Connect with us

Tác giả

Nghề văn qua góc nhìn của Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Nhật Ánh cho rằng nghề văn phải bắt đầu từ con chữ, Tô Hoài nói văn nhân phải học hỏi suốt đời, còn Nguyễn Ngọc Tư định nghĩa nhà văn là người kể câu chuyện của mình.

Đúc rút từ kinh nghiệm của mình, các nhà văn chuyên nghiệp đã nêu ra những nhận định, quan điểm về nghề trong cuốn Nhà văn nói về nghề. Ở đó không có những tác phẩm đỉnh cao, sự thừa nhận hay tôn vinh của xã hội, các nhà văn đã cúi xuống thật gần trang viết để cho bạn đọc thấy sự miệt mài học hỏi, tích lũy, dụng công sáng tạo với con chữ.

Nha van noi ve nghe anh 1

Sách Nhà văn nói về nghề. Ảnh: Y Nguyên.

Nhà văn phải trau dồi, học chữ trong suốt cuộc đời cầm bút

Nghề văn được xã hội gắn với nhiều trách nhiệm, sứ mệnh cao cả. Song đối với nhà văn, đó trước tiên là một nghề như biết bao nghề khác. Các cây bút nổi tiếng như Tô Hoài, Nguyễn Nhật Ánh đưa ra những định nghĩa và góc nhìn về nghề một cách dung dị, dễ hiểu.

Trong bài “Bắt đầu từ những con chữ”, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh cho rằng nghề văn bắt đầu từ những con chữ. Theo tác giả Mắt biếc, công cụ nghề văn rất đơn giản, chỉ cần một cây bút, một xấp giấy là có thể ung dung hành nghề; thuận tiện, hiện đại hơn là dùng máy tính để viết. Nguyên liệu của nghề văn còn đơn giản hơn, không phải bỏ tiền ra mua sắm: “Thợ mộc cần gỗ, thợ may cần vải, thợ hồ cần xi măng, còn nhà văn chỉ cần… chữ”.

Nhưng không phải ai có chữ, có giấy, có bút cũng có thể trở thành nhà văn.

“Nhà văn ắt nhiên phải giỏi dùng chữ”, Nguyễn Nhật Ánh viết. Tác giả Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh cho rằng để giàu chữ phải đọc hàng trăm cuốn sách, đọc hàng nghìn tờ báo, thấy hiểu những nội dung ấy.

Có chữ rồi phải biết dùng chữ: “Người biết cách kiếm tiền chưa chắc đã là người biết cách xài tiền. Nghề văn cũng vậy, kiếm chữ thì dễ mà dùng chữ mới thiệt là khó. Khó ở chỗ bạn biết chắc bạn có rất nhiều chữ trong bộ nhớ nhưng đến khi cần dùng thì tìm hoài không ra, không biết nó nằm ở ngóc ngách nào trong đầu bạn”.

Cao hơn, người viết phải dùng chữ tạo ra nghĩa. “Chữ chứa nghĩa như con thuyền chứa món đồ mà nó chuyên chở. Nó không phải là con thuyền rỗng không”. Tuy chữ là nguyên liệu của nhà văn, chỉ ở khía cạnh hình thức. Nguyên liệu thực sự là cái mà những con chữ chuyên chở, tức là nghĩa, nói khác đi, là những ý tưởng.

Nhà văn Tô Hoài cũng đề cao con chữ trong bài viết “Chữ, tiếng nói”. Ông cho rằng học chữ và tiếng nói phải công phu trau dồi bất cứ lúc nào và ở đâu trong cuộc đời người viết.

Tác giả Dế mèn phiêu lưu ký kể về việc học hỏi của mình: “Nguồn tiếng nói hàng ngày bồi đắp cho người viết văn. Sách báo cũng bồi đắp ngôn ngữ cho người viết văn. Thôi thì thượng vàng hạ cám, cái gì đến tay tôi cũng đọc, sách báo nào có chữ khang khác tôi không biết, tôi cũng ghi. Truyện cổ, truyện tiếu lâm, truyện của các nhà văn Kim Lân, Bùi Hiển, Đoàn Giỏi thường giàu có màu sắc, nhiều chữ hay, tôi chú ý lấy ra”.

Nhà văn Ma Văn Kháng cũng coi nhà văn là những người mê mải học nghề. Ông cho rằng với văn chương nghệ thuật, có cái gọi là năng khiếu trời cho, nhưng cũng có vốn sống tạo nên. Nhà văn viết tác phẩm không phải chỉ bằng chất liệu, bằng cảm hứng mà còn bằng các hiểu biết về nghề nghiệp.

Tác giả Mùa lá rụng trong vườn viết: “Nghệ thuật dừng lại ở cái riêng. Trong sáng tác văn chương, kinh nghiệm luôn mang ý nghĩa cá nhân. Không có chuyện cầm tay chỉ việc ở đây. Thành ra, có thể nói nghề văn là nghề tự đào tạo”.

Cũng giống Tô Hoài, Ma Văn Kháng cho rằng nghề văn cần học hỏi suốt đời: “Học nghề mải mê, không biết mệt, nếu anh còn muốn tiếp tục sống với cái nghề vất vả cực nhọc và tràn đầy niềm vui này”.

Nha van noi ve nghe anh 2

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh cho rằng muốn trở thành nhà văn, hãy bắt đầu từ việc học dùng chữ. Ảnh: Y Nguyên.

