/2006, tr. 57.
[4] Minh Đức Triều Tâm Ảnh, “Thơ, Thiền – Những đường bay và những chân trời”.

Hà Thị Vinh Tâm

Tiếp tục đọc

Văn mẫu 10

Âm vang của hào khí Đông A qua hai tác phẩm “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão và “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu

Nhà văn Nguyễn Trung Thành khi nhìn lại cả một chiều dài lịch sử chống ngoại xâm của nhân dân ta đã cảm khái mà thốt lên rằng: “Nếu như phải vẽ lại lịch sử Việt Nam thỉ trang nào cũng phải vẽ một thanh gươm tự vệ và tô đậm một màu máu”. “Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần, Lê bao đời gây nền độc lập” (Nguyễn Trãi), có triều đại nào không phải kinh qua những cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, có thời đại nào không vang dội những chiến thắng nức lòng, có người dân của thời đại nào mà không sôi sục trong huyết quản một dòng máu yêu quê hương tha thiết? Hào khí Đông A, hiểu theo chiết tự, là hào khí của thời đại nhà Trần, nhưng hào khí ấy bắt nguồn từ lịch sử xa xưa các vua Hùng dựng nước và trực tiếp bắt nguồn từ chiến thắng của Ngô Quyền với quân Nam Hán (938), chiến thắng của Lý Thường Kiệt (1076). Hào khí âm vang lan truyền tới mãi mãi sau này, trong niềm kiêu hãnh dân tộc của người dân đất Việt.

Làm sao có thể lí giải được một dân tộc nhỏ bé, một đất nước bé nhỏ ỉại có thể ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông – một đế quốc hùng mạnh và hung hãn nhất của thời bấy giờ, đi tới đâu là gieo rắc sự chết chóc cho mọi sinh linh tới đó: “Vó ngựa quân Nguyên Mông đi tói đâu, thì cỏ không còn mọc được”, nếu như không nghe qua những lời thơ hùng tráng của các thi sĩ – tướng sì, hay chỉ là một kẻ khách không thôi, cũng đượm một hào khí Đông A, cũng ngùn ngụt một niềm kiêu hãnh, tự hào không hề che giấu.

Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu

Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.

(Múa giáo non sông trải mấy thâu

Ba quân hùng khí át sao Ngưu)

(Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão)

Câu thơ dịch là “múa giáo”, không sát với nguyên bản và vì thế đã giảm mất tự thể “hoành sóc” hiên ngang của người tráng sĩ. Hoành sóc (cắp ngang ngọn giáo) thể hiện tư thế của người tráng sĩ, một tư thế ung dung đĩnh đạc, vừa tĩnh lại vừa động, vừa điềm đạm lại vừa hào hứng, thách thức. Đó là tư thế của một dân tộc biết được sức mạnh của mình và sức mạnh đó đã được trải qua bao cuộc thử thách, một tư thế vững vàng không thể lay chuyển được. Từ thế đứng của một tráng sĩ mà thấy thế đứng cả dân tộc, từ sức mạnh của một người mà thấy được sức mạnh của cả dân tộc, cả quân đội:

Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.

Từ một thế đứng hiên ngang, câu thơ bỗng vút lên một ý tưởng lãng mạn, hay nói đúng hơn là tư một thế đứng, điệu thơ đã thăng hoa một cách rực rỡ và toả sáng hào quang lên tận trời xanh, át cả ánh sáng của sao Ngưu, sao Đẩu, những ngôi sao sáng nhất theo quan niệm của người xưa.

Trong thơ ca cổ điển, cái tôi thường ít được nói tới và những tâm trạng uẩn khúc của riêng một con người cũng hầu như không xuất hiện. Thế nhưng Phạm Ngũ Lão đã nói lên tâm sự của chính mình một cách thẳng thắn và cao đẹp:

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu chính nhân gian thuyết Vũ Hầu

(Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu)

Đó là nỗi thẹn vì chưa trả được nợ công danh, nợ anh hùng nay trả nay vay, chưa báo đền nợ trước, bực vì sức mạnh không được như Gia Cát Lượng giúp nhà Hán ngày xưa, một nỗi thẹn thật đáng quý.

