Connect with us

Tác giả

Chuyện rong ruổi trên những dặm đường của một nhà báo

“Nghề báo, chân đi mang đến cho tôi cơ hội ngược xuôi 63 tỉnh thành trong cả nước”, nhà báo Đức Liên chia sẻ trong cuốn sách của mình.

Góp nhặt những trải nghiệm trên hành trình khám phá nhiều vùng đất, nhà báo Đức Liên viết nên cuốn Trên những dặm đường. Cuốn sách ra mắt bạn đọc nhân dịp kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6.

Cuốn sách gồm nhiều hình ảnh đẹp do chính anh bấm máy, là những góc nhìn mang tính khám phá, trải nghiệm, đi kèm ghi chép chân thực của tác giả. Tất cả đưa bạn đọc qua nhiều quốc gia với các câu chuyện văn hóa thú vị.

Nhiều năm công tác tại các cơ quan báo chí, nhà báo Đức Liên có cơ hội đặt chân đến khắp vùng miền ở Việt Nam và các quốc gia trên thế giới. Sau Lửa giàn khoan, Đến và đi, những trải nghiệm từ nhiều chuyến đi được anh ấp ủ để đưa vào cuốn sách ảnh này.

nha bao Duc Lien anh 1

Bìa cuốn sách Trên những dặm đường của nhà báo Đức Liên. Ảnh: NXB Thanh niên.

Cuốn sách được viết bằng giọng văn mộc mạc, đầy cảm xúc, tựa một cẩm nang du lịch. Nó hấp dẫn bạn đọc vì khơi gợi được giấc mơ khám phá những miền đất lạ, thôi thúc mỗi chúng ta vác balo lên và đi.

“Thiên nhiên, phong cảnh, lịch sử, văn hóa, kiến trúc, ẩm thực… của mỗi quốc gia trở thành bài học sinh động, thực tế, giúp tôi tích lũy kiến thức, mở rộng tầm nhìn”, tác giả viết.

Cuốn sách gồm các bài viết nhỏ mà ở đó, tác giả thường gắn trải nghiệm của mình với một địa danh cụ thể. Có thể kể đến Tản mạn nước Mỹ, Một ngày trên đất Mexico, Đón Tết ở Nhật, Tình yêu Paris, Thụy Sĩ – Trái tim quyến rũ của châu Âu, Havana – Thành phố di sản thế giới…

Các hình ảnh đưa vào sách được chọn lọc như một bức tranh tổng thể nhiều màu sắc từ các quốc gia mà anh từng đặt chân đến. Qua đó, tác giả dẫn dắt người đọc cùng đi qua mùa xuân, hạ, thu, đông; từ các quốc gia châu Á, châu Âu, châu Đại Dương đến châu Mỹ Latinh.

Độc giả hẳn sẽ cảm thấy thú vị khi đọc bài viết Kinh nghiệm du lịch 10 nước châu Âu chỉ với 55 triệu đồng. Ở đó, nhà báo Đức Liên chia sẻ kinh nghiệm du lịch tự túc của mình cùng một số bí quyết săn vé máy bay giá rẻ, thuê khách sạn, chọn điểm vui chơi.

Đó đều là lối trải nghiệm năng động, giúp rèn luyện kỹ năng đi du lịch một mình trên thế giới cho những ai, đặc biệt là các bạn trẻ, muốn tự khẳng định mình với ước mơ chinh phục năm châu bốn biển.

Hay trong bài viết Tôi đi chuyên cơ cùng thủ tướng, nhà báo Đức Liên chia sẻ câu chuyện tác nghiệp tại Hội nghị thượng đỉnh Á – Âu (ASEM 4) tổ chức tại Đan Mạch và góc nhìn riêng của anh thông qua chuyến đi tới Iceland, Bỉ, Luxembourg và Đan Mạch.

Tác giả cho hay: “Tôi may mắn đi vòng quanh đến 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, so với các phượt thủ, chưa đáng là bao, nhưng với cá nhân thì bao nhiêu dặm đường đã đi qua là vượt cả mong đợi”.

Trên những dặm đường ấy, có chuyến đi tác giả chỉ “cưỡi ngựa xem hoa”, nhưng cũng có những hành trình anh nhẩn nha nhìn ngắm các công trình kiến trúc, vừa hòa mình vào nhịp sống hiện đại, vừa chan hòa với thiên nhiên ở các miền đất đa chủng tộc.

Nguồn: https://zingnews.vn/chuyen-rong-ruoi-tren-nhung-dam-duong-cua-mot-nha-bao-post1328580.html

Tác giả

Giải mã Haruki Murakami qua âm nhạc và ngôn từ

Với sự am hiểu, thân cận với tác giả, trong “Haruki Murakami và âm nhạc của ngôn từ”, Jay Rubin đã lý giải con đường Murakami chọn, từ đó đưa ông đến hành trình chinh phục độc giả.

Haruki Murakami là người được đồn đoán hàng năm cho giải Nobel, là người đã chiến thắng hầu hết giải “tiền Nobel” và cũng là người mà cứ mỗi một tác phẩm ra đời, thì làng văn thế giới lại được dịp chao đảo.

Điều gì đã khiến tác phẩm của ông có sức hút và những điều ấy khởi nguồn từ đâu? Haruki Murakami và âm nhạc của ngôn từ sẽ dẫn dắt người đọc đi từ nội hàm: Là cuộc đời và các tác phẩm của nhà văn; cho đến ngoại hàm, là những vấn đề xã hội được ông khai thác dưới lớp vỏ văn chương.

Murakami anh 1

Jay Rubin và Haruki Murakami. Ảnh: finding-haruki.

