Connect with us

Tác giả

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư: ‘Tôi không sợ bóng mình’

Đối thoại với một người tĩnh lặng luôn lý thú, bởi người tĩnh lặng luôn có thể khơi gợi những điều mà những người đứng ở bờ bên kia của sự tĩnh lặng không bao giờ thấy được.

Nghĩ về nghề viết và nghiệp viết, từ rất lâu rồi, tôi đã muốn ngồi đối thoại với nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Chẳng phải vì chị là một trong những tên tuổi tiêu biểu của văn chương đương đại Việt Nam, cũng chẳng phải vì những tác phẩm của chị luôn có độ phổ cập lớn, trong đó có tuyển tập truyện ngắn được một nhà xuất bản tái bản tới gần 50 lần.

Đơn giản là vì quan sát chị, tôi thấy ở chị một sự tĩnh lặng, điều mà tôi nghĩ con người ta không dễ gìn giữ sau khi nổi tiếng.

Sự viết tàn lụi từ những điều nhỏ nhặt

– Thưa chị Nguyễn Ngọc Tư, tôi muốn bắt đầu cuộc đối thoại này bằng một ký ức văn chương đeo đẳng kể từ ngày tôi còn là một chú bé. Khi ấy, tôi có xem một cuộc phỏng vấn nhà văn Kim Lân trên Đài Truyền hình Việt Nam và tôi nhớ là khi người phỏng vấn hỏi ông rằng tại sao nhiều năm trở lại đây, ông không viết nữa thì giọng Kim Lân nghẹn lại. Với chất giọng nghèn nghẹn ấy, ông chia sẻ những day dứt về việc sau thời của những truyện ngắn xuất thần như “Làng” hay “Vợ nhặt” ông cứ viết ít đi, rồi không viết nữa. Và, theo cảm nhận của tôi, đến một lúc nào đó, không thể viết được nữa có lẽ là một nỗi buồn ghê gớm của mọi người cầm bút. Theo chị, không viết được nữa có phải là nỗi sợ lớn nhất của một nhà văn không?

Còn tùy vào nhà văn nào. Cách anh/chị ta coi văn chương là gì, dấn thân tận hiến kiểu nào, kỳ vọng vào chính mình tới đâu. Chuyện đó quan trọng, vì một người viết giữ khoảng cách vừa phải với việc viết, cân bằng được nó với những mối quan hệ khác, chắc không đến nỗi vô vọng đâu.

Riêng tôi tin vào duyên. Nhất là văn chương, thứ mà tôi nghĩ ngọt hay đắng đều có phần can thiệp của vô hình. Sao người này viết được, người kia không; người này thở ra thứ văn chương đẹp đẽ, người kia con chữ lục cục như đất cày.

Không phải cứ tích lũy mày mò tháng ngày mà thành, văn chương không tùy thuộc vào sự thuần thục, cũng như ta biết không phải viết nhiều, đều đặn thì là nhà văn.

Đôi khi, trong chúng ta chỉ là người viết sách. Và vì duyên, nên lúc nào đó hết duyên thì ngừng. Giãy giụa chẳng ích gì. Là tôi nghĩ vậy. Kiểu ý nghĩ khi nhìn vào một viễn cảnh còn xa, nỗi buồn, sự bứt rứt cũng chỉ là hình dung mờ mờ.

Nhưng, gặp chuyện rồi tôi buồn rũ cũng nên, ai biết được, dân gian có câu “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ” đó thôi.

Nha van Nguyen Ngoc Tu anh 1

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Ảnh: An ninh Thế giới.

– Có rất nhiều lý do để một người cầm bút viết và trở thành nhà văn. Viết đơn giản chỉ để ghi lại những điều mình thấy và cái điều ấy làm mình day dứt. Viết để xả ra những ẩn ức sâu thẳm trong con người mình. Viết để xây dựng, kiến tạo một giá trị nào đó của đời sống mà mình tin là đúng. Vậy thì ngược lại, theo nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, có bao nhiêu lý do khiến một nhà văn không thể viết được nữa?

– Nhiều. Thật không may là khởi viết, đa phần là từ những viển vông, những khao khát đẹp đẽ, lớn lao. Nhưng, việc viết tàn lụi có thể bởi những điều nhỏ nhặt.

Mở một tài khoản Facebook hay một mạng xã hội nào tương tự. Xuất hiện dài kỳ trên truyền hình. Thường xuyên la cà ở những buổi giao lưu, ra mắt sách, những bữa rượu. Ngẫm ngợi và lên tiếng vào mọi vấn đề của đời sống. Cực đoan hơn, tôi còn ngờ tivi và báo chí cũng là thứ phân tán chữ của người viết, một khi họ quá chú tâm vào. Những thông tin trên đó ít có ý nghĩa với nghề văn.

Theo mường tượng của tôi, từ ý tưởng tới con chữ bày ra trên giấy là sự tuần hoàn trong những động mạch khép kín. Chúng nóng bỏng, sinh sôi, đầy lên đến mức người viết không chịu đựng nổi, chỉ có mỗi cách bày nó ra trang giấy.

Chỉ có mỗi cách viết cho vợi bớt. Và tụ bạ tỉ tê, phơi bày những ý nghĩ dù là không gian mạng hay trực tiếp mặt đối mặt, không phải là nhà văn tự cắt động mạch chính mình sao? Sực nhớ, cuộc trò chuyện này cũng nằm trong hành động dại dột ấy (cười…).

– Đúng là nhiều người thường nói tới sự ồn ào giết chết nhà văn. Áp sát quá nhiều vào đời sống thì rất khó có thể ngồi lại một cách tĩnh lặng để viết một cái gì đó cho sâu sắc. Thực tế, có những người cầm bút trước khi nổi tiếng đã sống với sự tĩnh lặng và đã tạo nên những tác phẩm hay. Nhưng, sau khi nổi tiếng, do không còn đủ bản lĩnh để giữ quanh mình một sự tĩnh lặng sáng tạo như vậy nữa, nên những trang viết cứ nhạt và đuối dần.

– Thế nhưng, ngay cả khi một nhà văn nào đó giữ mình hết sức có thể, lặng lẽ đến cực đoan, đến phát bệnh vì đám đông, vậy mà đến lúc nào đó, anh/chị ấy vẫn có thể không thể viết được nữa. Nên, ở trên tôi mới nói tôi tin vào duyên.

Chuyện buông thả chỉ là khiến cái chết của một nhà văn (đã từng viết rất được) đến sớm hơn, làm cho người đọc nuối tiếc hơn, bởi những ý nghĩ kiểu giá như, phải chi…

– Nhiều người nhận xét, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư ít giao du trong giới. Vậy, những bạn văn thân thiết của chị là ai? Điều thường trực mà chị hay trao đổi với những bạn văn này là gì?

– Đúng là tôi hơi ít thật nhưng chẳng phải kỳ quặc khó ưa đến nỗi chẳng có bạn trong giới văn chương (cười…). Chỉ là bạn đều xa, ít ngồi tụ bạ với nhau, chủ yếu thư qua thư lại, bạn cũng sống và viết âm thầm.

Giữa bọn tôi gần như không có chủ đề nào bị loại trừ, có thể là cuốn sách hay vừa mới đọc, một chỗ hay hay vừa mới đi, chuyện con cái ngày càng xa tầm với của mình, chuyện trai gái nếu có (cười…).