Hạnh phúc của người cầm bút

Nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng nhà văn là người nặng lòng với cuộc đời. Tác giả Mảnh trăng cuối rừng viết: “Người viết văn là người rất nặng nợ với đời. Cuộc đời của anh ta là một cuộc đời không bao giờ được phép ngừng lăn lộn trong cuộc sống thực tế, không bao giờ ngừng nghiên cứu và quan sát xã hội”.

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng định nghĩa một cách giản dị, không kém phần kiêu hãnh về nhà văn. Trong bài diễn từ nhận giải thưởng Literaturpreis 2018 có tên “Thế đứng của người viết”, Nguyễn Ngọc Tư cho rằng nhà văn là người kể chuyện.

Tác giả Cánh đồng bất tận nói bên trong chị luôn có những lời thì thầm thúc giục kể lại câu chuyện. “Hãy kể câu chuyện này, nó là của bạn”, khi lời thì thầm cất tiếng, nhà văn đất Cà Mau sẽ quên hết thực tại để sống với câu chuyện của mình. Khi đi chợ, nấu ăn, đưa đón con tới lớp, trong bữa tiệc tùng… bất cứ khi nào chị cũng có thể đuổi theo câu chuyện mà mình đang, sẽ kể.

“Tôi tin người ta luôn có những câu chuyện giống nhau, cùng sở hữu một vốn từ ngữ gần như nhau, nhưng mỗi người sẽ có một cách kể của riêng mình, từ cách chạm vào đời sống, cách người ta đặt tấm gương đón nhận những hình ảnh phản chiếu của đời sống ấy, tái tạo lại với tài năng thiên bẩm, sự trắc ẩn và tinh tế”, Nguyễn Ngọc Tư viết.

Tuy vất vả, cực nhọc, song nhà văn cũng được hưởng những niềm vui, hạnh phúc từ công chúng mang lại. Nhà văn Bảo Ninh trong bài viết “Mấy cảm nghĩ về nghề văn” đã nói về niềm hạnh phúc của người cầm bút.

“Không biết có còn nước nào như thế nữa không mà nghề văn, nhà văn được đông đảo các tầng lớp nhân dân trọng thị và yêu mến nhường ấy. Nhà thơ, nhà văn, vậy là đủ, là bạn sẽ được hưởng niềm cảm mến, sự ưu ái, thái độ chí tình và thân thiện của mọi người xung quanh, cho dù mọi người chưa đọc tác phẩm, thậm chí chưa từng nghe đến tên bạn”, tác giả Nỗi buồn chiến tranh viết.

Nhà văn Bảo Ninh đặt nhà văn trong muôn nghề khác để lý giải những điểm khác biệt. Ông cho rằng nhà văn không cao hơn, nổi trội hơn các nghề khác nhưng vẫn được quý mến, bởi bản tính, lối sống, thần thái của họ là cô đọng của bản sắc nhân dân trong thời đại họ đang sống. Do vậy, thời đại nào thì văn nhân cũng vừa gần gũi, thân cận lại có vẻ lạ lùng, hơi tách biệt, dễ gây chú ý.

Nguồn: https://zingnews.vn/nghe-van-qua-goc-nhin-cua-nguyen-nhat-anh-nguyen-ngoc-tu-post1294636.html

Tác giả

Giải mã Haruki Murakami qua âm nhạc và ngôn từ

Với sự am hiểu, thân cận với tác giả, trong “Haruki Murakami và âm nhạc của ngôn từ”, Jay Rubin đã lý giải con đường Murakami chọn, từ đó đưa ông đến hành trình chinh phục độc giả.

Haruki Murakami là người được đồn đoán hàng năm cho giải Nobel, là người đã chiến thắng hầu hết giải “tiền Nobel” và cũng là người mà cứ mỗi một tác phẩm ra đời, thì làng văn thế giới lại được dịp chao đảo.

Điều gì đã khiến tác phẩm của ông có sức hút và những điều ấy khởi nguồn từ đâu? Haruki Murakami và âm nhạc của ngôn từ sẽ dẫn dắt người đọc đi từ nội hàm: Là cuộc đời và các tác phẩm của nhà văn; cho đến ngoại hàm, là những vấn đề xã hội được ông khai thác dưới lớp vỏ văn chương.

Murakami anh 1

Jay Rubin và Haruki Murakami. Ảnh: finding-haruki.

Murakami không ngừng chuyển mạch

Khởi nguồn từ những truyện ngắn đầu tay như Nàng Ipanema 1963/1982 cho đến tiểu thuyết đầu tay Lắng nghe gió hát; các yếu tố truyền thống Nhật Bản dường như chưa hề tồn tại trong tác phẩm của Murakami.

Nếu Kawabata có các nàng vũ nữ, có cái rung động tinh tế rất Nhật, Mishima thì có nỗi trầm uất của Samurai; thì ngược lại, Murakami không có gì cả. Ngay từ lúc bước chân vào làng văn, ông đã thể hiện một sự “chống Nhật triệt để”, như là hậu quả của nhiều yếu tố.

Sinh ra trong một gia đình trung lưu ngoan đạo, từ nhỏ Murakami đã được hướng theo một nền giáo dục gia giáo. Trong khi mẹ ông muốn ông thấm nhuần tính Nhật, thì ngược lại, ông chỉ thích Dostoyevski, Stendah và nhà văn Nhật duy nhất ông đọc lạ thay lại là Tanizaki Junichiro. Phản kháng lại sự áp đặt của cha mẹ, khi vào đại học ông kết hôn sớm cùng bà Yoko và mở quán bar nhạc Jazz để sống qua ngày.