Murakami không ngừng chuyển mạch

Khởi nguồn từ những truyện ngắn đầu tay như Nàng Ipanema 1963/1982 cho đến tiểu thuyết đầu tay Lắng nghe gió hát; các yếu tố truyền thống Nhật Bản dường như chưa hề tồn tại trong tác phẩm của Murakami.

Nếu Kawabata có các nàng vũ nữ, có cái rung động tinh tế rất Nhật, Mishima thì có nỗi trầm uất của Samurai; thì ngược lại, Murakami không có gì cả. Ngay từ lúc bước chân vào làng văn, ông đã thể hiện một sự “chống Nhật triệt để”, như là hậu quả của nhiều yếu tố.

Sinh ra trong một gia đình trung lưu ngoan đạo, từ nhỏ Murakami đã được hướng theo một nền giáo dục gia giáo. Trong khi mẹ ông muốn ông thấm nhuần tính Nhật, thì ngược lại, ông chỉ thích Dostoyevski, Stendah và nhà văn Nhật duy nhất ông đọc lạ thay lại là Tanizaki Junichiro. Phản kháng lại sự áp đặt của cha mẹ, khi vào đại học ông kết hôn sớm cùng bà Yoko và mở quán bar nhạc Jazz để sống qua ngày.

Nhút nhát, cô độc và không tham gia và các phong trào sinh viên thời bấy giờ, Murakami đã vật lộn với nghiệp viết văn trong lúc phục vụ quầy bar và chỉ viết khoảng 2-3 giờ sáng sau khi thái hành và quán bar đóng cửa.

Ở thời điểm đó, câu văn của ông thường ngắn và chịu ảnh hưởng bởi Kurt Vonnegut. Ông viết từng chút do không biết mình đang viết gì, và có những lúc phải viết bằng tiếng Anh để rồi dịch ngược trở lại sang tiếng Nhật.

Tuy thế mà những thành công liên tục đến với ông. Sau Lắng nghe gió hát được gửi và chiến thắng giải thưởng của tạp chí Gunzo, Murakami đã bước đầu đi trên hành trình hình thành thế giới của riêng mình.

Pinball 1973 là cuốn đầu tiên như thế, với các nhân vật Boku, Chuột và hệ thống những nhân vật phụ không ngừng biến đổi, thay hình đổi dạng trong các tác phẩm về sau. Cõi tưởng tượng của Murakami lên cao nhất ở Cuộc săn cừu hoang, cho đến khi chuyển sang xu hướng tự sự ở Rừng Na Uy và tiệm cận về gần chất Nhật hơn ở Ngầm.

Murakami đã cho rằng cuộc sống là buổi diễu hành của những điều vụn vặt, cho nên với ông, ký ức là tiểu thuyết mà tiểu thuyết cũng là ký ức. Trong các tác phẩm của mình, ông dùng danh xưng “Boku” – “tớ”, từ góc nhìn của người quan sát, cho lời khuyên và không hẳn là chủ thể hành động, mà chỉ tiếp nhận thông tin và đưa nó vào thế giới của mình.

Sau những câu văn gọn, nhanh ở quãng đầu sáng tác, Jay Rubin cho thấy bắt đầu từ Cuộc săn cừu hoang, câu văn của Murakami đã bắt đầu dài ra, với các yếu tố tự sự hơn. Giờ đây ông không chỉ nắm bắt, mà là lôi chúng từ trong bản thân mình ra một cách tự phát. Tuy cũng trùng hợp là không ý thức, văn chương giờ đây đã có mục đích hơn.

Tưởng tượng lên đến cao nhất của Murakami trong thời kỳ đầu không thể không nhắc đến Xứ sở kỳ diệu bạo tàn Nơi chốn tận cùng của thế giới. Ở tiểu thuyết đó, ông đã tạo dựng ra hai thế giới tồn tại song song, một tưởng tượng và một thực tại.

Cũng như nhạc Jazz mà ông yêu thích, quá trình viết văn hoàn toàn diễn ra trong việc ứng tác, nơi ông không biết mình có thể sẽ đi đến đâu, mà chỉ viết bằng niềm tin phá vỡ cấu trúc gò ép cũng như định kiến ngăn cản dòng chảy ngẫu hứng. Bước chuyển đổi này khiến Xứ sở kỳ diệu bạo tàn Nơi chốn tận cùng của thế giới là một tác phẩm quan trọng, tạo bước đệm cho thành công tiếp theo.

Xen giữa những tiểu thuyết dài viết đến “kiệt sức” – như Jay Rubin cũng chỉ ra đây, Murakami còn là một người chuyên viết truyện ngắn cũng như dịch thuật văn chương từ khối Anh ngữ sang tiếng Nhật.

Đối với ông, sáng tạo truyện ngắn chính là luận điểm để từ đó phát triển thành các truyện dài; trong khi dịch thuật là việc trị liệu, là quá trình “tái hòa nhập” trở lại sau sự kiệt quệ cũng như cú shock vì sự yêu thích quá lớn dành cho các tác phẩm của mình.

Những nhà văn được ông yêu thích và thường xuyên dịch có thể kể đến F.S.Fitzgerald, Raymond Carver, Tim O’Brien… và cả sau này ông đã phát triển một mối thâm tình với Carver, người ở cách ông hơn nửa địa cầu.

Như vậy có thể thấy rằng quá trình sáng tác của Murakami là những ngẫu nhiên, ứng tác, và cố hòa nhập cùng nhau trong những hình tượng đã được đặt để như một ma trận.

Tới Rừng Na Uy, và cũng chính là giai đoạn danh tiếng bùng nổ, Murakami đã chọn hướng tiếp cận khác, khi bỏ qua các thế giới tưởng tượng để đến gần hơn với dòng tự sự của những người trẻ, phá vỡ quy tắc trước đó từng đặt ra ở Lắng nghe gió hát là không viết về tình dục cũng như cái chết.