Nhưng, tôi nhận ra, tìm bạn cùng gu để tán chuyện về thơ mới khó. Ngày càng hiếm người thích thơ hoặc chịu được thứ thơ mà tôi thích. Thật may khi bạn bè mình còn có đôi người tôi có thể chụp hoặc gửi đường dẫn tới bài thơ tôi ưng, cùng nhau tấm tắc khen thơ sao mà thần sầu.

“Cánh đồng bất tận” chỉ còn là cái xác ve sầu

– Văn chương của Nguyễn Ngọc Tư, theo đánh giá của nhiều nhà phê bình thực sự là một thế giới sông nước Nam bộ với những phận người rất riêng biệt, giàu bản sắc. Thế giới ấy không lẫn với ai. Giọng văn của chị cũng chẳng lẫn với ai. Nhưng, ở thuở đầu cầm bút hoặc trong một giai đoạn ban sơ nào đó của nghề viết, chị có thần tượng một nhà văn trong nước hoặc quốc tế nào không? Chị nghĩ gì về mối liên hệ giữa một người viết với một thần tượng của mình?

– Hồi tôi bắt đầu viết, văn học Trung Quốc được dịch hàng loạt, làm mưa làm gió trong làng xuất bản. Mạc Ngôn cũng ảnh hưởng tôi ít nhiều, lối văn nói, phong cách hổn hển hơi thở đời sống hay là những nhân vật ông lựa chọn: Những con người nhỏ bé bị quăng quật, va đập không ngừng trong cái hỗn loạn của thế sự.

Đó là thời điểm những anh/chị Phan Triều Hải, Phan Thị Vàng Anh đang đình đám trên văn đàn.Tôi từng mơ được đứng vào chỗ họ. Sự thật là vậy.

Anh chắc hơi lạ vì không có cái tên nào phía Hà Nội nhưng hồi ấy tiếp cận của tôi với văn chương chỉ quanh quẩn trong vùng, qua những tờ báo số cuối tuần có in truyện ngắn, qua những cuốn sách tôi có thể mượn được ở thư viện.

– Sau thời “Cánh đồng bất tận”, tôi thấy chị vẫn viết, kể cả sáng tác lẫn tản văn. Nhưng, ở thăm thẳm bên trong con người chị, có bao giờ xuất hiện một câu hỏi: Phải làm sao để vượt qua cái bóng quá lớn mà “Cánh đồng bất tận” đã tạo dựng trong nghiệp văn của mình hay không?

Cánh đồng bất tận, với tôi, là cái xác ve sầu. Tôi thoát đi rồi nhưng mọi người vẫn chăm chăm trò chuyện, vuốt ve cái xác rỗng. Có thể quan niệm về văn chương mỗi người là khác nhau.

Ý thức văn chương của tôi không đơn giản là viết một cuốn sách được nhiều người ưa chuộng, đồng cảm.

Trong một chia sẻ vài năm trước, tôi có nói mình viết dưới bóng những nỗi sợ nhưng là sợ những ông lớn, ông kẹ của thế giới. Tôi không sợ bóng mình, nếu thật sự có tồn tại thứ đó. Tự mình tạo ra cái bóng nào đó, rồi sợ nó đến tê liệt, không phải kỳ cục và ngu ngốc quá sao.

Nhân tiện, thăm thẳm trong tôi là câu hỏi có phải cạo trọc là cách nhanh nhất để khỏi phải nhìn tóc rụng? (cười…).

– Chị làm tôi chợt nhìn lên đầu mình đấy, theo nghĩa đen thuần túy (cười…). Tôi để đầu trọc từ lâu lắm rồi và với kinh nghiệm của một người trọc, tôi thấy cái khoảnh khắc chuyển đổi từ một người có tóc sang một người trọc cũng chẳng dễ đâu. Bởi khoảnh khắc ấy, người ta phải đối diện với cái cảm giác chấp nhận mất đi một phần nào đó cơ thể mình. Với nghề văn, tôi nghĩ cũng vậy thôi. Nói là muốn cạo trọc và sẵn sàng cạo trọc là nói vậy, chứ làm sao có thể cạo xoẹt một cái là xong. Mỗi tác phẩm dẫu sao cũng là đứa con tinh thần của mình, được mình thai nghén, sinh nở một cách nghiêm túc, sao có thể dễ dàng cạo nó khỏi đời sống tinh thần của mình ngay được. Vì vậy, tôi rất tò mò muốn biết, hành trình “cạo trọc” của chị đã diễn ra như thế nào?

– Chắc anh hiểu lầm rồi. Tôi đơn giản là để nó lại chỗ nó đang nằm lại, rồi đi tiếp. Bộ vỏ tôi để lại đó, nếu may mắn, sẽ được hóa thạch với thời gian, không thì thành vụn bụi.

Một tác phẩm đem tới vinh quang nhiều chừng nào thì phải tạo khoảng cách với nó sớm chừng ấy, tôi nghĩ vậy. Ở lâu với nó lại ngủ quên, lại thỏa mãn, lại lười nhác.

Dĩ nhiên, với góc nhìn của người khác, cụ thể ở đây là anh, hay những bạn đọc trung thành với phong cách viết cũ của tôi, họ có quyền nghĩ tôi còn loay hoay dưới cái bóng của một tác phẩm nào đó, rằng chỉ tác phẩm ấy là đáng kể nhất.

Nhưng, ở vị thế của nhà văn và người đọc, đôi bên có những nhu cầu, đòi hỏi khác nhau. Không gặp nhau ở những thời điểm này kia là lẽ thường nhưng tôi tin cứ đi thôi, loanh quanh rồi sẽ gặp.

Phải phân thân với hai con người cùng lúc

– Nếu không có gì quá bí mật, chị có thể chia sẻ xem một ngày của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư bây giờ diễn ra như thế nào không? Chị thường viết vào lúc nào trong ngày và trung bình mỗi ngày, mỗi tuần viết bao nhiêu tiếng?

– Ôi trời, tôi đâu nề nếp, kỷ luật cỡ vậy. Có khi vài ba tháng tôi không viết gì. Ấy là tôi nói trạng thái vật lý ngồi vào bàn, mở máy tính và gõ phím. Tôi xem phim, mua sắm, la cà chỗ này, lang thang chỗ nọ.

Nhìn vào mọi người, có thể nói tôi đang không viết. Nhưng, sự thật, không viết chẳng bao giờ xảy ra với nhà văn.

Những ý tưởng, câu chuyện vẫn động đậy trong đầu như thường, giống như một phản xạ tự nhiên, khi ta nghe một câu chuyện bên đường, não thể nào cũng nhói lên ý nghĩ vụ này viết gì thì được? Với nó, ta sẽ bày gì ra giấy đây?

Tôi tin một nhà văn nói mỗi ngày viết dăm ba giờ đồng hồ gì đó, một con số cụ thể, chỉ là thỏa mãn trí tò mò của bạn đọc. Một nhà văn sao có thể đo đếm được thời gian mà anh/chị ta làm việc thật sự. Bởi, những ý tưởng vẩn lên trong đầu, bởi họ vẫn sắp xếp câu chuyện trong lúc nấu ăn, đưa đón trẻ, làm vườn, ăn cưới.

– Vì cùng lúc phải phân thân với 2 con người như vậy, con người văn chương và con người đời thực nên không tránh khỏi đôi khi nhà văn khiến những người sống cạnh mình cảm thấy ít nhiều khó chịu. Vừa nấu cơm cho chồng, vừa đau đáu với những ý tưởng viết lách nên cái nồi thịt kho tàu trên bếp bị cháy từ lúc nào rồi cũng nên. (Cười lớn…). Có bao giờ chị rơi vào những cảnh đó hay chưa? Những người thân thiết nhất, ở gần chị nhất có bao giờ phàn nàn về chị hay chưa?