Hào khí Đông A đâu chỉ thể hiện ở lòng yêu nước căm thù giặc, tinh thần quật khởi lòng tự hào dân tộc. Nó còn nằm trong những khía cạnh tâm sự sâu kín của con người, là tâm sự đáng yêu của một chàng trai đất Việt, cũng là tâm trạng của thế hộ thanh niên thời bấy giờ, lúc nào cũng canh cánh thù nhà nợ nước, cũng đặt trách nhiệm gánh vác sự an nguy của đất nước trên đôi vai của chính mình. Hào khí ấy đã làm nên những chiến thắng lẫy lừng để rồi mai sau, người dân nào đi qua những mảnh đất thiêng liêng của chiến địa cũng thấy dậy lên trong mình một hào khí của dân tộc. Đó cũng là cảm hứng làm nên sự bất hủ của bài Bạch Đẳng giang phú của Trương Hán Siêu.

Bài Bạch Đằng giang phú được làm cuối đời Trần, lúc mà chế độ phong kiến nhà Trần đang dần dần đi vào con đường suy thoái, nhưng giữa cảm hứng bi tráng của bài phú, vẫn vút lên một khí thế hào hùng của dân tộc, niềm say sưa và tự hào không gì che giấu nổi trước những chiến công. Thế mới biết hào khí Đông A có sức âm vang và lay động lòng người tới mức nào.

Tinh thần thượng võ ở thời trung cổ không phải là không có những nét đẹp và khi nó đi vào thơ phú của Trương Hán Siêu để được hoà quyện với lòng tự hào dân tộc, nó đã làm nên bức tranh tuyệt đẹp, cái đẹp của sự hào hùng:

Thuyền bè muôn đội

Tinh kì phất phới

Tì hổ ba quân

Giáo gươm sáng chói

Trận đánh thư hùng chửa phàn

Chiến luỹ Nam Bắc chống đối.

Nhà thơ say sưa với trận đánh lịch sử như chính là đang sống với chiến cuộc, những nét bút tung hoành thể hiện một sự cảm khoái cực độ:

Khác nào

Trận Xích Bích quân Tào Tháo tan tác tro bay

Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi.

Và nếu như ở Thuật hoài, niềm tự hào của Phạm Ngũ Lão bốc đầy hùng khí thì ở Bạch Đằng giang phú, niềm tự hào đã chín một cách đằm thắm và vĩnh hằng, gắn với sự tồn tại của tự nhiên:

Đến nay sông nước tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù không rửa nổi.

Sông nước chảy hoài, dòng chảy của tự nhiên, của lịch sử, của thời gian, dòng chảy ấy không xoá đi mãi mãi lại âm vang của hào khí Đông A, cũng như lưu lại vết nhục của quân thù và niềm tự hào của mỗi người dân chúng ta.

Xuyên suốt qua hai tác phẩm Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão và Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu là một tinh thần quật khởi, một tình yêu đất nước mãnh liệt, một lòng căm thù giặc sâu sắc và một niềm kiêu hãnh tự hào dân tộc nức lòng người. Nhưng nói như vậy không có nghĩa dân tộc ta ưu thích chiến tranh, thích đổ máu, mà ngược lại, hơn bao giờ hết, hào khí Đông A được xây dựng trên nền tảng nhân nghĩa của cha ông ta:

Giặc tan muôn thuở thanh bình

Bởi đầu đất hiểm cốt mình đất cao

Chính vì tư thế Hoàng sóc vừa vững chãi vừa uy nghi ấy cũng nói lên thế cắp ngang ngọn giáo đứng hiên ngang đẹp đẽ của dân tộc ta bởi vì chúng ta chiến đấu là để bảo vệ non sông gấm vóc, bảo vệ hoà bìnhẻ