Lạ thay một nỗi, tác phẩm ít yếu tố Murakami nhất lại là cuốn sách thành công vang dội, mà như đã biết, cứ 7 người Nhật lại có một người đọc Rừng Na Uy.

Tuy thế Murakami không hề quen thuộc với sự nổi tiếng vì đại trà này. Jay Rubin cũng tiết lộ rằng ông từng thấy shock và phải cùng với Yoko chạy biến sang châu Âu để có thời gian bắt tay vào các dự án mới, và đó chính là Nhảy nhảy nhảy.

Như vậy có thể thấy rằng Murakami không ngừng chuyển mạch. Ông đi từ việc kết hợp trinh thám (Cuộc săn cừu hoang), sang ứng tác Jazz (Xứ sở kỳ diệu bạo tàn và Nơi chốn tận cùng thế giới), tới Pop (Rừng Na Uy), rồi hỗn loạn (Nhảy nhảy nhảy) và sẽ quay về pop lại một lần nữa với Phía Tây biên giới, Phía Nam mặt trời.

Murakami anh 2

Các tác phẩm đã được chuyển ngữ của Murakami.

Sự kết nối trong các tác phẩm của Murakami

Sau quá trình chữa lành ở Nhảy nhảy nhảy và thế giới hư – thực không thể phân tranh, Murakami bắt đầu chuyển dịch gần hơn với các tác phẩm hướng về nước Nhật.

Không dùng hình tượng chủ chốt như thế hệ các nhà văn trước, ông có cách riêng để cho thấy Nhật, dù cho đó là lớp nghĩa ẩn chứa thứ hai, vẫn đang hiện diện trong văn nghiệp ông. Đó là Biên niên ký chim vặn dây cót khi Murakami lặn sâu vào những nỗi đau mà đế quốc Nhật từng gây ra trong cuộc chiến Nội Mông, là Ngầm khi ông phỏng vấn cũng như phơi bày những sự lãng tránh của chính phủ về giáo phái Aum Shinrikyo trong vụ thảm sát bằng chất độc sarin trong tàu điện ngầm.

Như vậy sau những vòng tròn chủ lưu tiếp nối, Murakami từ một người “càng quốc tế bao nhiêu thì càng ít chất Nhật Bản bấy nhiêu” giờ đây lại chứa rất nhiều câu hỏi hiện sinh về cuộc sống, cái chết và ký ức. Ông cũng lặn sâu vào những vấn đề xã hội và buộc nhà văn phải có trách nhiệm.

Những lề thói này hầu như ứng tác trong ông không có chủ đích, cũng như nhạc Jazz, nó đến bằng sự nhận thức hoàn toàn tình cờ. Như chính ông nói: “Sự tự phát chính là điều quan trọng nhất. Phải tự tin có đủ khả năng kể chuyện, phải tìm đúng mạch nước và làm các mảnh ghép khớp nối với nhau. Ta phải tin vào sức mạnh câu chuyện, từ đó khơi dậy được điều gì đó trong tinh thần mình”.

Với Haruki Murakami và âm nhạc của ngôn từ, Jay Rubin đã cung cấp những cái nhìn khác lạ cũng như phân tích những sự kết nối trong các công trình của Murakami.

Nếu là độc giả trung thành, tác phẩm này sẽ tạo được sự thích thú bởi những phân tích, góc nhìn có phần mới lạ; còn nếu là độc giả mới, thì cuốn sách này cũng sẽ góp phần vào việc khẳng định di sản Murakami, và phần nào đó cho thấy những sự chuyển biến trong cuộc đời ông. Dù đã đọc hay chưa, thì đây cũng là cuốn sách lý thú và rất đầy đủ về một nhà văn lớn.

Nguồn: https://zingnews.vn/giai-ma-haruki-murakami-qua-am-nhac-va-ngon-tu-post1329343.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Ra mắt ấn bản sách đặc biệt của cố nhà văn Nguyễn Huy Thiệp

Cuốn sách “Tướng về hưu & những truyện khác” tuyển chọn những truyện ngắn tiêu biểu làm nên dấu ấn văn chương Nguyễn Huy Thiệp qua các mảng đề tài đa dạng.

Từ những truyện ngắn đầu tiên đăng trên báo Văn nghệ và cuốn sách Tướng về hưu xuất bản năm 1988, ngòi bút Nguyễn Huy Thiệp đã đánh dấu sự có mặt của mình, định hình nên “một hiện tượng văn chương” từ thập niên cuối của thế kỷ 20 đến nay.

Mới đây chi nhánh tại Hà Nội, Nhà xuất bản Trẻ giới thiệu với bạn đọc tuyển tập Tướng về hưu & những truyện khác của Nguyễn Huy Thiệp, mở đầu cho bộ ấn phẩm đặc biệt của những nhà văn đã gắn bó với chi nhánh.

Nguyen Huy Thiep anh 1

Cuốn sách Tướng về hưu & những truyện khác. Ảnh: NXB Trẻ.