– Chuyện gần như xảy ra mỗi ngày, mở tủ lạnh và quên không nhớ mình muốn lấy gì (cười…).

Nhưng, khiến mình mất công nhất là để tràn nước, thu dọn tàn tích rất mệt. Người nhà tôi quen rồi, họ mặc định lơ đãng là một phần của tôi, như thể là cái mũi, con mắt.

Tôi cũng bao dung cho chính mình, nuông chiều mình, cho mình cái quyền quên trước quên sau, không nhớ cũng không sao. Gì cũng nhớ răm rắp cũng bất hạnh lắm, chứ không phải chơi, tôi nghĩ vậy.

Nha van Nguyen Ngoc Tu anh 2

Nguyễn Ngọc Tư và các tác phẩm đã xuất bản. Ảnh: An ninh Thế giới.

– Có 2 quan niệm về câu chuyện sáng tạo văn học mà tôi thường nghe. Quan niệm thứ nhất: Viết là cuộc chơi của cảm hứng. Hãy cứ sống, cứ trải nghiệm, cứ vui buồn, hạnh ngộ, đau đớn, hạnh phúc với cuộc đời, đến khi nào cuộc đời tự nó ép mình phải viết và cho mình nguồn cảm hứng lớn lao nhất để viết thì hãy ngồi xuống bàn để viết. Quan niệm thứ hai: Viết văn phải là một nghề chuyên nghiệp. Nhà văn phải rèn luyện, chiến đấu một cách nghiêm túc với con chữ, để cố gắng làm sao mỗi ngày cũng có thể viết ra một chút gì gọi là tâm đắc. Chị nghiêng về quan niệm nào hơn?

– Tôi coi viết là công việc mình làm có thể làm tốt, trong khả năng mình và sống được bằng nó. Chữ “sống” không có hàm nghĩa gì ghê gớm đâu (tôi hay ghê ghê sự trịnh trọng), tôi chỉ muốn nói tới thu nhập. Đủ để đi chơi, sắm sửa cho mình và gia đình, dành dụm một khoản cho những biến cố bất ngờ vẫn luôn xảy đến.

Và, văn chương giúp tôi thoát khỏi sự tẻ nhạt thường ngày. Nói vậy không có nghĩa trong mối quan hệ với văn chương, tôi toàn nhận lấy. Cũng phải lao động, nghề nào cũng vậy thôi.

Nhưng, tôi không chắc mình là dân chuyên nghiệp, bởi sự chuyên nghiệp người ta vẫn thường lầm tưởng là mỗi ngày ngồi vào bàn viết bao nhiêu giờ và viết được từng nào trang.

Tôi nghĩ, chuyên nghiệp trong viết chính là ý thức về sự vô biên của nghề, về sự cao rộng của văn chương, về khả năng có hạn của chính mình.

– “Sự vô biên của nghề”, tôi rất muốn chị nói sâu thêm về chỗ này…

– Không có bến bờ, dấu mốc gì. Viết được một cuốn sách chỉ có mỗi ý nghĩa là viết được một cuốn sách. Nó ở đâu giữa thế giới mênh mông này, ta không biết được đâu.

Một giải thưởng cũng có giá trị trong phạm vi nào đó. Truyền thông khi ấy có thể rao rằng đây là dấu ấn, hay đây là cú chuyển mình của nhà văn A, B, C hoặc kêu hơn là một đỉnh cao mới.

Nhưng, lấy gì đo, dùng mốc nào để xác định đỉnh với ngọn? Tôi tin thời gian mới là thứ xác định giá trị văn chương. Mình có thể đợi được không, sau mấy mươi năm nữa?

Tôi không chắc, ngay cả vỡ ra tác phẩm của mình là bụi hay vàng thì cũng chẳng thể trở tay. Một người thợ thủ công biết mình đã ở bậc nào, tùy vào món đồ mà anh ta chế tác. Một anh viên chức biết mình đang ở đâu nhờ vào vị trí anh ngồi.

Một nhà văn thì khó xác định chỗ của mình, tôi nghĩ vậy, ít nhất là nghĩ về tôi. Dĩ nhiên, không phải người viết nào cũng đủ tỉnh táo mà nghi ngờ có bầu trời khác bao trùm cả bầu trời mà mình nhìn thấy.

Không tránh được những lúc chán nghề

– Có một khoảnh khắc nào đó, chỉ là một khoảnh khắc thôi, chị thấy sợ chữ nghĩa và chán viết hay không? Lúc ấy, chị làm gì?

– Tôi đi chơi. Tôi đi chợ. Tôi cày phim. Rồi một câu nói tình cờ nghe được, một hình ảnh tình cờ nhìn thấy khiến tôi muốn viết trở lại.

Thật lòng, chán mình và nản chữ mình vẫn thường xuyên xảy ra và nó hoành hành cũng lâu chứ chẳng phải chỉ một vài khoảnh khắc. Nhưng, tôi nghĩ, thứ tình cảm (có vẻ tiêu cực) ấy cần thiết cho việc một nhà văn nhìn nhận lại mình, tỉnh táo lại, đối diện với câu hỏi rằng, mình đã làm hết khả năng chưa?

– Từ nãy tới giờ chúng ta đã nói rất kỹ lưỡng tới chuyện viết lách nói chung của các nhà văn. Bây giờ, tôi muốn hỏi rất cụ thể rằng, theo dõi văn học Việt Nam trong khoảng 10 năm trở lại đây, chị thấy mùi vị cơ bản của những trang viết ấy là gì? Có gì để một người như chị kỳ vọng không?

– Mùi máu, mùi ghế bọc da trong máy điều hòa, hay mùi nước lã, thật tình là mùi nào tôi cũng ngại. Có thể không máu me, bạo lực, không cần phải làm những chiêu trò hấp dẫn để níu kéo người đọc, mình chỉ cần viết một cách ung dung. Ờ, như Orhan Pamuk, vậy được không?

Tôi từng tin, nếu trừ chiến tranh ra, trừ bạo lực ra, mình không còn bao nhiêu thứ để đào xới. Ờ thì mình đâu có nền tiểu họa lẫy lừng mà viết được thiên truyện như Tên tôi là Đỏ, hay mình đâu có sống ở một quốc gia cửa ngõ Á Âu, đâu có phải con dân của một đế chế chịu nhiều hưng vong, thăng trầm như Thổ Nhĩ Kỳ mà viết được “Istanbul”.

Nhưng, đó là những ý nghĩ kiểu tránh né thôi, một cuốn sách của Orhan Pamuk, chỉ là câu chuyện về thầy trò người đào giếng. Sự thật, không có chủ đề, hay con người nào là ngoại lệ của văn chương, quan trọng là tài năng tới đâu và nhà văn nhìn thế giới bằng con mắt nào.

Sống trong đời sống với rất nhiều va đập của xã hội hôm nay, sự va đập giữa cái cũ với cái mới, giữa những thế hệ đầy hoài niệm với một thế hệ mới trưởng thành cùng sự bùng nổ của công nghệ thông tin, mạng xã hội và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, có bao giờ trong chị xuất hiện những băn khoăn nhoi nhói nào đó hay không? Và, nếu có thì chị có bao giờ thắc mắc là tại sao những điều như thế chưa được chuyển tải vào những trang viết hay không? Nếu mỗi thời đại đều luôn cần những nhà văn đại diện cho nó thì một thời đại với đầy những va đập, day dứt như hôm nay đã có những nhà văn đại diện như thế hay chưa?