Nhút nhát, cô độc và không tham gia và các phong trào sinh viên thời bấy giờ, Murakami đã vật lộn với nghiệp viết văn trong lúc phục vụ quầy bar và chỉ viết khoảng 2-3 giờ sáng sau khi thái hành và quán bar đóng cửa.

Ở thời điểm đó, câu văn của ông thường ngắn và chịu ảnh hưởng bởi Kurt Vonnegut. Ông viết từng chút do không biết mình đang viết gì, và có những lúc phải viết bằng tiếng Anh để rồi dịch ngược trở lại sang tiếng Nhật.

Tuy thế mà những thành công liên tục đến với ông. Sau Lắng nghe gió hát được gửi và chiến thắng giải thưởng của tạp chí Gunzo, Murakami đã bước đầu đi trên hành trình hình thành thế giới của riêng mình.

Pinball 1973 là cuốn đầu tiên như thế, với các nhân vật Boku, Chuột và hệ thống những nhân vật phụ không ngừng biến đổi, thay hình đổi dạng trong các tác phẩm về sau. Cõi tưởng tượng của Murakami lên cao nhất ở Cuộc săn cừu hoang, cho đến khi chuyển sang xu hướng tự sự ở Rừng Na Uy và tiệm cận về gần chất Nhật hơn ở Ngầm.

Murakami đã cho rằng cuộc sống là buổi diễu hành của những điều vụn vặt, cho nên với ông, ký ức là tiểu thuyết mà tiểu thuyết cũng là ký ức. Trong các tác phẩm của mình, ông dùng danh xưng “Boku” – “tớ”, từ góc nhìn của người quan sát, cho lời khuyên và không hẳn là chủ thể hành động, mà chỉ tiếp nhận thông tin và đưa nó vào thế giới của mình.

Sau những câu văn gọn, nhanh ở quãng đầu sáng tác, Jay Rubin cho thấy bắt đầu từ Cuộc săn cừu hoang, câu văn của Murakami đã bắt đầu dài ra, với các yếu tố tự sự hơn. Giờ đây ông không chỉ nắm bắt, mà là lôi chúng từ trong bản thân mình ra một cách tự phát. Tuy cũng trùng hợp là không ý thức, văn chương giờ đây đã có mục đích hơn.

Tưởng tượng lên đến cao nhất của Murakami trong thời kỳ đầu không thể không nhắc đến Xứ sở kỳ diệu bạo tàn Nơi chốn tận cùng của thế giới. Ở tiểu thuyết đó, ông đã tạo dựng ra hai thế giới tồn tại song song, một tưởng tượng và một thực tại.

Cũng như nhạc Jazz mà ông yêu thích, quá trình viết văn hoàn toàn diễn ra trong việc ứng tác, nơi ông không biết mình có thể sẽ đi đến đâu, mà chỉ viết bằng niềm tin phá vỡ cấu trúc gò ép cũng như định kiến ngăn cản dòng chảy ngẫu hứng. Bước chuyển đổi này khiến Xứ sở kỳ diệu bạo tàn Nơi chốn tận cùng của thế giới là một tác phẩm quan trọng, tạo bước đệm cho thành công tiếp theo.

Xen giữa những tiểu thuyết dài viết đến “kiệt sức” – như Jay Rubin cũng chỉ ra đây, Murakami còn là một người chuyên viết truyện ngắn cũng như dịch thuật văn chương từ khối Anh ngữ sang tiếng Nhật.

Đối với ông, sáng tạo truyện ngắn chính là luận điểm để từ đó phát triển thành các truyện dài; trong khi dịch thuật là việc trị liệu, là quá trình “tái hòa nhập” trở lại sau sự kiệt quệ cũng như cú shock vì sự yêu thích quá lớn dành cho các tác phẩm của mình.

Những nhà văn được ông yêu thích và thường xuyên dịch có thể kể đến F.S.Fitzgerald, Raymond Carver, Tim O’Brien… và cả sau này ông đã phát triển một mối thâm tình với Carver, người ở cách ông hơn nửa địa cầu.

Như vậy có thể thấy rằng quá trình sáng tác của Murakami là những ngẫu nhiên, ứng tác, và cố hòa nhập cùng nhau trong những hình tượng đã được đặt để như một ma trận.

Tới Rừng Na Uy, và cũng chính là giai đoạn danh tiếng bùng nổ, Murakami đã chọn hướng tiếp cận khác, khi bỏ qua các thế giới tưởng tượng để đến gần hơn với dòng tự sự của những người trẻ, phá vỡ quy tắc trước đó từng đặt ra ở Lắng nghe gió hát là không viết về tình dục cũng như cái chết.

Lạ thay một nỗi, tác phẩm ít yếu tố Murakami nhất lại là cuốn sách thành công vang dội, mà như đã biết, cứ 7 người Nhật lại có một người đọc Rừng Na Uy.

Tuy thế Murakami không hề quen thuộc với sự nổi tiếng vì đại trà này. Jay Rubin cũng tiết lộ rằng ông từng thấy shock và phải cùng với Yoko chạy biến sang châu Âu để có thời gian bắt tay vào các dự án mới, và đó chính là Nhảy nhảy nhảy.