Cuốn sách được chia thành hai phần. Phần I được đặt tên Tướng về hưu, in lại truyện ngắn cùng tên theo bản in xuất bản lần đầu tại Nhà xuất bản Trẻ vào tháng 1/1988 cùng một số truyện được sắp xếp theo trình tự như Những ngọn gió Hua Tát, Con gái thuỷ thần, Chảy đi sông ơi, Không có vua…

Phần II – Những truyện khác – gồm những tác phẩm làm nên tên tuổi của Nguyễn Huy Thiệp như Thương nhớ đồng quê, Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt, Những tiếng lòng líu la líu lo, Sang sông…

Sách cũng in lại lời giới thiệu của Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến in theo Lời nói đầu tập truyện ngắn Tướng về hưu năm 1988. Ông nhận xét rằng: “Trong tập truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp rùng rợn hơn cả vẫn là những sự việc hết sức bình thường nhưng bộc lộ sự đốn mạt, sự hèn kém của con người, giữa mọi sự nhố nhăng, sống sít tòi ra cái tâm lý vụ lợi, vụ lợi một cách khinh bạc, trắng trợn và muối mặt, táng tận lương tâm, tâm lý này đương trở thành một nếp ăn sâu trong não trạng, tâm thuật của con người hiện đại, có cơ sở trở thành một nét chủ đạo trong nhân cách của nó”.

Trong lời giới thiệu dài hơn 3.500 chữ, Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến không những chỉ ra nhiều nét độc đáo trong văn chương của Nguyễn Huy Thiệp mà thêm vào đó lý giải tại sao nhiều người lại yêu mến văn của ông đến như vậy.

Theo Nhà xuất bản Trẻ, cuốn sách không nhằm tập hợp lại tất cả truyện ngắn từ trước đến nay của Nguyễn Huy Thiệp mà chỉ chọn lựa ra những tác phẩm tiêu biểu nhất mà qua đó “bạn đọc thấy được chân dung một cây viết truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam đương đại với những chặng đường sáng tác mà ông đã đi qua”.

Nguyen Huy Thiep anh 2

Cố nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Ảnh: Y.N

Đây không phải là tuyển tập truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp duy nhất tại Việt Nam, gần đây cũng có một ấn bản khác do Đông A phát hành.

Theo anh Nguyễn Phan Bách, con trai nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, bản quyền các truyện ngắn do gia đình nắm giữ. Gia đình luôn mong muốn tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp được giới thiệu rộng rãi với công chúng, vậy nên không kí hợp đồng độc quyền với riêng nhà phát hành nào cả. Hai bên đại diện của hai nhà phát hành cũng đã trao đổi trước khi ra sách, hai bản sách cũng khác nhau về cách trình bày, lựa chọn và sắp xếp truyện ngắn.

Sau tuyển tập Tướng về hưu & những truyện khác của Nguyễn Huy Thiệp, Nhà xuất bản Trẻ cũng sẽ giới thiệu các ấn bản đặc biệt của các nhà văn Bảo Ninh, Dương Hướng, Nguyễn Việt Hà và Hồ Anh Thái.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là một trong những tượng đài văn chương đương đại Việt Nam. Tên tuổi của ông vượt ra thế giới với nhiều cuốn sách xuất bản tại Pháp, Mỹ, Thụy Điển, Italy. Ông từng nhận huân chương Văn học Nghệ thuật Pháp (2007), giải thưởng Premio Nonino (Italy, 2008). Ông qua đời vào ngày 20/3/2021, để lại niềm thương tiếc cho nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam.

Nguồn: https://zingnews.vn/ra-mat-an-ban-sach-dac-biet-cua-co-nha-van-nguyen-huy-thiep-post1329271.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Trò chơi điện tử dựa trên những bài thơ của Emily Dickinson

Người chơi game EmilyBlaster sẽ phải bắn những chữ từ trên trời rơi xuống để xếp thật chính xác những câu thơ của Emily Dickinson.

Bạn đã bao giờ tưởng tượng mình sẽ chơi game trên máy tính dựa theo những bài thơ của Emily Dickinson? Giờ đây, điều đó đã thành sự thật khi game EmilyBlaster – một game cổ điển hơi hướm những năm 1980 được tung ra thị trường. Người chơi sẽ phải bắn những chữ từ trên trời rơi xuống để xếp thật chính xác những câu thơ của Emily Dickinson.

Dung game tu tho anh 1
Bìa tiểu thuyết Tomorrow, and Tomorrow, and Tomorrow. Ảnh: Penguin.

Nhà xuất bản Vintage của Anh cho ra mắt trò chơi máy tính EmilyBlaster dựa trên một trò chơi trong sách. EmilyBlaster là phiên bản đời thực của tiểu thuyết Tomorrow, and Tomorrow, and Tomorrow của Gabrielle Zevin sẽ ra mắt trong tháng tới.

Cuốn sách của Zevin kể về Sadie và Sam, hai người gặp nhau hồi nhỏ trong phòng vi tính của một bệnh viện vào năm 1987. Tám năm sau, họ tái ngộ và chung tay thiết kế trò chơi trên máy tính. Một trong số đó chính là trò EmilyBlaster, giờ đây độc giả cũng có thể trải nghiệm giống nhân vật trong truyện.

Trò chơi có ba cấp độ khác nhau, mỗi cấp độ là trích đoạn một câu thơ nổi tiếng của Dickinson: Cấp độ 1 là That Love is all there is, cấp độ 2 là We talked as Girls do và cấp độ 3 là Hope is the thing with feathers.

Dung game tu tho anh 2

Game lấy cảm hứng từ thơ của Emily Dickinson. Ảnh: Vintage.

Game EmilyBlaster của Sadie trong tiểu thuyết được đánh giá là “tuyệt vọng và chẳng có nhiều thời gian để chơi”. “Những phần thơ rời rạc sẽ được thả ngẫu nhiên từ phía trên màn hình và người chơi phải sử dụng một cây bút lông bắn ra mực để nối những từ với nhau tạo thành một câu thơ hoàn chỉnh của Dickinson cuối màn hình”, Zevin giải thích trong cuốn tiểu thuyết.