– Tôi vốn ít băn khoăn nhoi nhói vào văn chương chung quanh, trừ một vài nhà văn mà tôi đặc biệt cảm tình. Nhìn ra toàn cảnh của văn chương Việt càng hiếm khi, trừ lúc làm công việc gì đó liên quan đến đọc giám khảo, lúc đó phải đặt tác phẩm A, B, C nào đó vào cái nền văn học nước mình mà đắn đo.

Tôi có nói ở đâu đó, rằng tôi quan niệm não mỗi người chỉ có từng này, chỉ chăm chú vào một ít thứ thôi thì sẽ sâu thấu hơn là gì cũng ưu tư. Nhưng, anh hỏi rồi, tôi buộc nghĩ rồi, để nói luôn.

Va đập cũ/mới, giàu/nghèo của thời này, tôi thấy sao bằng những va đập ý thức hệ của những thế hệ trước kia, khi cha ông tụi mình phải đem súng ống, mạng sống ra giải quyết.

Tụi nhỏ dùng điện thoại thông minh thì ông bà chúng cũng thành thạo, còn biết đăng bài lên mạng xã hội. Lúc này đây, tôi không thấy khoảng chênh nào đáng kể cho văn chương khai thác, trừ khi người viết phải làm quá lên.

Nhưng, sự quá lên thì lại có vẻ đen tối quá, đồng nghĩa với gồng, không tự nhiên. Còn sao chép y sì như hiện thực thì lại nhạt nhẽo vô thưởng vô phạt, vì tự đời sống ngoài kia nó nhạt.

– Câu hỏi sau cuối: Điều gì sẽ xảy ra nếu văn chương không còn tồn tại trong đời sống con người?

– Ôi! Tôi toàn nghĩ những chuyện kiểu như sáng mai nấu món gì, xăng còn lên giá nữa không, ông con ra trường thì có tìm được việc ổn định không, cuốn sau viết về gì, rạp đang có phim nào mới.

Tôi không bao giờ nghĩ một ý nghĩ quá sức viển vông như là giả định văn chương sẽ không tồn tại. Bởi, văn chương chắc không phải là khối vật lý nằm trong một xác sách nào mà người ta đốt trụi là xong. Má tôi đi chợ thấy một vụ ẩu đả, về kể tôi nghe.

Và, tôi như thể tận thấy cuộc tranh chấp đó bởi những chi tiết, hình ảnh mà má tôi – bằng cái duyên kể chuyện vốn có – truyền tải lại.

Tôi nghĩ ấy là văn chương rồi. Còn lời là còn văn chương. Giờ ta ra một giả định khác, là loài người mắc cúm câm không nói được nữa nhưng giả định ấy là kiểu cho tiểu thuyết, tôi sẽ đặt gạch để dành đây.

– Xin cảm ơn chị!

Nguồn: https://zingnews.vn/nha-van-nguyen-ngoc-tu-toi-khong-so-bong-minh-post1312138.html

Tác giả

Giải mã Haruki Murakami qua âm nhạc và ngôn từ

Với sự am hiểu, thân cận với tác giả, trong “Haruki Murakami và âm nhạc của ngôn từ”, Jay Rubin đã lý giải con đường Murakami chọn, từ đó đưa ông đến hành trình chinh phục độc giả.

Haruki Murakami là người được đồn đoán hàng năm cho giải Nobel, là người đã chiến thắng hầu hết giải “tiền Nobel” và cũng là người mà cứ mỗi một tác phẩm ra đời, thì làng văn thế giới lại được dịp chao đảo.

Điều gì đã khiến tác phẩm của ông có sức hút và những điều ấy khởi nguồn từ đâu? Haruki Murakami và âm nhạc của ngôn từ sẽ dẫn dắt người đọc đi từ nội hàm: Là cuộc đời và các tác phẩm của nhà văn; cho đến ngoại hàm, là những vấn đề xã hội được ông khai thác dưới lớp vỏ văn chương.

Murakami anh 1

Jay Rubin và Haruki Murakami. Ảnh: finding-haruki.

Murakami không ngừng chuyển mạch

Khởi nguồn từ những truyện ngắn đầu tay như Nàng Ipanema 1963/1982 cho đến tiểu thuyết đầu tay Lắng nghe gió hát; các yếu tố truyền thống Nhật Bản dường như chưa hề tồn tại trong tác phẩm của Murakami.

Nếu Kawabata có các nàng vũ nữ, có cái rung động tinh tế rất Nhật, Mishima thì có nỗi trầm uất của Samurai; thì ngược lại, Murakami không có gì cả. Ngay từ lúc bước chân vào làng văn, ông đã thể hiện một sự “chống Nhật triệt để”, như là hậu quả của nhiều yếu tố.

Sinh ra trong một gia đình trung lưu ngoan đạo, từ nhỏ Murakami đã được hướng theo một nền giáo dục gia giáo. Trong khi mẹ ông muốn ông thấm nhuần tính Nhật, thì ngược lại, ông chỉ thích Dostoyevski, Stendah và nhà văn Nhật duy nhất ông đọc lạ thay lại là Tanizaki Junichiro. Phản kháng lại sự áp đặt của cha mẹ, khi vào đại học ông kết hôn sớm cùng bà Yoko và mở quán bar nhạc Jazz để sống qua ngày.

Nhút nhát, cô độc và không tham gia và các phong trào sinh viên thời bấy giờ, Murakami đã vật lộn với nghiệp viết văn trong lúc phục vụ quầy bar và chỉ viết khoảng 2-3 giờ sáng sau khi thái hành và quán bar đóng cửa.

Ở thời điểm đó, câu văn của ông thường ngắn và chịu ảnh hưởng bởi Kurt Vonnegut. Ông viết từng chút do không biết mình đang viết gì, và có những lúc phải viết bằng tiếng Anh để rồi dịch ngược trở lại sang tiếng Nhật.

Tuy thế mà những thành công liên tục đến với ông. Sau Lắng nghe gió hát được gửi và chiến thắng giải thưởng của tạp chí Gunzo, Murakami đã bước đầu đi trên hành trình hình thành thế giới của riêng mình.

Pinball 1973 là cuốn đầu tiên như thế, với các nhân vật Boku, Chuột và hệ thống những nhân vật phụ không ngừng biến đổi, thay hình đổi dạng trong các tác phẩm về sau. Cõi tưởng tượng của Murakami lên cao nhất ở Cuộc săn cừu hoang, cho đến khi chuyển sang xu hướng tự sự ở Rừng Na Uy và tiệm cận về gần chất Nhật hơn ở Ngầm.

Murakami đã cho rằng cuộc sống là buổi diễu hành của những điều vụn vặt, cho nên với ông, ký ức là tiểu thuyết mà tiểu thuyết cũng là ký ức. Trong các tác phẩm của mình, ông dùng danh xưng “Boku” – “tớ”, từ góc nhìn của người quan sát, cho lời khuyên và không hẳn là chủ thể hành động, mà chỉ tiếp nhận thông tin và đưa nó vào thế giới của mình.

Sau những câu văn gọn, nhanh ở quãng đầu sáng tác, Jay Rubin cho thấy bắt đầu từ Cuộc săn cừu hoang, câu văn của Murakami đã bắt đầu dài ra, với các yếu tố tự sự hơn. Giờ đây ông không chỉ nắm bắt, mà là lôi chúng từ trong bản thân mình ra một cách tự phát. Tuy cũng trùng hợp là không ý thức, văn chương giờ đây đã có mục đích hơn.