Như vậy có thể thấy rằng Murakami không ngừng chuyển mạch. Ông đi từ việc kết hợp trinh thám (Cuộc săn cừu hoang), sang ứng tác Jazz (Xứ sở kỳ diệu bạo tàn và Nơi chốn tận cùng thế giới), tới Pop (Rừng Na Uy), rồi hỗn loạn (Nhảy nhảy nhảy) và sẽ quay về pop lại một lần nữa với Phía Tây biên giới, Phía Nam mặt trời.

Murakami anh 2

Các tác phẩm đã được chuyển ngữ của Murakami.

Sự kết nối trong các tác phẩm của Murakami

Sau quá trình chữa lành ở Nhảy nhảy nhảy và thế giới hư – thực không thể phân tranh, Murakami bắt đầu chuyển dịch gần hơn với các tác phẩm hướng về nước Nhật.

Không dùng hình tượng chủ chốt như thế hệ các nhà văn trước, ông có cách riêng để cho thấy Nhật, dù cho đó là lớp nghĩa ẩn chứa thứ hai, vẫn đang hiện diện trong văn nghiệp ông. Đó là Biên niên ký chim vặn dây cót khi Murakami lặn sâu vào những nỗi đau mà đế quốc Nhật từng gây ra trong cuộc chiến Nội Mông, là Ngầm khi ông phỏng vấn cũng như phơi bày những sự lãng tránh của chính phủ về giáo phái Aum Shinrikyo trong vụ thảm sát bằng chất độc sarin trong tàu điện ngầm.

Như vậy sau những vòng tròn chủ lưu tiếp nối, Murakami từ một người “càng quốc tế bao nhiêu thì càng ít chất Nhật Bản bấy nhiêu” giờ đây lại chứa rất nhiều câu hỏi hiện sinh về cuộc sống, cái chết và ký ức. Ông cũng lặn sâu vào những vấn đề xã hội và buộc nhà văn phải có trách nhiệm.

Những lề thói này hầu như ứng tác trong ông không có chủ đích, cũng như nhạc Jazz, nó đến bằng sự nhận thức hoàn toàn tình cờ. Như chính ông nói: “Sự tự phát chính là điều quan trọng nhất. Phải tự tin có đủ khả năng kể chuyện, phải tìm đúng mạch nước và làm các mảnh ghép khớp nối với nhau. Ta phải tin vào sức mạnh câu chuyện, từ đó khơi dậy được điều gì đó trong tinh thần mình”.

Với Haruki Murakami và âm nhạc của ngôn từ, Jay Rubin đã cung cấp những cái nhìn khác lạ cũng như phân tích những sự kết nối trong các công trình của Murakami.

Nếu là độc giả trung thành, tác phẩm này sẽ tạo được sự thích thú bởi những phân tích, góc nhìn có phần mới lạ; còn nếu là độc giả mới, thì cuốn sách này cũng sẽ góp phần vào việc khẳng định di sản Murakami, và phần nào đó cho thấy những sự chuyển biến trong cuộc đời ông. Dù đã đọc hay chưa, thì đây cũng là cuốn sách lý thú và rất đầy đủ về một nhà văn lớn.

Nguồn: https://zingnews.vn/giai-ma-haruki-murakami-qua-am-nhac-va-ngon-tu-post1329343.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Ra mắt ấn bản sách đặc biệt của cố nhà văn Nguyễn Huy Thiệp

Cuốn sách “Tướng về hưu & những truyện khác” tuyển chọn những truyện ngắn tiêu biểu làm nên dấu ấn văn chương Nguyễn Huy Thiệp qua các mảng đề tài đa dạng.

Từ những truyện ngắn đầu tiên đăng trên báo Văn nghệ và cuốn sách Tướng về hưu xuất bản năm 1988, ngòi bút Nguyễn Huy Thiệp đã đánh dấu sự có mặt của mình, định hình nên “một hiện tượng văn chương” từ thập niên cuối của thế kỷ 20 đến nay.

Mới đây chi nhánh tại Hà Nội, Nhà xuất bản Trẻ giới thiệu với bạn đọc tuyển tập Tướng về hưu & những truyện khác của Nguyễn Huy Thiệp, mở đầu cho bộ ấn phẩm đặc biệt của những nhà văn đã gắn bó với chi nhánh.

Nguyen Huy Thiep anh 1

Cuốn sách Tướng về hưu & những truyện khác. Ảnh: NXB Trẻ.

Cuốn sách được chia thành hai phần. Phần I được đặt tên Tướng về hưu, in lại truyện ngắn cùng tên theo bản in xuất bản lần đầu tại Nhà xuất bản Trẻ vào tháng 1/1988 cùng một số truyện được sắp xếp theo trình tự như Những ngọn gió Hua Tát, Con gái thuỷ thần, Chảy đi sông ơi, Không có vua…

Phần II – Những truyện khác – gồm những tác phẩm làm nên tên tuổi của Nguyễn Huy Thiệp như Thương nhớ đồng quê, Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt, Những tiếng lòng líu la líu lo, Sang sông…

Sách cũng in lại lời giới thiệu của Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến in theo Lời nói đầu tập truyện ngắn Tướng về hưu năm 1988. Ông nhận xét rằng: “Trong tập truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp rùng rợn hơn cả vẫn là những sự việc hết sức bình thường nhưng bộc lộ sự đốn mạt, sự hèn kém của con người, giữa mọi sự nhố nhăng, sống sít tòi ra cái tâm lý vụ lợi, vụ lợi một cách khinh bạc, trắng trợn và muối mặt, táng tận lương tâm, tâm lý này đương trở thành một nếp ăn sâu trong não trạng, tâm thuật của con người hiện đại, có cơ sở trở thành một nét chủ đạo trong nhân cách của nó”.