“Sau khi người chơi đã vượt cấp thành công bằng nhiều bài thơ khác nhau thì sẽ kiếm được điểm để trang trí cho căn phòng tại Amherst của Dickinson”, tác giả Zevin nói về luật chơi.

Độc giả sẽ thấy trong truyện, học sinh của Sadie ghét trò chơi này, thậm chí có học sinh còn nghĩ rằng “đồ họa thì đẹp đấy nhưng trò chơi thì tệ hại”. Zevin nói với LitHub: “Tôi nghĩ rằng phong cách câu ngắn, hàm ý súc tích của Dickinson và những cụm từ dễ nhớ sẽ tạo nên những mục tiêu tuyệt vời nhất cho người chơi”. Cô nói thêm: “EmilyBlaster sẽ lôi cuốn người chơi với mức độ khó phù hợp”.

Đây là lần đầu tiên nhà xuất bản Vintage cho ra mắt trò chơi máy tính dựa trên một trò chơi trong sách. Nhà xuất bản đã tạo một trang web cho phép mọi người chơi EmilyBlaster tạo ảnh đại diện theo phong cách thập niên 1980 mang dấu ấn cá nhân họ. Khi tác giả Zevin đến Anh vào tháng 7 tới đây, một máy chơi game dùng xu với nhiều hình bìa sách sẽ được lắp đặt tại Donkey Kong, Waterstones Piccadilly ở London trong vòng một tuần.

Dung game tu tho anh 3

Hailee Steinfeld đóng vai nhà thơ Emily Dickinson trên Apple TV+ series. Ảnh: Apple TV+.

Zevin là tác giả của một số tiểu thuyết như Sách ngược đời xuôi – cuốn sách sắp được dựng thành phim với sự tham gia của Lucy Hale, Kunal Nayyar, Christina Hendricks và David Arquette.

Nữ nhà văn cũng viết sách cho thiếu nhi, như Elsewhere (tạm dịch Ở nơi khác), tác phẩm đã giành giải thưởng sách cho trẻ em của Sheffield đồng thời lọt vào danh sách giành huân chương Carnegie.

Việc thiết kế trò chơi ngoài đời thực dựa trên trò chơi trong sách không được phổ biến nhưng đã từng có một vài thành công. Ví dụ, The WitcherTom Clancy’s Rainbow Six Siege, cả hai game này đều bước ra từ trang sách. Mới đây, một trò chơi tương tác tên là We Are Not All Alone Unhappy (tạm dịch Chúng ta không bất hạnh một mình) đã yêu cầu người chơi phải tạo ra những cặp từ các nhân vật có kết cục không mấy tốt đẹp trong những vở kịch của Shakespeare.

Emily Elizabeth Dickinson (10/12/1830 – 15/5/1886) là một nhà thơ Mỹ. Cùng Walt Whitman, Emily Dickinson đã trở thành nhà thơ đặc sắc nhất của Mỹ trong thế kỉ 19.

Nguồn: https://zingnews.vn/tro-choi-dien-tu-dua-tren-nhung-bai-tho-cua-emily-dickinson-post1327067.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Kinh phí xuất bản và chuyện thành, bại của những tờ báo xưa

Từ 1945 trở về trước, việc xuất bản báo nhà nước hoặc báo tư nhân, câu chuyện kinh phí xuất bản báo luôn là vấn đề thiết thân đến sự tồn vong của tờ báo.

kinh phi xuat ban bao xua anh 1

Những tờ báo xưa, nhất là những tờ nhật bản như Hà thành ngọ báo, Trung hòa nhật báo, Sài Gòn... thường có cơ sở vật chất dồi dào, trường vốn, nên việc xuất bản báo thuận tiện. Lại có những tờ báo như Đại Nam đồng văn nhật báo, Nam Việc công báo, Nam Phong tạp chí, Trung Bắc tân văn… được chính quyền hỗ trợ kinh phí, phát hành nên sống khỏe. Còn lại những tờ báo Đời mới, Sống, Tiếng vang làng báo… do ít vốn, thường phải xuất bản theo kiểu chạy ăn từng bữa.

An Nam tạp chí tự thân xuất bản, vô vàn khó khăn

Kinh phí xuất bản báo, có thể nghe Tản Đà tự thuật với tờ An Nam tạp chí. Trước hết là ở chi phí cho việc xuất bản tờ An Nam tạp chí. Trong số 10, ra ngày 1/3/1927, ông Chủ bút An Nam tạp chí tâm sự báo để sống được, mỗi tháng các khoản chi phí chưa tính tiền nhà in, tiền thuê nhà, công người làm thì không dưới 200 đồng. Để tồn tại qua được 10 số báo, nhà thơ phải xoay xở mọi phương cách.

kinh phi xuat ban bao xua anh 2

Trụ sở báo L’Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ). Ảnh: Manhhai/flickr.

Trong bài “An Nam tạp chí chủ nhân Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu kính trình độc giả chư tôn” trên An Nam tạp chí số 10, ra ngày 1/3/1927, tính toán của Tản Đà thì ông phải nhờ anh em bạn hữu, cùng tiền bán sách, tổng cộng hết 700 đồng đổ vào sự nghiệp xuất bản tờ An Nam tạp chí. Nhưng vì tiền không có, một thân phải lo đủ thứ, đến lúc này không còn vay mượn được nữa, đành phải đình bản đứa con cưng của mình. An Nam tạp chí ra mắt được chẵn 10 số thì tạm dừng.

