Connect with us

Tác giả

‘Bây giờ muốn đọc thơ trước đám đông, anh phải trả tiền’

Được phát hành

,

Theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, thơ ca đang bị đẩy dạt sang một bên đời sống, bị các loại hình giải trí khác chiếm độc giả, thậm chí người ta còn đùa muốn đọc thơ phải mất tiền.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa đạt giải thưởng thơ Changwon KC của Hàn Quốc. Giải thưởng này không chỉ mang tới vinh dự cho bản thân tác giả, mà còn là niềm vui cho người yêu thơ Việt.

Nhân dịp này, Nguyễn Quang Thiều trò chuyện về giải thưởng, thơ ca Việt Nam, và cách quảng bá thơ ca trong thời đại bùng nổ các loại hình giải trí.

Thơ đăng Facebook, chỉ cần được chia sẻ, đồng cảm đã hạnh phúc rồi

– Giới văn chương vui mừng trước tin nhà văn Nguyễn Quang Thiều đạt giải Changwon KC của Hàn Quốc. Không biết, ông đã được thông báo thế nào về giải thưởng?

– Cách đây vài ngày tôi nhận được thông báo mình đạt giải. Tôi sẽ nhận giải vào ngày 7/9 tại Hàn Quốc, sau đó tham dự Liên hoan Văn học Changwon.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều hiện là Phó chủ tịch Hội Nhà văn VN, Giám đốc NXB Hội Nhà văn, Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Á - Phi - Mỹ Latin.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều hiện là Phó chủ tịch Hội Nhà văn VN, Giám đốc NXB Hội Nhà văn, Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Á – Phi – Mỹ Latin.

– Phần thưởng mà ông nhận được là gì?

– Theo quy định lâu nay của Hàn Quốc, phần thưởng là 5.000 USD (khoảng 114,9 triệu đồng) tiền mặt, kèm chi phí đi lại ăn ở, tham dự lễ trao giải, tham dự một hoạt động về thơ ca tại Hàn Quốc trong dịp này.

– Cho tới khi thông tin nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đạt giải thưởng Changwon KC, nhiều người Việt mới biết tới giải thưởng này. Trước đây ông đã biết tới giải thưởng hay chưa?.

– Tôi cũng như mọi người, chưa biết nhiều về giải thưởng; bởi chúng ta thường chú ý đến nhưng giải thưởng lớn, hoặc tên tuổi. Trước đó, tôi được thông báo là được đề cử cho một giải thưởng như vậy của Hàn Quốc. Bẵng đi một thời gian, một ngày họ thông báo tôi được giải.

Sau khi được thông báo mình đạt giải, tôi vào Internet đọc, tìm hiểu giải thưởng này ra sao, tổ chức trao giải là như thế nào. Lúc đó mới biết những người được giải đều là những tên tuổi lớn mà mình từng đọc, hoặc có người là bạn tôi ở Mỹ.

Giải thưởng trao cho nhà thơ quốc tế, có quá trình sáng tạo thi ca, có dấu ấn trong quá trình sáng tạo. Họ xem xét những hoạt động, những tập thơ đã in trong nước, giải thưởng thơ ca trong và ngoài quốc gia của nhà thơ đó, việc xuất hiện thơ của họ trên báo, tạp thí, tuyển tập xưa nay.

Giải thưởng chỉ trao cho các nhà thơ từ 50 tới 65, tôi không hiểu rõ lý do vì sao lại chọn những nhà thơ trong độ tuổi ấy. Nhưng tôi nghĩ, nhà thơ trong độ tuổi đó đã có một quá trình sáng tác nhất định, chưa nói hết cuộc đời, nhưng gần hết cuộc đời; và trao cho họ trong độ tuổi này để họ vẫn tiếp tục sáng tạo trong phần đời còn lại của mình.

– Ông có biết những tác phẩm cụ thể giúp ông đạt giải là gì không?

– Trước tiên, người ta xét quá trình sáng tác. Tôi đã vài ba lần có thơ được giới thiệu trên các tuyển thơ, tạp chí Hàn Quốc. Những bài thơ của tôi được dịch sang tiếng Hàn Quốc và tiếng Anh là cơ sở để họ xem xét.