Có cắt nghĩa như vậy ta mới lí giải được vì sao hào khí Đông A lại có một sức lâu bền như vậy, và mới hiểu tại sao mà Nguyễn Trãi, Lê Lợi sau này lại làm nên những chiến công cũng hiển hách như vậy. Hào khí Đông A sống mãi trong lịch sử, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hơn một trăm năm sau sự ra đời của Bạch Đằng giang phú hào khí ấy vẫn vọng lên trong bài thơ Qua cửa Hàm Tử của Trần Lâu :

Trống chiêng rung động, sông dồn sóng

Cờ quạt tung bay, trúc rẽ nhàng

(Cổ chinh hùng dũng trào cao thấp

Kì bái sân sỉ trúc ảnh tà)

Và dù ở bài thơ nào, Thuật hoài, Bạch Đằng giang phú hay Qua cửa Hàm Tử thì hào khí Đông A vẫn được bày tỏ một cách hết sức tự nhiên, bởi nó đã thấm vào máu thịt của từng người dân đất Việt, nó là tâm huyết, là dòng máu nóng sục sôi trong từng huyết quản những người dân đã khắc hai chữ Sát Thát vào cánh tay mình trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông thế kỉ XIII.

Và bây giờ, khi đọc lại tác phẩm Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão và Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, ta như thấy được cả một rừng cánh tay vung lên, cánh tay nào cũng chích hai chữ Sát Thát đỏ thắm như máu, ta thấy lại được cái hùng khí của cả một thế hệ anh hùng, một thời đại anh hùng. Trong công cuộc dựng xây đất nước hôm nay, dân tộc như được tiếp nhận thêm sức mạnh bởi hào khí Đông A thuở trước.

Tiếp tục đọc

Văn mẫu 10

Bình giảng bài ca dao “Bài ca chàng thợ mộc”

Tiếng hát giao duyên, tỏ tình của trai gái làng quê xưa được thể hiện trong ca dao, dân ca rất hay, rất đậm đà: “Gặp đây Mận mới hỏi Đào…”, “Hôm qua em đi hái dâu..”. “Tát nước đầu đình…”, và Bài ca chàng thợ mộc.

Với 20 câu lục bát đi liền một mạch, qua ánh mắt và nụ cười, chàng thợ mộc tài hoa và đa tình mượn chuyện chạm trổ của mình để tỏ tình với cô thôn nữ.

Bốn câu đầu ấm áp với bao tình quê vơi đầy. Chàng trai đã xưng danh, xưng nghề, xưng quê hương bản quán. Cũng như nhiều thiếu nữ khác đã bẽn lẽn nói về mình: “Em là cô gái đồng trinh…”, “Em là con gái kẻ Mơ…”, chàng trai thật đàng hoàng tự tin nói với cô thôn nữ:

Anh là thợ mộc Thanh Hoa

Làm cầu, làm quán, làm nhà khéo thay!

Lựa cột anh dựng đòn tay,

Bào trơn, đóng bén nó ngay một bề.

Tục ngữ có câu: “Thợ mộc xứ Thanh ở quanh Kinh Kì”, hoặc: “Thợ mộc xứ Thanh ở quanh Thuận Quảng”. Thợ mộc dù tài giỏi đến đâu cũng chỉ được gọi là phó cả. Chỉ có thợ mộc làm cung điện vua chúa mới được gọi là thợ cả. Xây cung điện thời Lê – Trịnh, thời Nguyễn sau này, phần lớn là thợ mộc Thanh Hoa. Câu đầu của bài ca dao này có dị bản ghi là “Anh làm thợ mộc Thanh Hoa”, vì quen miệng theo đà ba chữ “làm” trong câu ca thứ hai nên mới nhầm lẫn như vậy! Một chữ “là” biểu lộ biết bao tự hào về quê hương bản quán, về nghề nghiệp truyền thống của mình. Không phải là một tay “đục đẽo” tầm thường, mà anh chính là thợ mộc Thanh Hoa từng xây dựng cung điện, nổi danh tài ba. Ba câu tiếp theo, anh tự khẳng định mình là một người làm ăn giỏi, một thợ mộc giỏi toàn diện, nổi danh tài ba, biết “Làm cầu, làm quán, làm nhà”, biết “lựa cột dựng đòn tay”, biết “bào trơn đóng bén”. Hai chữ “khéo thay” là tự khen, tự khoe tài là để tỏ tình với cô gái mà anh đang yêu, nên rất dễ thương và được chúng ta đồng tình. Vả lại, thói đời xưa nay vẫn thế “Gái tham tài, trai tham sắc”. Câu 3, 4 chỉ theo đà mà nói, chứ có tài cán gì ở cái việc “bào trơn, đóng bén…” mà khoe?