Khi thi sĩ muốn cho An Nam tạp chí trở lại, ông đã tâm sự với người cháu Nguyễn Văn Phúc, nhưng rồi đụng tới vấn đề hoạt động, là mắc ngay bởi chữ tiền: “Nhưng vấn đề cần thiết nhất là vấn đề tài chính. Nếu không có tiền thời không làm được việc. Mà nghĩ cách xoay tiền thời thi sĩ lại bất lực”, người cháu Nguyễn Văn Phúc đã chia sẻ như thế trong Tôi với Tản Đà.

kinh phi xuat ban bao xua anh 3

Báo Sống số 1, ra ngày 22/1/1935 tại Sài Gòn. ẢNH: TL.

Làm báo đã vất vả, mà có lúc còn mang nợ vào thân. Tản Đà sau lần đình bản An Nam tạp chí, năm 1930 đã cho tờ này ra lại, chỉ vì một lý do, được Lan Khai tiết lộ trong bài “Một tháng với Tản Đà: Đời làm báo của Tản Đà” trên báo Ngày nay số 171, ra ngày 22/7/1939, là bởi Tản Đà còn nợ ông ấm phố Hàng Gai một khoản tiền, nên phải hợp tác để ông ấm kia thu nợ dần. Ông ấm giữ mặt tài chính, lo việc thu tiền mua báo, chi phí in ấn và các khoản chi tiêu khác, còn Tản Đà chỉ trông nom bài vở.

Phụ thuộc kinh phí vào nhà đầu tư, có trường hợp Đông Tây tuần báo của Quỳnh Dao. Đầu năm 1942, Đông Tây tuần báo ra đời do Quỳnh Dao giữ chân chủ bút kiêm trị sự, Lưu Hồ là Chủ nhiệm báo, Anh Thơ làm biên tập, Hồ Thu là họa sĩ. Làm chủ nhiệm báo, Lưu Hồ là người chi tiền để nuôi báo, còn mọi việc đều vào tay Quỳnh Dao cả. Anh chàng 21 tuổi đứng chân chủ nhiệm chỉ để ra oai. Ra số Tết, số Xuân 1943, nhưng sau đó vì Lưu Hồ hết tiền, báo không ra được số 5, rồi bị đình bản.

Cũng tự thân mở báo như tác giả Thề non nước, nhưng óc tổ chức có phần tốt hơn, Lê Tràng Kiều được Phạm Cao Củng khen có tài tổ chức, có sáng kiến táo bạo. Tuy nhiên, tờ này cũng mắc phải yếu tố căn cốt, là tiền; bởi vậy khi ra báo, người thực hiện phải giật gấu vá vai chạy từng số và rồi báo Tân thiếu niên của Tràng Kiều cũng phải vào phận hẩm hiu.

“Muốn tự mình ra một tờ báo độc lập, không bị chi phối bởi một đảng phái hay một kẻ bỏ tiền vốn thì chỉ còn có một cách là ‘giật gấu vá vai’, vay món này đập món nọ, lo chạy tiền in, tiền giấy cho từng số báo một, mà ra báo, tiền bán báo dù báo chạy, so với tiền in, tiền giấy thì chưa thấm vào đâu. Báo muốn sống thì cần phải có nhiều quảng cáo, mà báo ra đều và sống khá lâu rồi thì mới dễ lấy quảng cáo”, Phạm Cao Củng đã rút kinh nghiệm làm báo tự thân trong Hồi ký Phạm Cao Củng.

Tuần báo Sống ra số đầu tiên ngày 22/1/1935 tại đất Sài Gòn. Ngay khi báo mới ra, kinh phí để xuất bản báo khá hẻo. Nhớ lại trong hồi ký Núi Mộng gương Hồ, Mộng Tuyết biết được tình hình phải gửi vòng vàng lên để góp vốn giúp báo duy trì. Để có kinh phí ra báo, Mộng Tuyết, Lê Thị Đức, Lê Thị Thượng và Trần Hữu Trang phải đi cổ động ở khắp nơi để kêu gọi độc giả mua báo. Sau 30 số xuất bản, vì không tự túc được kinh phí, báo phải tự đình bản.

Nam Phong tạp chí nhận trợ cấp 600 đồng mỗi tháng

Tự túc kinh phí để ra báo, nếu nguồn tài chính không dồi dào như nhà Tân Dân, Mai Lĩnh, thì các chủ báo đa phần rơi vào cảnh “chạy ăn từng bữa” kiểu An Nam tạp chí, Sống. Có báo phải thuê mặt bằng, thuê in ấn như An Nam tạp chí, nhưng cũng có báo chủ động được nhiều khoản, như Trung hòa nhật báo, Tiếng dân, Con ong có nhà in riêng.

Có báo được thực dân bảo trợ, nhưng có báo phải tự thân vận động, đó là chưa kể còn bị gây khó dễ từ chính quyền. Báo nào được hậu thuẫn thì sống khá lâu, còn những báo phải tự túc, hoặc bị chính quyền nhòm ngó thì sống trong tình trạng luôn thấp thỏm với hai chữ “đình bản”.

kinh phi xuat ban bao xua anh 4

Nam Phong tạp chí số 72, ra tháng 6/1923. Tờ báo này được hỗ trợ kinh phí và hỗ trợ phát hành. ẢNH: T.L.

Xem trường hợp của Nam Phong tạp chí, báo này Vương Hồng Sển có nói là được bảo trợ để tuyên truyền cho thực dân, lối phát hành thì các làng xã phải gánh mua, mà chưa hẳn đã đọc. Mỗi tháng, Nam Phong tạp chí được chính quyền cấp cho một khoản kinh phí là 600 đồng, trong khi đó Trung Bắc Tân văn được nhận khoản thấp hơn một chút là 500 đồng, theo lời Nguyễn Công Hoan trong Đời viết văn của tôi.