Tưởng tượng lên đến cao nhất của Murakami trong thời kỳ đầu không thể không nhắc đến Xứ sở kỳ diệu bạo tàn Nơi chốn tận cùng của thế giới. Ở tiểu thuyết đó, ông đã tạo dựng ra hai thế giới tồn tại song song, một tưởng tượng và một thực tại.

Cũng như nhạc Jazz mà ông yêu thích, quá trình viết văn hoàn toàn diễn ra trong việc ứng tác, nơi ông không biết mình có thể sẽ đi đến đâu, mà chỉ viết bằng niềm tin phá vỡ cấu trúc gò ép cũng như định kiến ngăn cản dòng chảy ngẫu hứng. Bước chuyển đổi này khiến Xứ sở kỳ diệu bạo tàn Nơi chốn tận cùng của thế giới là một tác phẩm quan trọng, tạo bước đệm cho thành công tiếp theo.

Xen giữa những tiểu thuyết dài viết đến “kiệt sức” – như Jay Rubin cũng chỉ ra đây, Murakami còn là một người chuyên viết truyện ngắn cũng như dịch thuật văn chương từ khối Anh ngữ sang tiếng Nhật.

Đối với ông, sáng tạo truyện ngắn chính là luận điểm để từ đó phát triển thành các truyện dài; trong khi dịch thuật là việc trị liệu, là quá trình “tái hòa nhập” trở lại sau sự kiệt quệ cũng như cú shock vì sự yêu thích quá lớn dành cho các tác phẩm của mình.

Những nhà văn được ông yêu thích và thường xuyên dịch có thể kể đến F.S.Fitzgerald, Raymond Carver, Tim O’Brien… và cả sau này ông đã phát triển một mối thâm tình với Carver, người ở cách ông hơn nửa địa cầu.

Như vậy có thể thấy rằng quá trình sáng tác của Murakami là những ngẫu nhiên, ứng tác, và cố hòa nhập cùng nhau trong những hình tượng đã được đặt để như một ma trận.

Tới Rừng Na Uy, và cũng chính là giai đoạn danh tiếng bùng nổ, Murakami đã chọn hướng tiếp cận khác, khi bỏ qua các thế giới tưởng tượng để đến gần hơn với dòng tự sự của những người trẻ, phá vỡ quy tắc trước đó từng đặt ra ở Lắng nghe gió hát là không viết về tình dục cũng như cái chết.

Lạ thay một nỗi, tác phẩm ít yếu tố Murakami nhất lại là cuốn sách thành công vang dội, mà như đã biết, cứ 7 người Nhật lại có một người đọc Rừng Na Uy.

Tuy thế Murakami không hề quen thuộc với sự nổi tiếng vì đại trà này. Jay Rubin cũng tiết lộ rằng ông từng thấy shock và phải cùng với Yoko chạy biến sang châu Âu để có thời gian bắt tay vào các dự án mới, và đó chính là Nhảy nhảy nhảy.

Như vậy có thể thấy rằng Murakami không ngừng chuyển mạch. Ông đi từ việc kết hợp trinh thám (Cuộc săn cừu hoang), sang ứng tác Jazz (Xứ sở kỳ diệu bạo tàn và Nơi chốn tận cùng thế giới), tới Pop (Rừng Na Uy), rồi hỗn loạn (Nhảy nhảy nhảy) và sẽ quay về pop lại một lần nữa với Phía Tây biên giới, Phía Nam mặt trời.

Murakami anh 2

Các tác phẩm đã được chuyển ngữ của Murakami.

Sự kết nối trong các tác phẩm của Murakami

Sau quá trình chữa lành ở Nhảy nhảy nhảy và thế giới hư – thực không thể phân tranh, Murakami bắt đầu chuyển dịch gần hơn với các tác phẩm hướng về nước Nhật.

Không dùng hình tượng chủ chốt như thế hệ các nhà văn trước, ông có cách riêng để cho thấy Nhật, dù cho đó là lớp nghĩa ẩn chứa thứ hai, vẫn đang hiện diện trong văn nghiệp ông. Đó là Biên niên ký chim vặn dây cót khi Murakami lặn sâu vào những nỗi đau mà đế quốc Nhật từng gây ra trong cuộc chiến Nội Mông, là Ngầm khi ông phỏng vấn cũng như phơi bày những sự lãng tránh của chính phủ về giáo phái Aum Shinrikyo trong vụ thảm sát bằng chất độc sarin trong tàu điện ngầm.

Như vậy sau những vòng tròn chủ lưu tiếp nối, Murakami từ một người “càng quốc tế bao nhiêu thì càng ít chất Nhật Bản bấy nhiêu” giờ đây lại chứa rất nhiều câu hỏi hiện sinh về cuộc sống, cái chết và ký ức. Ông cũng lặn sâu vào những vấn đề xã hội và buộc nhà văn phải có trách nhiệm.

Những lề thói này hầu như ứng tác trong ông không có chủ đích, cũng như nhạc Jazz, nó đến bằng sự nhận thức hoàn toàn tình cờ. Như chính ông nói: “Sự tự phát chính là điều quan trọng nhất. Phải tự tin có đủ khả năng kể chuyện, phải tìm đúng mạch nước và làm các mảnh ghép khớp nối với nhau. Ta phải tin vào sức mạnh câu chuyện, từ đó khơi dậy được điều gì đó trong tinh thần mình”.

Với Haruki Murakami và âm nhạc của ngôn từ, Jay Rubin đã cung cấp những cái nhìn khác lạ cũng như phân tích những sự kết nối trong các công trình của Murakami.

Nếu là độc giả trung thành, tác phẩm này sẽ tạo được sự thích thú bởi những phân tích, góc nhìn có phần mới lạ; còn nếu là độc giả mới, thì cuốn sách này cũng sẽ góp phần vào việc khẳng định di sản Murakami, và phần nào đó cho thấy những sự chuyển biến trong cuộc đời ông. Dù đã đọc hay chưa, thì đây cũng là cuốn sách lý thú và rất đầy đủ về một nhà văn lớn.

Nguồn: https://zingnews.vn/giai-ma-haruki-murakami-qua-am-nhac-va-ngon-tu-post1329343.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Ra mắt ấn bản sách đặc biệt của cố nhà văn Nguyễn Huy Thiệp

Cuốn sách “Tướng về hưu & những truyện khác” tuyển chọn những truyện ngắn tiêu biểu làm nên dấu ấn văn chương Nguyễn Huy Thiệp qua các mảng đề tài đa dạng.

Từ những truyện ngắn đầu tiên đăng trên báo Văn nghệ và cuốn sách Tướng về hưu xuất bản năm 1988, ngòi bút Nguyễn Huy Thiệp đã đánh dấu sự có mặt của mình, định hình nên “một hiện tượng văn chương” từ thập niên cuối của thế kỷ 20 đến nay.

Mới đây chi nhánh tại Hà Nội, Nhà xuất bản Trẻ giới thiệu với bạn đọc tuyển tập Tướng về hưu & những truyện khác của Nguyễn Huy Thiệp, mở đầu cho bộ ấn phẩm đặc biệt của những nhà văn đã gắn bó với chi nhánh.

Nguyen Huy Thiep anh 1

Cuốn sách Tướng về hưu & những truyện khác. Ảnh: NXB Trẻ.