Những bài thơ này được chọn lựa từ nhiều tập thơ, đặc biệt từ Sự mất ngủ của lửa đến những tập sau này. Qua tác phẩm thơ, hoạt động thơ của người đó, qua sự xuất hiện thơ của người đó trên quốc tế, dựa trên những giải thưởng mà người đó đã đạt được… dựa trên đó, hội đồng cùng trao đổi, bàn luận, bỏ phiếu để tìm ra người đạt giải.

– Cảm xúc của ông ra sao khi biết mình đat giải?

– Tôi rất vui. Đối với người làm thơ, nhận được sự đồng cảm là điều quan trọng. Ví dụ, ai đó làm thơ đăng lên Facebook mà nhận sự chia sẻ, ủng hộ bài thơ đó thì đã vui rồi. Huống hồ có những tổ chức, giải thưởng uy tín (Changwon KC là giải thưởng uy tín của Hàn Quốc) đọc và đồng cảm nữa.

Khi được giải này tôi hạnh phúc. Một lần nữa thơ của mình được những người bạn ở nền văn hóa khác đọc, và hưởng ứng ở một góc nào đó, thì đó là niềm hạnh phúc cho người sáng tác.

– Trước đây thơ ca của ông đã xuất hiện như thế nào tại Hàn Quốc?

– Tôi đã 3 lần trình bày thơ của mình tại Hàn Quốc (hai lần tham gia liên hoan, một lần tham gia hội thảo), thơ của tôi được tuyển tập, tạp chí thơ uy tín Hàn Quốc giới thiệu. Mỗi lần như thế họ giới thiệu khoảng 5 đến 10 bài thơ.

Qua 2, 3 lần giới thiệu như thế, có lẽ họ có một cách nhìn nào đó về thơ tôi. Khi họ nghiên cứu về những ứng cử viên của giải, có thể họ đã tìm hiểu thông tin về tôi về tác phẩm xuất hiện trên thế giới. Thơ tôi đã xuất hiện ở Mỹ, Anh, Ireland, Na Uy, Tây Ban Nha…

Sự mất ngủ của lửa là một trong những tác phẩm đánh dấu sự đổi mới thơ ca Việt Nam.

Sự mất ngủ của lửa là một trong những tác phẩm đánh dấu sự đổi mới thơ ca Việt Nam.

– Đã có nhiều thơ được giới thiệu ở nước ngoài. Vậy ông có bí quyết, cách thức nào quảng bá thơ ca của mình không?

– Kể ra chúng ta có một lộ trình để giới thiệu thơ ca thì tốt hơn. Tôi cũng đi tham dự những liên hoan thơ quốc tế. Những tổ chức, các hội nhà văn giới thiệu các hội viện, các tác giả tới nhau. Một ngày tôi nhận được email, họ nói họ muốn giới thiệu, mời tôi tham dự những hội thảo, liên hoan thơ như vậy. Và tôi tham dự.

Năm 1992 tôi đi Mỹ tham dự một hội thảo thơ mùa hè. Để người Mỹ biết điều gì đó về thơ mình, tôi tự dịch thơ trong tập Sự mất ngủ của lửa ra tiếng Anh, tôi đọc bằng tiếng Việt và tiếng Anh.

Sau đó một nhà thơ đã đến nói với tôi rằng: “tôi muốn đọc thơ ông, được dịch thơ cùng ông”. Và tập thơ Những người đàn bà gánh nước sông xuất bản năm 1997 tại Mỹ. Sau đó tạp chí Đại học Harvard có giới thiệu trang trọng tập thơ này. Những đánh giá của họ khiến tôi bất ngờ xúc động.

Năm 1998, Hiệp hội các dịch giả văn học cấp quốc gia Mỹ đã trao giải thưởng cho tập thơ đó ở Mỹ.

Tôi cũng có những bài thơ mà bạn đọc tự dịch, ví dụ năm 2011, bài thơ Bài hát về cố hương được một dịch giả chuyển ngữ, và được trao là Bài thơ dịch hay nhất năm tại báo Văn học Nga.

Việc dịch thơ của tôi đến rất tự nhiên. Thế giới họ có nhu cầu tìm hiểu thơ của các dân tộc khác nhau. Ai có cơ hội sẽ làm. Điều thiệt thòi cho các nhà thơ Việt Nam là ít được học tiếng Anh. Các sự kiện xuất bản, giao lưu, chúng ta vẫn chưa có dự án truyền bá văn học Việt Nam ra nước ngoài một cách chiến lược.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (giữa) trong Ngày hội thơ ở Văn Miếu.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (giữa) trong Ngày hội thơ ở Văn Miếu.