Mười câu ca dao tiếp theo, bằng biện pháp liệt kê, anh thợ mộc Thanh Hoa nói với cô thiếu nữ về nghệ thuật chạm trổ về những con giống. Mỗi con vật được chạm trổ đều có đôi, có đàn; con nào cũng đều mang một hình thù, một dáng vẻ khác nhau, trong trạng thái động. Nghệ thuật chạm trổ đạt đến trình độ cực kì điêu luyện, sáng tạo, đẹp mắt và hấp dẫn.

Đình đền, cung điện… mới chạm rồng; vật linh thiêng trong nhóm tứ linh: long, li, quy, phượng. “Long vân giao hội”… là những bức thêu, bức chạm đã được nghệ thuật cổ phương Đông quy phạm, làm biểu tượng cho cái đẹp, cho uy quyền của đế vương. Anh thợ mộc Thanh Hoa cũng chạm rồng, nhưng chỉ là “Trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo”. Con rồng dưới bàn tay chạm trổ của anh đã được cách điệu đậm đà màu sắc nghệ thuật dân gian, và trong một chừng mực nào đó, nó gợi ra một khát vọng sống trong sinh sôi nảy nở, trong hạnh phúc tròn đầy, tươi vui.

Bốn cửa anh chạm bốn dê,

Bốn con dê đực chầu về tổ tông.

Dân gian quan niệm con quạ và con dê là hai loài vật tình nghĩa nhất. Đã từng có lời ca truyền tụng:

Quạ còn mớm mồi lại,

Dê còn giữ lễ quỳ,

Khuyên ai đạo làm con,

Đọc sách nên có hiểu.

Bức chạm “Bốn con dê đực chầu về tổ tông” biểu lộ một cách kín đáo về một tấm lòng ân nghĩa thuỷ chung, thoáng hiện chất hóm hĩnh, tinh nghịch, phong tình. Sau lời giới thiệu chạm bốn con dê đực là một tiếng cười khẽ đưa duyên…

Anh khoe tài, không chỉ biết chạm dê, chạm rồng mà còn biết chạm những con vật gần gũi với đời sống dân dã, gắn bó với mọi người nơi đồng nội, trong vườn tược của mỗi gia đình chốn quê:

Bốn cửa anh chạm bốn hoa,
Trên là hoa sói, dưới là hoa sen.

Bốn cửa anh chạm bốn đèn,

Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ.

Mèo bắt chuột, gà gáy… con vật nào cũng đáng yêu, có ích, sống động, biểu tượng cho đức tính chăm chỉ, cần mẫn, hay lam hay làm. Bức chạm lươn thật kì lạ! “Thân lươn bao quản lấm đầu” ấy đã được chàng thợ mộc Thanh Hoa chạm trổ rất bay bướm và có thần:

Bốn cửa anh chạm bốn lươn,

Con thì thắt khúc, con trườn bò ra.

“Thắt khúc” và “trườn bò ra” là hai nét chạm cực khéo, làm cho con vật đơn sơ, bình dị được nghệ thuật “thổi hồn vào”. Có thể nói, năm bức chạm dê, chạm rồng, chạm mèo, chạm gà, chạm lươn, bức nào cũng sống động, khéo léo, tài ba. Qua những bức chạm ấy, anh thợ mộc Thanh Hoa kín đáo thổ lộ với người bạn tình một nỗi ước mong về cuộc đời có âm dương, có đôi lứa, có no đủ sung túc, có hoà hợp yên vui, được sống hạnh phúc trong một mái ấm gia đình do tài năng anh tự vun đắp nên.