Cuốn sách được chia thành hai phần. Phần I được đặt tên Tướng về hưu, in lại truyện ngắn cùng tên theo bản in xuất bản lần đầu tại Nhà xuất bản Trẻ vào tháng 1/1988 cùng một số truyện được sắp xếp theo trình tự như Những ngọn gió Hua Tát, Con gái thuỷ thần, Chảy đi sông ơi, Không có vua…

Phần II – Những truyện khác – gồm những tác phẩm làm nên tên tuổi của Nguyễn Huy Thiệp như Thương nhớ đồng quê, Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt, Những tiếng lòng líu la líu lo, Sang sông…

Sách cũng in lại lời giới thiệu của Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến in theo Lời nói đầu tập truyện ngắn Tướng về hưu năm 1988. Ông nhận xét rằng: “Trong tập truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp rùng rợn hơn cả vẫn là những sự việc hết sức bình thường nhưng bộc lộ sự đốn mạt, sự hèn kém của con người, giữa mọi sự nhố nhăng, sống sít tòi ra cái tâm lý vụ lợi, vụ lợi một cách khinh bạc, trắng trợn và muối mặt, táng tận lương tâm, tâm lý này đương trở thành một nếp ăn sâu trong não trạng, tâm thuật của con người hiện đại, có cơ sở trở thành một nét chủ đạo trong nhân cách của nó”.

Trong lời giới thiệu dài hơn 3.500 chữ, Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến không những chỉ ra nhiều nét độc đáo trong văn chương của Nguyễn Huy Thiệp mà thêm vào đó lý giải tại sao nhiều người lại yêu mến văn của ông đến như vậy.

Theo Nhà xuất bản Trẻ, cuốn sách không nhằm tập hợp lại tất cả truyện ngắn từ trước đến nay của Nguyễn Huy Thiệp mà chỉ chọn lựa ra những tác phẩm tiêu biểu nhất mà qua đó “bạn đọc thấy được chân dung một cây viết truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam đương đại với những chặng đường sáng tác mà ông đã đi qua”.

Nguyen Huy Thiep anh 2

Cố nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Ảnh: Y.N

Đây không phải là tuyển tập truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp duy nhất tại Việt Nam, gần đây cũng có một ấn bản khác do Đông A phát hành.

Theo anh Nguyễn Phan Bách, con trai nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, bản quyền các truyện ngắn do gia đình nắm giữ. Gia đình luôn mong muốn tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp được giới thiệu rộng rãi với công chúng, vậy nên không kí hợp đồng độc quyền với riêng nhà phát hành nào cả. Hai bên đại diện của hai nhà phát hành cũng đã trao đổi trước khi ra sách, hai bản sách cũng khác nhau về cách trình bày, lựa chọn và sắp xếp truyện ngắn.

Sau tuyển tập Tướng về hưu & những truyện khác của Nguyễn Huy Thiệp, Nhà xuất bản Trẻ cũng sẽ giới thiệu các ấn bản đặc biệt của các nhà văn Bảo Ninh, Dương Hướng, Nguyễn Việt Hà và Hồ Anh Thái.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là một trong những tượng đài văn chương đương đại Việt Nam. Tên tuổi của ông vượt ra thế giới với nhiều cuốn sách xuất bản tại Pháp, Mỹ, Thụy Điển, Italy. Ông từng nhận huân chương Văn học Nghệ thuật Pháp (2007), giải thưởng Premio Nonino (Italy, 2008). Ông qua đời vào ngày 20/3/2021, để lại niềm thương tiếc cho nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam.

Nguồn: https://zingnews.vn/ra-mat-an-ban-sach-dac-biet-cua-co-nha-van-nguyen-huy-thiep-post1329271.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Trò chơi điện tử dựa trên những bài thơ của Emily Dickinson

Người chơi game EmilyBlaster sẽ phải bắn những chữ từ trên trời rơi xuống để xếp thật chính xác những câu thơ của Emily Dickinson.

Bạn đã bao giờ tưởng tượng mình sẽ chơi game trên máy tính dựa theo những bài thơ của Emily Dickinson? Giờ đây, điều đó đã thành sự thật khi game EmilyBlaster – một game cổ điển hơi hướm những năm 1980 được tung ra thị trường. Người chơi sẽ phải bắn những chữ từ trên trời rơi xuống để xếp thật chính xác những câu thơ của Emily Dickinson.

Dung game tu tho anh 1
Bìa tiểu thuyết Tomorrow, and Tomorrow, and Tomorrow. Ảnh: Penguin.

Nhà xuất bản Vintage của Anh cho ra mắt trò chơi máy tính EmilyBlaster dựa trên một trò chơi trong sách. EmilyBlaster là phiên bản đời thực của tiểu thuyết Tomorrow, and Tomorrow, and Tomorrow của Gabrielle Zevin sẽ ra mắt trong tháng tới.

Cuốn sách của Zevin kể về Sadie và Sam, hai người gặp nhau hồi nhỏ trong phòng vi tính của một bệnh viện vào năm 1987. Tám năm sau, họ tái ngộ và chung tay thiết kế trò chơi trên máy tính. Một trong số đó chính là trò EmilyBlaster, giờ đây độc giả cũng có thể trải nghiệm giống nhân vật trong truyện.

Trò chơi có ba cấp độ khác nhau, mỗi cấp độ là trích đoạn một câu thơ nổi tiếng của Dickinson: Cấp độ 1 là That Love is all there is, cấp độ 2 là We talked as Girls do và cấp độ 3 là Hope is the thing with feathers.

Dung game tu tho anh 2

Game lấy cảm hứng từ thơ của Emily Dickinson. Ảnh: Vintage.

Game EmilyBlaster của Sadie trong tiểu thuyết được đánh giá là “tuyệt vọng và chẳng có nhiều thời gian để chơi”. “Những phần thơ rời rạc sẽ được thả ngẫu nhiên từ phía trên màn hình và người chơi phải sử dụng một cây bút lông bắn ra mực để nối những từ với nhau tạo thành một câu thơ hoàn chỉnh của Dickinson cuối màn hình”, Zevin giải thích trong cuốn tiểu thuyết.

“Sau khi người chơi đã vượt cấp thành công bằng nhiều bài thơ khác nhau thì sẽ kiếm được điểm để trang trí cho căn phòng tại Amherst của Dickinson”, tác giả Zevin nói về luật chơi.

Độc giả sẽ thấy trong truyện, học sinh của Sadie ghét trò chơi này, thậm chí có học sinh còn nghĩ rằng “đồ họa thì đẹp đấy nhưng trò chơi thì tệ hại”. Zevin nói với LitHub: “Tôi nghĩ rằng phong cách câu ngắn, hàm ý súc tích của Dickinson và những cụm từ dễ nhớ sẽ tạo nên những mục tiêu tuyệt vời nhất cho người chơi”. Cô nói thêm: “EmilyBlaster sẽ lôi cuốn người chơi với mức độ khó phù hợp”.

Đây là lần đầu tiên nhà xuất bản Vintage cho ra mắt trò chơi máy tính dựa trên một trò chơi trong sách. Nhà xuất bản đã tạo một trang web cho phép mọi người chơi EmilyBlaster tạo ảnh đại diện theo phong cách thập niên 1980 mang dấu ấn cá nhân họ. Khi tác giả Zevin đến Anh vào tháng 7 tới đây, một máy chơi game dùng xu với nhiều hình bìa sách sẽ được lắp đặt tại Donkey Kong, Waterstones Piccadilly ở London trong vòng một tuần.

Dung game tu tho anh 3

Hailee Steinfeld đóng vai nhà thơ Emily Dickinson trên Apple TV+ series. Ảnh: Apple TV+.

Zevin là tác giả của một số tiểu thuyết như Sách ngược đời xuôi – cuốn sách sắp được dựng thành phim với sự tham gia của Lucy Hale, Kunal Nayyar, Christina Hendricks và David Arquette.