Trong lời giới thiệu dài hơn 3.500 chữ, Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến không những chỉ ra nhiều nét độc đáo trong văn chương của Nguyễn Huy Thiệp mà thêm vào đó lý giải tại sao nhiều người lại yêu mến văn của ông đến như vậy.

Theo Nhà xuất bản Trẻ, cuốn sách không nhằm tập hợp lại tất cả truyện ngắn từ trước đến nay của Nguyễn Huy Thiệp mà chỉ chọn lựa ra những tác phẩm tiêu biểu nhất mà qua đó “bạn đọc thấy được chân dung một cây viết truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam đương đại với những chặng đường sáng tác mà ông đã đi qua”.

Nguyen Huy Thiep anh 2

Cố nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Ảnh: Y.N

Đây không phải là tuyển tập truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp duy nhất tại Việt Nam, gần đây cũng có một ấn bản khác do Đông A phát hành.

Theo anh Nguyễn Phan Bách, con trai nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, bản quyền các truyện ngắn do gia đình nắm giữ. Gia đình luôn mong muốn tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp được giới thiệu rộng rãi với công chúng, vậy nên không kí hợp đồng độc quyền với riêng nhà phát hành nào cả. Hai bên đại diện của hai nhà phát hành cũng đã trao đổi trước khi ra sách, hai bản sách cũng khác nhau về cách trình bày, lựa chọn và sắp xếp truyện ngắn.

Sau tuyển tập Tướng về hưu & những truyện khác của Nguyễn Huy Thiệp, Nhà xuất bản Trẻ cũng sẽ giới thiệu các ấn bản đặc biệt của các nhà văn Bảo Ninh, Dương Hướng, Nguyễn Việt Hà và Hồ Anh Thái.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là một trong những tượng đài văn chương đương đại Việt Nam. Tên tuổi của ông vượt ra thế giới với nhiều cuốn sách xuất bản tại Pháp, Mỹ, Thụy Điển, Italy. Ông từng nhận huân chương Văn học Nghệ thuật Pháp (2007), giải thưởng Premio Nonino (Italy, 2008). Ông qua đời vào ngày 20/3/2021, để lại niềm thương tiếc cho nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam.

Nguồn: https://zingnews.vn/ra-mat-an-ban-sach-dac-biet-cua-co-nha-van-nguyen-huy-thiep-post1329271.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Trò chơi điện tử dựa trên những bài thơ của Emily Dickinson

Người chơi game EmilyBlaster sẽ phải bắn những chữ từ trên trời rơi xuống để xếp thật chính xác những câu thơ của Emily Dickinson.

Bạn đã bao giờ tưởng tượng mình sẽ chơi game trên máy tính dựa theo những bài thơ của Emily Dickinson? Giờ đây, điều đó đã thành sự thật khi game EmilyBlaster – một game cổ điển hơi hướm những năm 1980 được tung ra thị trường. Người chơi sẽ phải bắn những chữ từ trên trời rơi xuống để xếp thật chính xác những câu thơ của Emily Dickinson.

Dung game tu tho anh 1
Bìa tiểu thuyết Tomorrow, and Tomorrow, and Tomorrow. Ảnh: Penguin.

Nhà xuất bản Vintage của Anh cho ra mắt trò chơi máy tính EmilyBlaster dựa trên một trò chơi trong sách. EmilyBlaster là phiên bản đời thực của tiểu thuyết Tomorrow, and Tomorrow, and Tomorrow của Gabrielle Zevin sẽ ra mắt trong tháng tới.

Cuốn sách của Zevin kể về Sadie và Sam, hai người gặp nhau hồi nhỏ trong phòng vi tính của một bệnh viện vào năm 1987. Tám năm sau, họ tái ngộ và chung tay thiết kế trò chơi trên máy tính. Một trong số đó chính là trò EmilyBlaster, giờ đây độc giả cũng có thể trải nghiệm giống nhân vật trong truyện.

Trò chơi có ba cấp độ khác nhau, mỗi cấp độ là trích đoạn một câu thơ nổi tiếng của Dickinson: Cấp độ 1 là That Love is all there is, cấp độ 2 là We talked as Girls do và cấp độ 3 là Hope is the thing with feathers.

Dung game tu tho anh 2

Game lấy cảm hứng từ thơ của Emily Dickinson. Ảnh: Vintage.

Game EmilyBlaster của Sadie trong tiểu thuyết được đánh giá là “tuyệt vọng và chẳng có nhiều thời gian để chơi”. “Những phần thơ rời rạc sẽ được thả ngẫu nhiên từ phía trên màn hình và người chơi phải sử dụng một cây bút lông bắn ra mực để nối những từ với nhau tạo thành một câu thơ hoàn chỉnh của Dickinson cuối màn hình”, Zevin giải thích trong cuốn tiểu thuyết.

“Sau khi người chơi đã vượt cấp thành công bằng nhiều bài thơ khác nhau thì sẽ kiếm được điểm để trang trí cho căn phòng tại Amherst của Dickinson”, tác giả Zevin nói về luật chơi.

Độc giả sẽ thấy trong truyện, học sinh của Sadie ghét trò chơi này, thậm chí có học sinh còn nghĩ rằng “đồ họa thì đẹp đấy nhưng trò chơi thì tệ hại”. Zevin nói với LitHub: “Tôi nghĩ rằng phong cách câu ngắn, hàm ý súc tích của Dickinson và những cụm từ dễ nhớ sẽ tạo nên những mục tiêu tuyệt vời nhất cho người chơi”. Cô nói thêm: “EmilyBlaster sẽ lôi cuốn người chơi với mức độ khó phù hợp”.