Nói xa rồi anh nói gần, anh đã làm cho thiếu nữ “Lặng nghe lời nói như ru..”, Chàng thợ mộc giới thiệu bức chạm hoa:

Bốn cửa anh chạm bốn hoa,

Trên là hoa sói, dưới là hoa sen.

Có hoa thì hương thơm ngào ngạt như hoa sói. Có hoa thì rực rỡ “Nhị vàng, bông trắng, lá xanh / Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” như hoa sen. Bức chạm này cũng gởi gắm bao nét tài hoa, thơ mộng, bởi lẽ “Lòng đời chắc nặng lắm / Hoa sói hoài không thôi” (Hoa về – Huy Cận).

Sau bức chạm hoa là bức chạm đèn. Mỗi cây đèn soi tỏ một nét tâm tình dưới tổ ấm gia đình hạnh phúc. “Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ” hướng về cô nàng khéo tay hay làm. Cây đèn thứ ba: “Một đèn đọc sách ngâm thơ” chiếu sáng một tâm hồn thanh cao nho nhã. Cây đèn thứ tư là “cây đèn thần”, cây đèn ước hẹn chờ mong “đèn thương nhớ ai – mà đèn không tắt”,… Lời tỏ tình thật hồn nhiên, chân tình, duyên dáng:

Một đèn anh để đợi chờ nàng đây.

Đó là một tiếng nói yêu thương, nồng nàn, dịu ngọt, một tiếng nói có mùi thơm của hương hoa, có ánh sáng của lửa đèn và chứa chan hi vọng về ngày mai hạnh phúc.

Tóm lại, bài ca dao Bài ca chàng thợ mộc là một trong những bài ca dao tỏ tình hay nhất, ý vị nhất. Tất cả 20 câu lục bát là lời độc thoại của chàng thợ mộc về quê quán, nghiệp nghề, về tài hoa.. Anh thợ mộc Thanh Hoa khoe tài để tỏ tình. Con người tài hoa, đa tình ấy mới đáng yêu làm sao!

Cấu trúc vần thơ, câu thơ cân xứng kết hợp với các biện pháp điệp ngữ, liệt kê làm cho lời tỏ tình trở nên duyên dáng, hồn nhiên, dung dị như tấm lòng hồn hậu, chan chứa yêu thương và khát khao hạnh phúc lứa đôi của chàng thợ mộc Thanh Hoa. Câu ca nào cũng ngọt ngào đằm thắm để thương để nhớ trong lòng người bao lâu nay một vẻ đẹp tình tứ, duyên dáng cân xứng, hài hoà. Cuộc sống vốn thế, tình yêu vốn thế:

Trên thì rồng ấp // dưới thì rồng leo

Con thì bắt chuột // con leo xà nhà

Đêm thì nó gáy // ngày ra ăn vườn

Con thì thất khúc // con trườn bò ra

Trên là hoa sói // dưới là hoa sen

Một đèn dệt cửi // một đèn quay tơ.

Bài ca chàng thợ mộc còn là một bài hát ngành nghề đậm đà ý vị mang tình quê hương. Con người có bàn tay vàng ấy đã đem tài nghệ, tài hoa làm đẹp cuộc đời, xây đắp hạnh phúc cuộc đời trong tình yêu và hi vọng: Một đèn anh để đợi chờ nàng đây.

Có thực tài và dám đàng hoàng đem tài hoa ra để tỏ tình, để giao duyên như chàng thợ mộc Thanh Hoa mới thật đáng yêu.

Tiếp tục đọc

Văn mẫu 10

Bình giảng bài thơ “Khe chim kêu”

Vương Duy (701-761) tự là Ma Cật quê ở Sơn Tây, Trung Quốc. Năm 21 tuổi đỗ tiến sĩ, làm quan thời Thịnh Đường. Ông là một nghệ sĩ nổi tiếng tài hoa: thơ hay, vẽ đẹp, thư pháp như rồng bay phượng múa. Ông để lại trên 400 bài thơ và hơn một nghìn bức hoạ, thư pháp. Tô Thức thời Tống đã ca ngợi: “Thưởng thức thơ Ma Cật thấy trong thơ có hoạ; xem hoạ Ma Cật, thấy trong hoạ có thơ”.