Có những báo lại sống nhờ vào sự ủng hộ của độc giả, mà cụ thể ở đây là báo của những người hoạt động cách mạng cứu nước. Là người tham gia làm báo cuối những năm 1930, Hoàng Quốc Việt trong hồi ký Chặng đường nóng bỏng cho biết khi báo mới ra “tiền thuê in báo thoạt tiên là tiền ủng hộ, khi có báo bán rồi, một phần lãi trang trải cho anh em có cái ăn, còn chủ yếu là làm vốn, tiếp tục ra báo”.

Riêng với báo tiếng Pháp, do đối tượng độc giả hẹp hơn báo quốc ngữ, chủ yếu là trí thức, công chức mua, nên báo tiếng Pháp, cụ thể là báo cộng sản “người mua báo vừa mua vừa ủng hộ nữa. Thỉnh thoảng trên báo lại có mục cảm ơn người ủng hộ, không nói rõ tên, kèm số tiền”.

Nguồn: https://zingnews.vn/kinh-phi-xuat-ban-va-chuyen-thanh-bai-cua-nhung-to-bao-xua-post1328216.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Tập văn liệu về biển đảo trong nghìn năm lịch sử dân tộc

“Hải quốc từ chương” không chỉ là một tập văn liệu, mà còn là một nguồn sử liệu phong phú để chúng ta có thể nghiên cứu và phát huy tinh thần hướng biển của cha ông.

Hải Quốc từ chương do PGS.TS Trần Trọng Dương khảo chú là cuốn sách giới thiệu những di sản văn chương viết về biển đảo Việt Nam trong suốt nghìn năm lịch sử.

Cuốn sách gồm gần 350 tác phẩm văn học Hán Nôm thời trung – cận đại và gần 100 tác phẩm văn học dân gian viết về lịch sử, phong tục, tập quán, sản vật địa phương, hải sản và những suy tư, tâm tình, những lời ăn tiếng nói mang hơi thở của biển cả.

PGS.TS Trần Trọng Dương có những chia sẻ về quá trình thực hiện cũng như nội dung cốt lõi của cuốn sách này.

Van chuong viet ve bien dao anh 1

Sách Hải Quốc từ chương. Ảnh: thebooklag.

Cuộc khảo sát văn chương về biển đảo

– Sách “Hải quốc từ chương” vốn là một đề tài do ông làm chủ nhiệm năm 2016, Viện Nghiên cứu Hán Nôm chủ trì. Đâu là động lực để ông phát triển, bổ sung, hoàn thiện nó thành một tập đại thành văn chương Việt Nam viết về biển đảo trong lịch sử?

– Trước nay, không ít người cho rằng Việt Nam không có văn học biển đảo, mà chủ yếu tập trung về văn học khoa cử, không liên quan đến thực tiễn và không có giá trị về lịch sử. Điều này là hoàn toàn không đúng so với những gì mà các nhà nghiên cứu văn học cổ trung đại từng biết và viết đến.

Sự thiếu vắng của văn học biển đảo từ thời Lý đến thời Nguyễn trong nhiều công trình học thuật là do chúng ta chưa có một cuộc khảo sát tổng thể về di sản văn chương của cha ông viết về mảng đề tài này.

Với cá nhân tôi, văn học biển đảo là một loại hình di sản văn hóa đánh dấu những thăng trầm lịch sử, đánh dấu những cột mốc lớn về chính trị và văn hoá. Và khối lượng tác phẩm có thể lên đến cả nghìn trang còn đang lưu trữ tản mát trong các kho cổ tịch. Chính vì thế, tôi đã quyết tâm thực hiện đề tài này.

Do số lượng tác phẩm khá lớn và trải dài trong gần nghìn năm, nên tôi đành phải tự dành dụm thời gian làm trong khoảng 6 năm, để có được sản phẩm tổng tập về văn học biển đảo mang tên Hải quốc từ chương.

– So với các ấn phẩm văn chương Việt Nam về biển đảo đã xuất bản, sách “Hải quốc từ chương” có gì khác biệt?

– Hải Quốc từ chương là một bộ sách sưu tập các tư liệu văn hiến trong suốt nghìn năm từ thời Lý đến thời Nguyễn. Cuốn sách tuyển chọn hàng trăm tác phẩm, gồm những áng thơ văn viết về hàng trăm hàng nghìn địa danh duyên hải từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Quảng Nam… đến Kiên Giang. Đóng góp của Hải Quốc từ chương thể hiện ở các điểm sau:

Thứ nhất, đây là bộ tuyển tập văn học cổ trung đại đầy đủ nhất đã được xuất bản cho tới năm 2022. Ta biết trước đó từng có hai cuốn Biển đảo tổ quốc tôi – Hợp tuyển thơ văn viết về biển đảo Việt Nam (2016, 1.116 trang) và Biển gọi – một ngàn năm thơ biển Việt Nam (2015, dày 1.300 trang). Nhưng cả hai bộ sách đồ sộ này có phần lớn tác phẩm được sáng tác trong thế kỷ XX – XXI, còn văn học trung đại của cha ông viết về biển đảo lại chiếm một dung lượng hạn chế.

Thứ hai, Hải quốc từ chương kế thừa tất cả thành tựu của các nhà nghiên cứu, các dịch giả trước đây (có ghi nguồn) để đưa ra một diện mạo tổng quát và liên tục về một nền văn học biển đảo, đồng thời bổ sung một số dịch phẩm mới chưa từng biết đến.

Thứ ba, sách có hàng trăm chú thích về địa danh cổ duyên hải được thực hiện bằng cách khảo sát các nguồn sử liệu và chồng lớp bản đồ. Nhiều tác phẩm trước đây không được coi là văn học biển đảo đã được sưu tầm và giới thiệu. Kết quả này đã được thể hiện trong chính văn và được trình bày trong Bảng tra cứu ở cuối sách.