Đây là lần đầu tiên nhà xuất bản Vintage cho ra mắt trò chơi máy tính dựa trên một trò chơi trong sách. Nhà xuất bản đã tạo một trang web cho phép mọi người chơi EmilyBlaster tạo ảnh đại diện theo phong cách thập niên 1980 mang dấu ấn cá nhân họ. Khi tác giả Zevin đến Anh vào tháng 7 tới đây, một máy chơi game dùng xu với nhiều hình bìa sách sẽ được lắp đặt tại Donkey Kong, Waterstones Piccadilly ở London trong vòng một tuần.

Dung game tu tho anh 3

Hailee Steinfeld đóng vai nhà thơ Emily Dickinson trên Apple TV+ series. Ảnh: Apple TV+.

Zevin là tác giả của một số tiểu thuyết như Sách ngược đời xuôi – cuốn sách sắp được dựng thành phim với sự tham gia của Lucy Hale, Kunal Nayyar, Christina Hendricks và David Arquette.

Nữ nhà văn cũng viết sách cho thiếu nhi, như Elsewhere (tạm dịch Ở nơi khác), tác phẩm đã giành giải thưởng sách cho trẻ em của Sheffield đồng thời lọt vào danh sách giành huân chương Carnegie.

Việc thiết kế trò chơi ngoài đời thực dựa trên trò chơi trong sách không được phổ biến nhưng đã từng có một vài thành công. Ví dụ, The WitcherTom Clancy’s Rainbow Six Siege, cả hai game này đều bước ra từ trang sách. Mới đây, một trò chơi tương tác tên là We Are Not All Alone Unhappy (tạm dịch Chúng ta không bất hạnh một mình) đã yêu cầu người chơi phải tạo ra những cặp từ các nhân vật có kết cục không mấy tốt đẹp trong những vở kịch của Shakespeare.

Emily Elizabeth Dickinson (10/12/1830 – 15/5/1886) là một nhà thơ Mỹ. Cùng Walt Whitman, Emily Dickinson đã trở thành nhà thơ đặc sắc nhất của Mỹ trong thế kỉ 19.

Nguồn: https://zingnews.vn/tro-choi-dien-tu-dua-tren-nhung-bai-tho-cua-emily-dickinson-post1327067.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Chuyện rong ruổi trên những dặm đường của một nhà báo

“Nghề báo, chân đi mang đến cho tôi cơ hội ngược xuôi 63 tỉnh thành trong cả nước”, nhà báo Đức Liên chia sẻ trong cuốn sách của mình.

Góp nhặt những trải nghiệm trên hành trình khám phá nhiều vùng đất, nhà báo Đức Liên viết nên cuốn Trên những dặm đường. Cuốn sách ra mắt bạn đọc nhân dịp kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6.

Cuốn sách gồm nhiều hình ảnh đẹp do chính anh bấm máy, là những góc nhìn mang tính khám phá, trải nghiệm, đi kèm ghi chép chân thực của tác giả. Tất cả đưa bạn đọc qua nhiều quốc gia với các câu chuyện văn hóa thú vị.

Nhiều năm công tác tại các cơ quan báo chí, nhà báo Đức Liên có cơ hội đặt chân đến khắp vùng miền ở Việt Nam và các quốc gia trên thế giới. Sau Lửa giàn khoan, Đến và đi, những trải nghiệm từ nhiều chuyến đi được anh ấp ủ để đưa vào cuốn sách ảnh này.

nha bao Duc Lien anh 1

Bìa cuốn sách Trên những dặm đường của nhà báo Đức Liên. Ảnh: NXB Thanh niên.

Cuốn sách được viết bằng giọng văn mộc mạc, đầy cảm xúc, tựa một cẩm nang du lịch. Nó hấp dẫn bạn đọc vì khơi gợi được giấc mơ khám phá những miền đất lạ, thôi thúc mỗi chúng ta vác balo lên và đi.

“Thiên nhiên, phong cảnh, lịch sử, văn hóa, kiến trúc, ẩm thực… của mỗi quốc gia trở thành bài học sinh động, thực tế, giúp tôi tích lũy kiến thức, mở rộng tầm nhìn”, tác giả viết.

Cuốn sách gồm các bài viết nhỏ mà ở đó, tác giả thường gắn trải nghiệm của mình với một địa danh cụ thể. Có thể kể đến Tản mạn nước Mỹ, Một ngày trên đất Mexico, Đón Tết ở Nhật, Tình yêu Paris, Thụy Sĩ – Trái tim quyến rũ của châu Âu, Havana – Thành phố di sản thế giới…

Các hình ảnh đưa vào sách được chọn lọc như một bức tranh tổng thể nhiều màu sắc từ các quốc gia mà anh từng đặt chân đến. Qua đó, tác giả dẫn dắt người đọc cùng đi qua mùa xuân, hạ, thu, đông; từ các quốc gia châu Á, châu Âu, châu Đại Dương đến châu Mỹ Latinh.

Độc giả hẳn sẽ cảm thấy thú vị khi đọc bài viết Kinh nghiệm du lịch 10 nước châu Âu chỉ với 55 triệu đồng. Ở đó, nhà báo Đức Liên chia sẻ kinh nghiệm du lịch tự túc của mình cùng một số bí quyết săn vé máy bay giá rẻ, thuê khách sạn, chọn điểm vui chơi.