– Như vậy nhà văn muốn quảng bá tác phẩm của mình cần tự giắt lưng vốn liếng ngoại ngữ?

– Họ không nhất thiết phải giỏi ngoại ngữ, nhưng phải có một chiến lược, ngân sách để dịch và truyền bá cho việc đó. Điều này phải nằm trong chiến lược của nhà nước, chọn giới thiệu các nhà thơ tốt.

Mấy năm nay tôi làm Phó Tổng thư ký thường trực Hội Nhà văn Á, Phi, Mỹ Latin, tôi đã chọn lựa những bài thơ Việt dịch sang tiếng Anh giới thiệu trên tạp chí Hoa Sen của hội. Nếu nơi nào phát hiện, yêu thích nhà thơ nào của Việt Nam thì liên hệ để dịch, giới thiệu.

Bạn đọc không còn say đắm thơ như thuở trước

– Với tư cách Phó tổng thư ký Hội Nhà văn Á, Phi, Mỹ Latin, ông đánh giá như thế nào về mặt bằng thơ ca Việt Nam hiện nay?

– Chúng ta có nền thơ ca đa dạng, phong phú. Trong những năm chiến tranh, thơ ca chúng ta dồn vào mục đích cao nhất là giải phóng dân tộc. Sau năm 1975, thơ ca chúng ta thay đổi, đổi mới, tiếp cận thế giới nhanh chóng. Không ít nhà thơ Việt Nam hiện diện trên các văn đàn uy tín, ví dụ như Mai Văn Phấn nhận giải Cikada, trước đó là nhà thơ Ý Nhi…

Từ đó có thể thấy mặt bằng thi ca của nước ta có bản sắc riêng, có sự ngang bằng, càng ngày sự phong phú, tính hiện đại của thơ Việt ngày càng cao. Nhưng việc chuyển dịch của chúng ta còn yếu. Vì thế sự xuất hiện của các nhà thơ Việt Nam khi đứng cạnh các nhà thơ khác trên thế giới, được các bạn thế giới chia sẻ vô cùng hạn chế.

Tập thơ The Woman Carry River Water xuất bản tại Mỹ.

Tập thơ The Woman Carry River Water xuất bản tại Mỹ.

– Quay lại tình hình tiếp nhận thơ trong nước, ông nghĩ sao khi ngày càng ít người bỏ tiền ra mua thơ?

– Việc bạn đọc yêu thơ không còn nhiều, không say đắm như thuở trước, tôi cho đó là một xu thế thường thấy không chỉ ở Việt Nam, mà khá nhiều nước trên thế giới.

Nhưng lướt qua mạng xã hội thấy nhiều người làm thơ, khi viết thơ trên Facebook vẫn được chia sẻ. Nghĩa là người Việt Nam vẫn luôn hướng đến những bài thơ rung cảm, sâu sắc, chạm tới bên trong tâm hồn mỗi người đọc.

Trong đời sống này, không chỉ thơ ca, mà nhiều loại hình khác cũng bị đẩy lùi ra, dạt sang một bên, như văn xuôi, hội họa, âm nhạc chính thống… Chúng ta nên nhìn lại để tìm cách tuyên truyền quảng bá tốt hơn nữa.

Có những người khi nghe đọc thơ đã nói: “Chúng tôi hoàn toàn không biết đến tác giả này. Nhưng khi nghe bài thơ này, tôi phát hiện ra nhiều điều, và muốn đọc nhiều hơn nữa”.

Như vậy, cách chúng ta truyền bá thơ ca của ta, các nhà thơ rơi vào thế bị động, không lạc quan lắm cho việc giới thiệu thơ của mình. Các nhà thơ làm thơ ra, đọc cho đồng nghiệp của mình nghe, in với số lượng rất nhỏ, mang đi tặng, rồi tác phẩm vào quên lãng. Điều này lỗi do thi ca có phần, nhưng có một cách chúng ta truyền bá cho thơ ca yếu kém.

– Tức là bản thân người sáng tác cần phải biết cách quảng bá thơ mình?