Thứ tư, phần lớn tác phẩm đều được trình bày bằng cả nguyên văn chữ Hán chữ Nôm, được hiệu khảo, đính chính, và được dịch nghĩa, dịch thơ. Tính khảo cứu là đóng góp lớn nhất của cuốn sách này.

Van chuong viet ve bien dao anh 2

PGS.TS Trần Trọng Dương cùng ấn phẩm Hải Quốc từ chương. Ảnh: NVCC.

Vai trò của văn học biển đảo

– Thử thách nhất với ông khi thực hiện cuốn sách này là gì?

– Công việc khó khăn nhất của tôi trong cuốn sách này là chú thích về địa danh cổ. Công việc này đòi hỏi người thực hiện phải trang bị các tri thức về địa lý học lịch sử, với hàng trăm hàng nghìn địa danh duyên hải (tên các cửa biển, các vùng cửa biển, các hòn, các đảo, các vũng – vịnh – đầm – phá, các bến đò, cảng khẩu, các cồn bãi, các làng xã, thôn ấp, chùa chiền, thắng tích, pháo đài, chợ búa… ven biển) với những tiêu chí cụ thể về văn bản, lịch sử, địa lý (như trình bày ở trong bài Khái lược về văn học biển đảo Việt Nam).

Làm sao có thể biết hết được tất cả tên đảo các cửa biển đã thay đổi như thế nào từ xưa cho đến nay, làm sao có thể xác định các địa danh ấy trên bản đồ hiện đại, làm sao có thể điền dã từng vị trí? Làm sao có thể chú thích về những nơi mà mình chưa từng đến. Công việc đó là của tập thể chứ không phải của một cá nhân.

Vì thế, ngoài việc đi điền dã một số địa phương, tôi đã sử dụng hệ thống bản đồ Hán Nôm, bản đồ của các thời kỳ, chồng lên bản đồ địa lý hành chính hiện tại, đối chiếu với nhiều nguồn sử liệu khác.

Ví dụ: vũng Đồng Long nổi tiếng trong thơ vua Lê Thánh Tông trước nay thường được chú thích là ở Nghệ Tĩnh hoặc Thừa Thiên – Huế (do nhầm với Ô Long), nay đã được xác định là vịnh Đà Nẵng. Dĩ nhiên, cuốn sách này sẽ không tránh khỏi những sai sót, rất mong được độc giả góp ý để tiếp tục hoàn thiện khi tái bản.

– Tiêu chí tuyển chọn các tác phẩm trong sách này như thế nào? Tại sao cuốn sách chỉ tuyển chọn các tác phẩm của người Việt?

– Hải quốc từ chương đặt ra nhiều tiêu chí để chọn lựa, quan trọng nhất là tính biển (tức nội dung phải liên quan đến biển đảo, hoặc đề cập đến đời sống văn hoá, các sự kiện lịch sử trên vùng duyên hải).

Tiếp đến, tiêu chí chủ thể sáng tác là người Việt, tiêu chí này liên quan đến góc nhìn của tác giả, cái nhìn bên trong để cho chúng ta – người ngày nay, hiểu được người xưa đã sinh sống, quan niệm như thế nào với môi trường biển đảo, đã có những phương thức ứng xử như thế nào với biển đảo, quan trọng nhất là hiểu được người xưa ý thức như thế nào về việc khai thác và chủ quyền biển đảo.

Ví dụ, từ “hải quốc” trong tên sách là xuất phát từ một số tác phẩm của thơ của Nguyễn Trung Ngạn, Trần Quan, ngoài ý nghĩa thi ca, còn là một nguồn sử liệu về ý thức hướng biển của người Việt.

Các sáng tác văn học biển đã có những dấu vết đáng kể với những tác phẩm thi ca của hàng loạt tác giả nổi tiếng, mà phần lớn của các hoàng đế, nhà Nho, nhà văn hóa như Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Minh Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi…

Hàng chục tác phẩm viết về biển, các hải cảng, các danh lam thắng tích cửa biển đã tạo nên sự phong phú về nội dung và nghệ thuật. Không khí chung của các tác phẩm này là ca ngợi vẻ đẹp non sông, các chiến tích lẫy lừng của thủy trận trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm, sự chiêm nghiệm về lẽ hưng vong, hay sự xót thương phận người trong những thiên tai lũ lụt… Không thể nghi ngờ rằng, văn học biển đảo chiếm một ví trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam.

– Thông qua cuốn sách, ông muốn gửi thông điệp gì?

– Thông điệp cơ bản của tôi khi xuất bản cuốn sách này là muốn mọi người hiểu rõ về giá trị của tư liệu gốc. Lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử văn học biển đảo nói riêng là nền tảng của quá khứ để kiến tạo nên hiện tại.

Để có đường bờ biển dài như nước ta hiện nay, lịch sử đã trải qua nhiều năm với nỗ lực của nhiều thế hệ. Và muốn giữ được biển đảo, muốn khai thác tốt những giá trị của văn hóa lịch sử, con người luôn phải xuất phát từ quá khứ, trân trọng quá khứ.

Hải quốc từ chương không đơn thuần là một tập văn liệu, mà thực chất còn là một nguồn sử liệu để chúng ta có thể nghiên cứu và phát huy tinh thần hướng biển của cha ông trong suốt nghìn năm. Như Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết: “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ / Nước Việt muôn năm vững trị bình” (Nguyễn Khắc Mai dịch thơ).

Nguồn: https://zingnews.vn/tap-van-lieu-ve-bien-dao-trong-nghin-nam-lich-su-dan-toc-post1327145.html

Tiếp tục đọc

Xu hướng