Đó đều là lối trải nghiệm năng động, giúp rèn luyện kỹ năng đi du lịch một mình trên thế giới cho những ai, đặc biệt là các bạn trẻ, muốn tự khẳng định mình với ước mơ chinh phục năm châu bốn biển.

Hay trong bài viết Tôi đi chuyên cơ cùng thủ tướng, nhà báo Đức Liên chia sẻ câu chuyện tác nghiệp tại Hội nghị thượng đỉnh Á – Âu (ASEM 4) tổ chức tại Đan Mạch và góc nhìn riêng của anh thông qua chuyến đi tới Iceland, Bỉ, Luxembourg và Đan Mạch.

Tác giả cho hay: “Tôi may mắn đi vòng quanh đến 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, so với các phượt thủ, chưa đáng là bao, nhưng với cá nhân thì bao nhiêu dặm đường đã đi qua là vượt cả mong đợi”.

Trên những dặm đường ấy, có chuyến đi tác giả chỉ “cưỡi ngựa xem hoa”, nhưng cũng có những hành trình anh nhẩn nha nhìn ngắm các công trình kiến trúc, vừa hòa mình vào nhịp sống hiện đại, vừa chan hòa với thiên nhiên ở các miền đất đa chủng tộc.

Nguồn: https://zingnews.vn/chuyen-rong-ruoi-tren-nhung-dam-duong-cua-mot-nha-bao-post1328580.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Kinh phí xuất bản và chuyện thành, bại của những tờ báo xưa

Từ 1945 trở về trước, việc xuất bản báo nhà nước hoặc báo tư nhân, câu chuyện kinh phí xuất bản báo luôn là vấn đề thiết thân đến sự tồn vong của tờ báo.

kinh phi xuat ban bao xua anh 1

Những tờ báo xưa, nhất là những tờ nhật bản như Hà thành ngọ báo, Trung hòa nhật báo, Sài Gòn... thường có cơ sở vật chất dồi dào, trường vốn, nên việc xuất bản báo thuận tiện. Lại có những tờ báo như Đại Nam đồng văn nhật báo, Nam Việc công báo, Nam Phong tạp chí, Trung Bắc tân văn… được chính quyền hỗ trợ kinh phí, phát hành nên sống khỏe. Còn lại những tờ báo Đời mới, Sống, Tiếng vang làng báo… do ít vốn, thường phải xuất bản theo kiểu chạy ăn từng bữa.

An Nam tạp chí tự thân xuất bản, vô vàn khó khăn

Kinh phí xuất bản báo, có thể nghe Tản Đà tự thuật với tờ An Nam tạp chí. Trước hết là ở chi phí cho việc xuất bản tờ An Nam tạp chí. Trong số 10, ra ngày 1/3/1927, ông Chủ bút An Nam tạp chí tâm sự báo để sống được, mỗi tháng các khoản chi phí chưa tính tiền nhà in, tiền thuê nhà, công người làm thì không dưới 200 đồng. Để tồn tại qua được 10 số báo, nhà thơ phải xoay xở mọi phương cách.

kinh phi xuat ban bao xua anh 2

Trụ sở báo L’Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ). Ảnh: Manhhai/flickr.

Trong bài “An Nam tạp chí chủ nhân Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu kính trình độc giả chư tôn” trên An Nam tạp chí số 10, ra ngày 1/3/1927, tính toán của Tản Đà thì ông phải nhờ anh em bạn hữu, cùng tiền bán sách, tổng cộng hết 700 đồng đổ vào sự nghiệp xuất bản tờ An Nam tạp chí. Nhưng vì tiền không có, một thân phải lo đủ thứ, đến lúc này không còn vay mượn được nữa, đành phải đình bản đứa con cưng của mình. An Nam tạp chí ra mắt được chẵn 10 số thì tạm dừng.

Khi thi sĩ muốn cho An Nam tạp chí trở lại, ông đã tâm sự với người cháu Nguyễn Văn Phúc, nhưng rồi đụng tới vấn đề hoạt động, là mắc ngay bởi chữ tiền: “Nhưng vấn đề cần thiết nhất là vấn đề tài chính. Nếu không có tiền thời không làm được việc. Mà nghĩ cách xoay tiền thời thi sĩ lại bất lực”, người cháu Nguyễn Văn Phúc đã chia sẻ như thế trong Tôi với Tản Đà.

kinh phi xuat ban bao xua anh 3

Báo Sống số 1, ra ngày 22/1/1935 tại Sài Gòn. ẢNH: TL.

Làm báo đã vất vả, mà có lúc còn mang nợ vào thân. Tản Đà sau lần đình bản An Nam tạp chí, năm 1930 đã cho tờ này ra lại, chỉ vì một lý do, được Lan Khai tiết lộ trong bài “Một tháng với Tản Đà: Đời làm báo của Tản Đà” trên báo Ngày nay số 171, ra ngày 22/7/1939, là bởi Tản Đà còn nợ ông ấm phố Hàng Gai một khoản tiền, nên phải hợp tác để ông ấm kia thu nợ dần. Ông ấm giữ mặt tài chính, lo việc thu tiền mua báo, chi phí in ấn và các khoản chi tiêu khác, còn Tản Đà chỉ trông nom bài vở.