– Người ta vẫn thường đùa: Bây giờ muốn đọc thơ trước đám đông, anh phải bỏ tiền ra, muốn được đọc thơ thì phải tặng tiền cho người ta rồi đọc.

Đó chỉ là cách nói đùa hài hước, nhưng điều đó cho thấy sự tiếp nhận của công chúng với thơ ca đã hạn chế đi rất nhiều. Họ đang phải tiếp nhận lượng thông tin giải trí quá lớn từ mạng, truyền hình…

Nhưng ngay tại Mỹ là đất nước hiện đại như vậy, công nghiệp giải trí phát triển như vậy, nhưng các hoạt động thi ca của họ dày đặc, đều đặn, liên tục. Tôi biết một tờ báo ở Masachuset, vẫn thường xuyên đưa tin những chương trình giới thiệu đọc thơ, giao lưu các nhà thơ ở một câu lạc bộ, ở một quán café, thư viện hay nhà thờ. Đó cũng là một cách truyền bá thơ.

Nguồn: Thu Hiền (Zing)

Tiếp tục đọc
Nhấn vào đây để bình luận

You must be logged in to post a comment Login

Leave a Reply

Tác giả – Tác phẩm Văn 12

Tác giả Hồ Chí Minh

Được phát hành

,

Bởi

Tìm hiểu tác giả Hồ Chí Minh gồm các nội dung tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, phong cách văn học và đóng góp cho nền văn học

1. Tiểu sử

– Hồ Chí Minh (19/05/1889 – 02/09/1969) tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung.

– Quê quán: Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An.

– Gia đình: nhà Nho nghèo, cha là Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là Hoàng Thị Loan.

– Quá trình hoạt động cách mạng:

+ Năm 1911, ra đi tìm đường cứu nước.

+ Hoạt động cách mạng ở nhiều nước: Pháp, Trung Quốc, Thái Lan…

+ Ngày 3-2-1930, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.

+ Năm 1941, trở về nước, lãnh đạo phong trào CM trong nước.

+ Tháng 8-1942, sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ của quốc tế, bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam đến tháng 9-1943.

+ Ra tù, Người trở về nước, lãnh đạo phong trào CM, tiến tới tổng khởi nghĩa tháng 8-1945.

+ Ngày 2-9-1945, đọc bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước VNDCCH, giữ chức vụ Chủ tịch nước.

+ Lãnh đạo nhân dân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ.

=> Là vị lãnh tụ tài ba, vĩ đại, danh nhân văn hóa thế giới. 

 


2. Sự nghiệp văn học

a. Quan điểm sáng tác:

– Coi văn học là một vũ khí chiến đấu phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.

– Luôn chú trọng tính chân thực và tính dân tộc.

– Luôn chú ý đến mục đích và đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm.

b. Di sản văn học:

– Văn chính luận:

+ Tác phẩm chính: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966)…

– Truyện và kí:

+ Tác phẩm chính: Pari (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Con người biết mùi hun khói (1922), Vi hành (1923), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925), Nhật kí chìm tàu (1931), Vừa đi đường vừa kể chuyện (1963)…

– Thơ ca:

+ Tác phẩm chính: Nhật kí trong tù (viết trong thời gian bị giam cầm trong nhà lao Tưởng Giới Thạch từ 1942-1943), chùm thơ viết ở Việt Bắc từ 1941-1945.

=> Di sản văn học lớn lao về tầm vóc, phong phú về thể loại và đa dạng về phong cách.

c. Phong cách nghệ thuật:

– Thống nhất:

+ Về mục đích sáng tác, quan điểm sáng tác, nguyên tắc sáng tác.

+ Về cách viết ngắn gọn.

– Đa dạng:

+ Văn chính luận: ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục, giàu tính luận chiến, kết hợp nhuần nhuyễn mạch luận lí với mạch cảm xúc, giọng điệu uyển chuyển.

+ Truyện và kí hiện đại, giàu tính chiến đấu, nghệ thuật trào phúng sắc bén, nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng thâm thúy, sâu cay.

+ Thơ ca: thơ tuyên truyền cách mạng mộc mạc, giản dị, dễ nhớ, dễ thuộc; thơ nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển với yếu tố hiện đại, cô đọng, súc tích. 