Nữ nhà văn cũng viết sách cho thiếu nhi, như Elsewhere (tạm dịch Ở nơi khác), tác phẩm đã giành giải thưởng sách cho trẻ em của Sheffield đồng thời lọt vào danh sách giành huân chương Carnegie.

Việc thiết kế trò chơi ngoài đời thực dựa trên trò chơi trong sách không được phổ biến nhưng đã từng có một vài thành công. Ví dụ, The WitcherTom Clancy’s Rainbow Six Siege, cả hai game này đều bước ra từ trang sách. Mới đây, một trò chơi tương tác tên là We Are Not All Alone Unhappy (tạm dịch Chúng ta không bất hạnh một mình) đã yêu cầu người chơi phải tạo ra những cặp từ các nhân vật có kết cục không mấy tốt đẹp trong những vở kịch của Shakespeare.

Emily Elizabeth Dickinson (10/12/1830 – 15/5/1886) là một nhà thơ Mỹ. Cùng Walt Whitman, Emily Dickinson đã trở thành nhà thơ đặc sắc nhất của Mỹ trong thế kỉ 19.

Nguồn: https://zingnews.vn/tro-choi-dien-tu-dua-tren-nhung-bai-tho-cua-emily-dickinson-post1327067.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Chuyện rong ruổi trên những dặm đường của một nhà báo

“Nghề báo, chân đi mang đến cho tôi cơ hội ngược xuôi 63 tỉnh thành trong cả nước”, nhà báo Đức Liên chia sẻ trong cuốn sách của mình.

Góp nhặt những trải nghiệm trên hành trình khám phá nhiều vùng đất, nhà báo Đức Liên viết nên cuốn Trên những dặm đường. Cuốn sách ra mắt bạn đọc nhân dịp kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6.

Cuốn sách gồm nhiều hình ảnh đẹp do chính anh bấm máy, là những góc nhìn mang tính khám phá, trải nghiệm, đi kèm ghi chép chân thực của tác giả. Tất cả đưa bạn đọc qua nhiều quốc gia với các câu chuyện văn hóa thú vị.

Nhiều năm công tác tại các cơ quan báo chí, nhà báo Đức Liên có cơ hội đặt chân đến khắp vùng miền ở Việt Nam và các quốc gia trên thế giới. Sau Lửa giàn khoan, Đến và đi, những trải nghiệm từ nhiều chuyến đi được anh ấp ủ để đưa vào cuốn sách ảnh này.

nha bao Duc Lien anh 1

Bìa cuốn sách Trên những dặm đường của nhà báo Đức Liên. Ảnh: NXB Thanh niên.

Cuốn sách được viết bằng giọng văn mộc mạc, đầy cảm xúc, tựa một cẩm nang du lịch. Nó hấp dẫn bạn đọc vì khơi gợi được giấc mơ khám phá những miền đất lạ, thôi thúc mỗi chúng ta vác balo lên và đi.

“Thiên nhiên, phong cảnh, lịch sử, văn hóa, kiến trúc, ẩm thực… của mỗi quốc gia trở thành bài học sinh động, thực tế, giúp tôi tích lũy kiến thức, mở rộng tầm nhìn”, tác giả viết.

Cuốn sách gồm các bài viết nhỏ mà ở đó, tác giả thường gắn trải nghiệm của mình với một địa danh cụ thể. Có thể kể đến Tản mạn nước Mỹ, Một ngày trên đất Mexico, Đón Tết ở Nhật, Tình yêu Paris, Thụy Sĩ – Trái tim quyến rũ của châu Âu, Havana – Thành phố di sản thế giới…

Các hình ảnh đưa vào sách được chọn lọc như một bức tranh tổng thể nhiều màu sắc từ các quốc gia mà anh từng đặt chân đến. Qua đó, tác giả dẫn dắt người đọc cùng đi qua mùa xuân, hạ, thu, đông; từ các quốc gia châu Á, châu Âu, châu Đại Dương đến châu Mỹ Latinh.

Độc giả hẳn sẽ cảm thấy thú vị khi đọc bài viết Kinh nghiệm du lịch 10 nước châu Âu chỉ với 55 triệu đồng. Ở đó, nhà báo Đức Liên chia sẻ kinh nghiệm du lịch tự túc của mình cùng một số bí quyết săn vé máy bay giá rẻ, thuê khách sạn, chọn điểm vui chơi.

Đó đều là lối trải nghiệm năng động, giúp rèn luyện kỹ năng đi du lịch một mình trên thế giới cho những ai, đặc biệt là các bạn trẻ, muốn tự khẳng định mình với ước mơ chinh phục năm châu bốn biển.

Hay trong bài viết Tôi đi chuyên cơ cùng thủ tướng, nhà báo Đức Liên chia sẻ câu chuyện tác nghiệp tại Hội nghị thượng đỉnh Á – Âu (ASEM 4) tổ chức tại Đan Mạch và góc nhìn riêng của anh thông qua chuyến đi tới Iceland, Bỉ, Luxembourg và Đan Mạch.

Tác giả cho hay: “Tôi may mắn đi vòng quanh đến 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, so với các phượt thủ, chưa đáng là bao, nhưng với cá nhân thì bao nhiêu dặm đường đã đi qua là vượt cả mong đợi”.

Trên những dặm đường ấy, có chuyến đi tác giả chỉ “cưỡi ngựa xem hoa”, nhưng cũng có những hành trình anh nhẩn nha nhìn ngắm các công trình kiến trúc, vừa hòa mình vào nhịp sống hiện đại, vừa chan hòa với thiên nhiên ở các miền đất đa chủng tộc.

Nguồn: https://zingnews.vn/chuyen-rong-ruoi-tren-nhung-dam-duong-cua-mot-nha-bao-post1328580.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Kinh phí xuất bản và chuyện thành, bại của những tờ báo xưa

Từ 1945 trở về trước, việc xuất bản báo nhà nước hoặc báo tư nhân, câu chuyện kinh phí xuất bản báo luôn là vấn đề thiết thân đến sự tồn vong của tờ báo.

kinh phi xuat ban bao xua anh 1

Những tờ báo xưa, nhất là những tờ nhật bản như Hà thành ngọ báo, Trung hòa nhật báo, Sài Gòn... thường có cơ sở vật chất dồi dào, trường vốn, nên việc xuất bản báo thuận tiện. Lại có những tờ báo như Đại Nam đồng văn nhật báo, Nam Việc công báo, Nam Phong tạp chí, Trung Bắc tân văn… được chính quyền hỗ trợ kinh phí, phát hành nên sống khỏe. Còn lại những tờ báo Đời mới, Sống, Tiếng vang làng báo… do ít vốn, thường phải xuất bản theo kiểu chạy ăn từng bữa.

An Nam tạp chí tự thân xuất bản, vô vàn khó khăn

Kinh phí xuất bản báo, có thể nghe Tản Đà tự thuật với tờ An Nam tạp chí. Trước hết là ở chi phí cho việc xuất bản tờ An Nam tạp chí. Trong số 10, ra ngày 1/3/1927, ông Chủ bút An Nam tạp chí tâm sự báo để sống được, mỗi tháng các khoản chi phí chưa tính tiền nhà in, tiền thuê nhà, công người làm thì không dưới 200 đồng. Để tồn tại qua được 10 số báo, nhà thơ phải xoay xở mọi phương cách.

kinh phi xuat ban bao xua anh 2

Trụ sở báo L’Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ). Ảnh: Manhhai/flickr.