Phụ thuộc kinh phí vào nhà đầu tư, có trường hợp Đông Tây tuần báo của Quỳnh Dao. Đầu năm 1942, Đông Tây tuần báo ra đời do Quỳnh Dao giữ chân chủ bút kiêm trị sự, Lưu Hồ là Chủ nhiệm báo, Anh Thơ làm biên tập, Hồ Thu là họa sĩ. Làm chủ nhiệm báo, Lưu Hồ là người chi tiền để nuôi báo, còn mọi việc đều vào tay Quỳnh Dao cả. Anh chàng 21 tuổi đứng chân chủ nhiệm chỉ để ra oai. Ra số Tết, số Xuân 1943, nhưng sau đó vì Lưu Hồ hết tiền, báo không ra được số 5, rồi bị đình bản.

Cũng tự thân mở báo như tác giả Thề non nước, nhưng óc tổ chức có phần tốt hơn, Lê Tràng Kiều được Phạm Cao Củng khen có tài tổ chức, có sáng kiến táo bạo. Tuy nhiên, tờ này cũng mắc phải yếu tố căn cốt, là tiền; bởi vậy khi ra báo, người thực hiện phải giật gấu vá vai chạy từng số và rồi báo Tân thiếu niên của Tràng Kiều cũng phải vào phận hẩm hiu.

“Muốn tự mình ra một tờ báo độc lập, không bị chi phối bởi một đảng phái hay một kẻ bỏ tiền vốn thì chỉ còn có một cách là ‘giật gấu vá vai’, vay món này đập món nọ, lo chạy tiền in, tiền giấy cho từng số báo một, mà ra báo, tiền bán báo dù báo chạy, so với tiền in, tiền giấy thì chưa thấm vào đâu. Báo muốn sống thì cần phải có nhiều quảng cáo, mà báo ra đều và sống khá lâu rồi thì mới dễ lấy quảng cáo”, Phạm Cao Củng đã rút kinh nghiệm làm báo tự thân trong Hồi ký Phạm Cao Củng.

Tuần báo Sống ra số đầu tiên ngày 22/1/1935 tại đất Sài Gòn. Ngay khi báo mới ra, kinh phí để xuất bản báo khá hẻo. Nhớ lại trong hồi ký Núi Mộng gương Hồ, Mộng Tuyết biết được tình hình phải gửi vòng vàng lên để góp vốn giúp báo duy trì. Để có kinh phí ra báo, Mộng Tuyết, Lê Thị Đức, Lê Thị Thượng và Trần Hữu Trang phải đi cổ động ở khắp nơi để kêu gọi độc giả mua báo. Sau 30 số xuất bản, vì không tự túc được kinh phí, báo phải tự đình bản.

Nam Phong tạp chí nhận trợ cấp 600 đồng mỗi tháng

Tự túc kinh phí để ra báo, nếu nguồn tài chính không dồi dào như nhà Tân Dân, Mai Lĩnh, thì các chủ báo đa phần rơi vào cảnh “chạy ăn từng bữa” kiểu An Nam tạp chí, Sống. Có báo phải thuê mặt bằng, thuê in ấn như An Nam tạp chí, nhưng cũng có báo chủ động được nhiều khoản, như Trung hòa nhật báo, Tiếng dân, Con ong có nhà in riêng.

Có báo được thực dân bảo trợ, nhưng có báo phải tự thân vận động, đó là chưa kể còn bị gây khó dễ từ chính quyền. Báo nào được hậu thuẫn thì sống khá lâu, còn những báo phải tự túc, hoặc bị chính quyền nhòm ngó thì sống trong tình trạng luôn thấp thỏm với hai chữ “đình bản”.

kinh phi xuat ban bao xua anh 4

Nam Phong tạp chí số 72, ra tháng 6/1923. Tờ báo này được hỗ trợ kinh phí và hỗ trợ phát hành. ẢNH: T.L.

Xem trường hợp của Nam Phong tạp chí, báo này Vương Hồng Sển có nói là được bảo trợ để tuyên truyền cho thực dân, lối phát hành thì các làng xã phải gánh mua, mà chưa hẳn đã đọc. Mỗi tháng, Nam Phong tạp chí được chính quyền cấp cho một khoản kinh phí là 600 đồng, trong khi đó Trung Bắc Tân văn được nhận khoản thấp hơn một chút là 500 đồng, theo lời Nguyễn Công Hoan trong Đời viết văn của tôi.

Có những báo lại sống nhờ vào sự ủng hộ của độc giả, mà cụ thể ở đây là báo của những người hoạt động cách mạng cứu nước. Là người tham gia làm báo cuối những năm 1930, Hoàng Quốc Việt trong hồi ký Chặng đường nóng bỏng cho biết khi báo mới ra “tiền thuê in báo thoạt tiên là tiền ủng hộ, khi có báo bán rồi, một phần lãi trang trải cho anh em có cái ăn, còn chủ yếu là làm vốn, tiếp tục ra báo”.

Riêng với báo tiếng Pháp, do đối tượng độc giả hẹp hơn báo quốc ngữ, chủ yếu là trí thức, công chức mua, nên báo tiếng Pháp, cụ thể là báo cộng sản “người mua báo vừa mua vừa ủng hộ nữa. Thỉnh thoảng trên báo lại có mục cảm ơn người ủng hộ, không nói rõ tên, kèm số tiền”.

Nguồn: https://zingnews.vn/kinh-phi-xuat-ban-va-chuyen-thanh-bai-cua-nhung-to-bao-xua-post1328216.html

Tiếp tục đọc

Xu hướng