Tiếp tục đọc

Tác giả – Tác phẩm Văn 12

Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh

Được phát hành

,

Bởi

Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh bao gồm tóm tắt nội dung chính, lập dàn ý phân tích, bố cục, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật cùng hoàn cảnh sáng tác, ra đời của tác phẩm và tiểu sử, quan điểm cùng sự nghiệp sáng tác phong cách nghệ thuật giúp các em học tốt môn văn 12

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

  • I. Tác gia
  • II. Tác phẩm
  • Nhận định

I. Tác gia

1. Tiểu sử 

– Hồ Chí Minh (19/05/1889 – 02/09/1969) tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung.

– Quê quán: Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An.

– Sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo, yêu nước

– Người là một vị lãnh tụ tài ba, vĩ đại, người đã đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi cảnh nô lệ, lầm than.

– Được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới.

2. Sự nghiệp văn học

a. Quan điểm sáng tác:

– Coi văn học là một vũ khí chiến đấu phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.

– Luôn chú trọng tính chân thực và tính dân tộc.

– Luôn chú ý đến mục đích và đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm.

b. Tác phẩm chính

Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925), Nhật kí trong tù,…

c. Phong cách nghệ thuật:

– Thống nhất:

+ Về mục đích sáng tác, quan điểm sáng tác, nguyên tắc sáng tác.

+ Về cách viết ngắn gọn.

– Đa dạng:

+ Văn chính luận: ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục, giàu tính luận chiến, kết hợp nhuần nhuyễn mạch luận lí với mạch cảm xúc, giọng điệu uyển chuyển.

+ Truyện và kí hiện đại, giàu tính chiến đấu, nghệ thuật trào phúng sắc bén, nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng thâm thúy, sâu cay.

+ Thơ ca: thơ tuyên truyền cách mạng mộc mạc, giản dị, dễ nhớ, dễ thuộc; thơ nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển với yếu tố hiện đại, cô đọng, súc tích.

II. Tác phẩm

1. Tìm hiểu chung:

a. Hoàn cảnh ra đời :

– Thế giới:

+ Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc.

+ Nhật đầu hàng Đồng minh.

– Trong nước: Cả nước giành chính quyền thắng lợi.

+ 26 – 8 – 1945: Hồ chủ tịch về tới Hà Nội.

+ 28 -8 1945: Bác soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập tại tầng 2, căn nhà số 48, phố Hàng Ngang, Hà Nội.

+ 2 – 9 – 1945: đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

b. Mục đích sáng tác:

– Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc trước quốc dân và thế giới.

– Tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến; khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và bày tỏ quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc.

c. Bố cục:

– Đoạn 1: Từ đầu… “không ai chối cãi được” => Nêu nguyên lí chung của bản tuyên ngôn độc lập.

– Đoạn 2: Từ “Thế mà” …. “phải được độc lập” => Tố cáo tội ác của thực dân Pháp, khẳng định thực tế lịch sử nhân dân ta đấu tranh giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

– Đoạn 3: (Còn lại) => Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ nền độc lập.

d. Nội dung chính:

     Vạch trần tội ác của thực dân Pháp cướp nước ta; tuyên bố nền độc lập dân tộc; khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và thể hiện ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc.

2. Tìm hiểu chi tiết:

a. Cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn độc lập.

– Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mĩ và Pháp làm cơ sở pháp lí cho tuyên ngôn độc lập của Việt Nam:

=> Ý nghĩa:

+ Tôn trọng những tuyên ngôn bất hủ của người Mĩ và Pháp vì những điều được nêu là chân lí của nhân loại.

+ Dùng cách lập luận “gậy ông đập lưng ông” để buộc tội Pháp và ngăn chặn âm mưu tái xâm lược của chúng.

+ Thể hiện quyền tự hào dân tộc: đặt 3 cuộc cách mạng, 3 bản tuyên ngôn, 3 dân tộc ngang hàng nhau.

b. Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam:

* Tố cáo tội ác của Pháp:

+ Tố cáo tội ác tàn bạo của thực dân Pháp trên mọi mặt đời sống khi cai trị nước ta: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội (liệt kê hàng loạt dẫn chứng đanh thép, hùng hồn về tội ác của Pháp).

+ Giải thích rõ ràng, mạch lạc: từ mùa thu 1940 đến 9/3/1945, thực dân Pháp đã bán nước ta hai lần cho Nhật (khi thì quỳ gối đầu hàng khi thì bỏ chạy), vì vậy không còn bất kì quyền lợi cai trị nào ở nước ta.

* Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc:

Trình bày cuộc đấu tranh xương máu giành độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam:

+ Nhân dân Việt Nam đã nổi dậy giành chính quyền, lấy lại đất nước từ tay Nhật.

+ Quân và dân ta đã nhiều lần kêu gọi người Pháp cùng chống Nhật nhưng bị từ chối, khi Pháp thua chạy, đồng bào ta vẫn khoan hồng và giúp đỡ họ.

+ Dân ta đánh đổ các xiềng xích phong kiến, thực dân, phát xít.

+ Quân và dân ta tin tưởng vào sự công bằng của các nước Đồng Minh.

 => Khẳng định, đề cao tinh thần xả thân giữ nước, thành quả cách mạng của nhân dân ta. Chúng ta hoàn toàn xứng đáng với nền độc lập có được bởi chính máu xương của mình.

c. Giá trị nội dung:

– Là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta.

– Đánh dấu kỉ nguyên độc lập, tư do của nước Việt Nam mới.

d. Giá trị nghệ thuật:

– Là một áng văn chính luận mẫu mực.

– Lập luận chặt chẽ.

– Lý lẽ đanh thép.

– Ngôn ngữ hùng hồn.

– Dẫn chứng xác thực, lấy ra từ lịch sử cụ thể.

Nhận định

Một số nhận định về tác giả, tác phẩm

1. Có ý kiến đánh giá: “Tuyên ngôn độc lập một văn kiện có trị lịch sử to lớn, một bài văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn, đầy sức thuyết phục”.

2. Có ý kiến cho rằng: “Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là áng văn mẫu mực của văn xuôi chính luận Việt Nam”.  

3. Đồng chí Trường Chinh nhận xét: “Về văn phong, cách nói và cách viết của Hồ Chủ Tịch có những nét rất độc đáo: Nội dung khảng khái, thấm thía đi sâu vào tình cảm của con người, chinh phục cả trái tim và khối óc con người ta: Hình thức sinh động, giản dị, giàu tính dân tộc và tính nhân dân.”

Tiếp tục đọc

Tác giả – Tác phẩm Văn 12

Tác giả Phạm Văn Đồng

Được phát hành

,

Bởi

Tìm hiểu tác giả Phạm Văn Đồng gồm các nội dung tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, phong cách văn học và đóng góp cho nền văn học.

 1. Tiểu sử 

– Phạm Văn Đồng (1906 -2000)

– Ông sinh ra ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

– Tham gia cách mạng từ sớm và là nhà hoạt động cách mạng xuất sắc; là nhà giáo dục tâm huyết và một nhà văn hóa, văn nghệ lớn.

– Năm 1936, Phạm Văn Đồng ra tù, hoạt động ở Hà Nội.

 Năm 1940, ông bí mật sang Trung Quốc cùng với Võ Nguyên Giáp, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và được Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ về nước xây dựng căn cứ địa ở biên giới Việt – Trung.

– Năm 1945, tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, Phạm Văn Đồng được bầu vào Ủy ban Thường trực gồm 5 người thuộc Ủy ban Dân tộc giải phóng, chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám.

Phạm Văn Đồng là Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1976 cho đến khi nghỉ hưu năm 1987.

Trước đó ông từng giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1976.

Phạm Văn Đồng là vị Thủ tướng Việt Nam tại vị lâu nhất (1955–1987) và là học trò, cộng sự của Hồ Chí Minh.

=> Với bề dày hơn 70 năm hoạt động trong sự nghiệp Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó nhiều năm giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt, Phạm Văn Đồng được nhiều nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản và học giả trong nước, những người gần gũi với ông đánh giá là có nhiều đóng góp quan trọng trên nhiều lĩnh vực: chính trị, quân sự, văn học,…

 2. Sự nghiệp văn học

– Thể loại: Các tác phẩm nghị luận xuất sắc.

– Văn phong nghị luận của ông đầy nhiệt tình, lôi cuốn người đọc bằng những luận điểm mới mẻ, sâu sắc với lời văn trong sáng, nhiều hình ảnh.

– Tác phẩm chính: Hồ Chí Minh – Một con người, một dân tộc, một thời đại; Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc, Văn hóa đổi mới… 

Tiếp tục đọc

Xu hướng