Trong bài “An Nam tạp chí chủ nhân Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu kính trình độc giả chư tôn” trên An Nam tạp chí số 10, ra ngày 1/3/1927, tính toán của Tản Đà thì ông phải nhờ anh em bạn hữu, cùng tiền bán sách, tổng cộng hết 700 đồng đổ vào sự nghiệp xuất bản tờ An Nam tạp chí. Nhưng vì tiền không có, một thân phải lo đủ thứ, đến lúc này không còn vay mượn được nữa, đành phải đình bản đứa con cưng của mình. An Nam tạp chí ra mắt được chẵn 10 số thì tạm dừng.

Khi thi sĩ muốn cho An Nam tạp chí trở lại, ông đã tâm sự với người cháu Nguyễn Văn Phúc, nhưng rồi đụng tới vấn đề hoạt động, là mắc ngay bởi chữ tiền: “Nhưng vấn đề cần thiết nhất là vấn đề tài chính. Nếu không có tiền thời không làm được việc. Mà nghĩ cách xoay tiền thời thi sĩ lại bất lực”, người cháu Nguyễn Văn Phúc đã chia sẻ như thế trong Tôi với Tản Đà.

kinh phi xuat ban bao xua anh 3

Báo Sống số 1, ra ngày 22/1/1935 tại Sài Gòn. ẢNH: TL.

Làm báo đã vất vả, mà có lúc còn mang nợ vào thân. Tản Đà sau lần đình bản An Nam tạp chí, năm 1930 đã cho tờ này ra lại, chỉ vì một lý do, được Lan Khai tiết lộ trong bài “Một tháng với Tản Đà: Đời làm báo của Tản Đà” trên báo Ngày nay số 171, ra ngày 22/7/1939, là bởi Tản Đà còn nợ ông ấm phố Hàng Gai một khoản tiền, nên phải hợp tác để ông ấm kia thu nợ dần. Ông ấm giữ mặt tài chính, lo việc thu tiền mua báo, chi phí in ấn và các khoản chi tiêu khác, còn Tản Đà chỉ trông nom bài vở.

Phụ thuộc kinh phí vào nhà đầu tư, có trường hợp Đông Tây tuần báo của Quỳnh Dao. Đầu năm 1942, Đông Tây tuần báo ra đời do Quỳnh Dao giữ chân chủ bút kiêm trị sự, Lưu Hồ là Chủ nhiệm báo, Anh Thơ làm biên tập, Hồ Thu là họa sĩ. Làm chủ nhiệm báo, Lưu Hồ là người chi tiền để nuôi báo, còn mọi việc đều vào tay Quỳnh Dao cả. Anh chàng 21 tuổi đứng chân chủ nhiệm chỉ để ra oai. Ra số Tết, số Xuân 1943, nhưng sau đó vì Lưu Hồ hết tiền, báo không ra được số 5, rồi bị đình bản.

Cũng tự thân mở báo như tác giả Thề non nước, nhưng óc tổ chức có phần tốt hơn, Lê Tràng Kiều được Phạm Cao Củng khen có tài tổ chức, có sáng kiến táo bạo. Tuy nhiên, tờ này cũng mắc phải yếu tố căn cốt, là tiền; bởi vậy khi ra báo, người thực hiện phải giật gấu vá vai chạy từng số và rồi báo Tân thiếu niên của Tràng Kiều cũng phải vào phận hẩm hiu.

“Muốn tự mình ra một tờ báo độc lập, không bị chi phối bởi một đảng phái hay một kẻ bỏ tiền vốn thì chỉ còn có một cách là ‘giật gấu vá vai’, vay món này đập món nọ, lo chạy tiền in, tiền giấy cho từng số báo một, mà ra báo, tiền bán báo dù báo chạy, so với tiền in, tiền giấy thì chưa thấm vào đâu. Báo muốn sống thì cần phải có nhiều quảng cáo, mà báo ra đều và sống khá lâu rồi thì mới dễ lấy quảng cáo”, Phạm Cao Củng đã rút kinh nghiệm làm báo tự thân trong Hồi ký Phạm Cao Củng.

Tuần báo Sống ra số đầu tiên ngày 22/1/1935 tại đất Sài Gòn. Ngay khi báo mới ra, kinh phí để xuất bản báo khá hẻo. Nhớ lại trong hồi ký Núi Mộng gương Hồ, Mộng Tuyết biết được tình hình phải gửi vòng vàng lên để góp vốn giúp báo duy trì. Để có kinh phí ra báo, Mộng Tuyết, Lê Thị Đức, Lê Thị Thượng và Trần Hữu Trang phải đi cổ động ở khắp nơi để kêu gọi độc giả mua báo. Sau 30 số xuất bản, vì không tự túc được kinh phí, báo phải tự đình bản.

Nam Phong tạp chí nhận trợ cấp 600 đồng mỗi tháng

Tự túc kinh phí để ra báo, nếu nguồn tài chính không dồi dào như nhà Tân Dân, Mai Lĩnh, thì các chủ báo đa phần rơi vào cảnh “chạy ăn từng bữa” kiểu An Nam tạp chí, Sống. Có báo phải thuê mặt bằng, thuê in ấn như An Nam tạp chí, nhưng cũng có báo chủ động được nhiều khoản, như Trung hòa nhật báo, Tiếng dân, Con ong có nhà in riêng.

Có báo được thực dân bảo trợ, nhưng có báo phải tự thân vận động, đó là chưa kể còn bị gây khó dễ từ chính quyền. Báo nào được hậu thuẫn thì sống khá lâu, còn những báo phải tự túc, hoặc bị chính quyền nhòm ngó thì sống trong tình trạng luôn thấp thỏm với hai chữ “đình bản”.

kinh phi xuat ban bao xua anh 4

Nam Phong tạp chí số 72, ra tháng 6/1923. Tờ báo này được hỗ trợ kinh phí và hỗ trợ phát hành. ẢNH: T.L.

Xem trường hợp của Nam Phong tạp chí, báo này Vương Hồng Sển có nói là được bảo trợ để tuyên truyền cho thực dân, lối phát hành thì các làng xã phải gánh mua, mà chưa hẳn đã đọc. Mỗi tháng, Nam Phong tạp chí được chính quyền cấp cho một khoản kinh phí là 600 đồng, trong khi đó Trung Bắc Tân văn được nhận khoản thấp hơn một chút là 500 đồng, theo lời Nguyễn Công Hoan trong Đời viết văn của tôi.

Có những báo lại sống nhờ vào sự ủng hộ của độc giả, mà cụ thể ở đây là báo của những người hoạt động cách mạng cứu nước. Là người tham gia làm báo cuối những năm 1930, Hoàng Quốc Việt trong hồi ký Chặng đường nóng bỏng cho biết khi báo mới ra “tiền thuê in báo thoạt tiên là tiền ủng hộ, khi có báo bán rồi, một phần lãi trang trải cho anh em có cái ăn, còn chủ yếu là làm vốn, tiếp tục ra báo”.

Riêng với báo tiếng Pháp, do đối tượng độc giả hẹp hơn báo quốc ngữ, chủ yếu là trí thức, công chức mua, nên báo tiếng Pháp, cụ thể là báo cộng sản “người mua báo vừa mua vừa ủng hộ nữa. Thỉnh thoảng trên báo lại có mục cảm ơn người ủng hộ, không nói rõ tên, kèm số tiền”.

Nguồn: https://zingnews.vn/kinh-phi-xuat-ban-va-chuyen-thanh-bai-cua-nhung-to-bao-xua-post1328216.html

Tiếp tục đọc

Xu hướng