Điểu minh giản (Khe chim kêu) là bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của Vương Duy “trong thơ có hoạ”:

Nhân nhàn quế hoa lạc,

Dạ tĩnh xuân sơn không.

Nguyệt xuất kinh sơn điểu,

Thời minh tại giản trung.

Người đọc nghe thấy gì, nhìn thấy gì trong bút tranh thuỷ mặc Điểu minh giản này?

Hai câu thơ vừa có cánh, vừa có tình. Đêm yên tĩnh (dạ tĩnh) là thời gian nghệ thuật. Ngọn núi xuân xa mờ hiện lên trong vắng lặng. Một đoá hoa quế rụng. Hoa nguyệt quế trắng phau, thơm nồng nàn, mỗi tháng nở hoa một lần; thi sĩ không tả màu sắc, hương thơm hoa nguyệt quế, mà chỉ gợi tả “quế hoa lạc”. Chữ “rụng” lạc là nhãn tự. Tác giả lấy động, tiếng hoa quế rụng để làm nổi bật cái vắng không của núi xuân, cái yên tĩnh của đêm xuân về khuya. Đó là không gian nghệ thuật. Chữ “nhàn” qua hình ảnh “nhân nhàn” là tâm trạng nghệ thuật: nhà thơ sống thư nhân, tâm hồn thư thái, mơ màng, lắng nghe tiếng rụng của hoa quế rơi. Mơ hồ và thì thầm. Đó là tiếng đâm xuân êm đềm. Phải chăng đó là tiếng thở nhẹ của giai nhân?

Đoá hoa quế chỉ bằng chiếc cúc bạch ngọc mỏng manh, rụng xuống se sẽ thế mà thi nhân nghe được, cảm được, không chỉ tâm nhàn mà còn hồn mộng. Người và cảnh giao hoà. Ngô Tất Tố dùng thơ lục bát đế dịch thơ ngũ ngôn của Vương Duy đã tạo nên nhạc điệu êm đềm thơ mộng:

Người nhàn hoa quế nhẹ rơi,

Đêm xuân lặng ngắt trái đồi vắng tanh.

Hai câu cuối là nét vẽ vừa có ánh sáng vừa có âm thanh. Trăng đột hiện, trăng xuân. Vì ở núi cao nên thấy trăng mọc rất rõ. Bóng tối của màn đêm nơi núi xuân như bị xua tan. Ánh trăng đã làm cho con chim núi giật mình (kinh sơn điểu) cất tiếng kêu nơi khe sâu bên vách núi. Nghệ thuật chấm phá của ngòi bút nghệ thuật của Vương Duy thật thần tình: lấy động (tiếng chim kêu trong khe) để đặc tả cái vắng lặng, êm đềm của núi xuân, đêm xuân; lấy sáng đế tả tối, lấy ánh trăng để tả màn đêm, tả cái sâu hút, thâm u của khe suối.

Thi nhân chỉ chấm phá, điểm nhấn bằng một vài đường nét mà rung động, ấn tượng. Tiếng chim kêu trong khe, ánh tráng vừa mọc như làm cho nhà thơ chợt tỉnh giấc mộng đêm xuân. Ngô Tất Tố đã dịch khá hay và sáng lạo:

Trăng lên, chim núi giật mình,

Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi.

Điểu minh giản là bài thơ tuyệt tác của Vương Duy. “Thi trung hữu hoạ, thi trung hữu cầm”. Một bông hoa quế rụng. Một ngọn núi xuân vắng không. Một đêm xuân tĩnh lặng, êm đềm. Trăng mọc. Chim núi giật mình kêu lên trong khe núi. Giữa khung cảnh êm đẹp ấy, nhà thơ chợt tỉnh giấc mộng đêm xuân. Tâm nhàn, mộng đẹp, cảnh hữu tình nên thơ. “Điểu minh giản” mang vẻ đẹp của một bức hoạ sơn thuỷ của Vương Duy lấp lánh trong sắc màu thời gian.

Tiếp tục đọc

Xu hướng