Connect with us

Sách hay

Vẽ chân dung Hà Nội qua những bước chân đi về

Được phát hành

,

Không gian Hà Nội với những con ngõ hun hút như đời người luôn ám ảnh trong tâm tưởng, khiến Nguyễn Trương Quý đặt bút viết nên câu chuyện về mảnh đất nghìn năm văn hiến này.

Tập du khảo về Hà Nội của Nguyễn Trương Quý. Ảnh: Thu Huệ.

Tiến sĩ Văn học Hà Thanh Vân cho rằng có rất nhiều nhà văn chọn gắn bó với một mảnh đất để viết về. Hà Nội là một trong số những mảnh đất được lựa chọn. Họ viết về Hà Nội với một góc nhìn cố định. Nhưng Nguyễn Trương Quý lại không thế, anh nhìn Hà Nội từ nhiều góc độ, tầng lớp khác nhau.

Với tập du khảo mới ra mắt bạn đọc Triệu dấu chân qua những cửa ô, Nguyễn Trương Quý bắt đầu mạch khảo cứu ở tâm thế của một kẻ lang thang trên những con đường cũ và mới của Hà Nội. Anh đi từ những trang viết, bài thơ hay câu hát về chúng, rồi đến một lúc lan rộng ra những ngã rẽ hay dừng chân ở khoảng không gian nào đó.

Hành trình “triệu dấu chân” Nguyễn Trương Quý đi qua “những cửa ô” được thuật lại trong sách một cách đầy tỉ mẩn, kỹ lưỡng, như cái cách anh quan sát và dành tình yêu mê đắm cho Hà Nội.

Advertisement

Giữa tiết trời mùa thu dịu nhẹ, nhà văn Nguyễn Trương Quý, tiến sĩ Văn học Phạm Xuân Thạch, biên tập viên Nguyễn Hoàng Diệu Thủy cùng một số “bạn văn” đã có những chia sẻ xoay quanh mảnh đất Hà thành cũng như tập du khảo Triệu dấu chân qua những cửa ô. Buổi giao lưu diễn ra tại vườn hoa Lý Thái Tổ (Hoàn Kiếm, Hà Nội) tối 7/10.

Tìm hiểu những câu chuyện của đời phố

Sau Tự nhiên như người Hà Nội (2004), Hà Nội là Hà Nội (2010), Còn ai hát về Hà Nội (2013), Một thời Hà Nội hát – Tim cũng không ngờ làm nên lời ca (2018), Hà Nội bảo thế là thường (2020), Nguyễn Trương Quý vẫn chứng minh tình yêu không thay đổi của mình với thủ đô bằng tập du khảo Triệu dấu chân qua những cửa ô.

Nhưng lần này, anh chọn vẽ chân dung Hà Nội qua những dấu chân đi về. “Hà Nội có nhiều cửa ô, tôi chọn biểu tượng này vì lẽ chúng là tên gọi gợi nhớ ngay đến Hà Nội và cửa ô trong tâm tưởng là những lối nhập thành, tìm hiểu những câu chuyện của đời phố”, nhà văn chia sẻ.

Cuốn sách là những quan sát, khảo cứu kỳ công của Nguyễn Trương Quý về Hà Nội trong khoảng một trăm năm qua về những đường đi, lối lại, những phương tiện người Hà Nội sử dụng, những nơi đi, chốn ở quen thuộc cả trong đời thường và vọng tưởng.

Trong cuộc đi lại mải miết ấy, tác giả cho rằng theo vòng quay lịch sử, không gian và sự vật đổi thay đã kéo theo sự đổi thay của tâm tình người Hà Nội. Đó có thể là sự lãng quên hình ảnh các cửa ô từng hiện diện đến cuối thể kỷ XIX và thay vào đó, con người ta chỉ còn quen với những ngã năm Chợ Dừa, ngã tư Đại Cồ Việt, ngã tư Cầu Dền…

Advertisement

Đó cũng có thể là nỗi hoài niệm về tiếng leng keng tàu điện, thứ âm thanh khiến “người thời bao cấp và cả hậu bao cấp vẫn như được đồng hội đồng thuyền với người thời Pháp thuộc. Nó mỹ hóa ký ức của họ. Họ nhớ tàu điện là nhớ năm tháng nhọc nhằn, để rồi bồi đắp một ý niệm về vẻ đẹp khổ hạnh mà giờ đây lại thành của hiếm” như lời Nguyễn Trương Quý.

Khi đọc tập du khảo này, PGS.TS Phạm Xuân Thạch cho rằng Nguyễn Trương Quý đã tìm được hứng thú khi kể câu chuyện của mình. Hành trình tìm hiểu về Hà Nội của anh không phải là cố dựng lên một huyền thoại, mà tìm cách giải thích, cắt nghĩa xem cơ chế của những huyền thoại đó được dựng lên như thế nào.

“Cuốn sách có sự hòa hợp nhuần nhuyễn giữa khảo cứu kỳ công và chất văn thơ đầy hấp dẫn, tạo nên chân dung thành phố với dáng vẻ riêng của nó, một cảm giác thật gần gũi khi đọc về Hà Nội và nó khiến độc giả nắm bắt được trọn vẹn tâm hồn của mảnh đất này”, PGS.TS Phạm Xuân Thạch nói.

Chuyến tàu ngược thời gian

Triệu dấu chân qua những cửa ô là một trong số cuốn sách viết về Hà Nội của Nguyễn Trương Quý, nhưng điểm khác biệt ở đây là tác giả đã lần đầu tiên vẽ chân dung Hà Nội qua những bước chân đi về. Bởi thế, tác phẩm như một cuộc lãng du chầm chậm theo cả hai chiều không gian và thời gian, xen kẽ đó là những chiêm nghiệm ngậm ngùi pha lẫn nét hài hước ý nhị.

Nguyen Truong Quy anh 1

Từ trái qua: Biên tập viên Diệu Thủy, nhà văn Nguyễn Trương Quý, PGS.TS Phạm Xuân Thạch giao lưu tại buổi ra mắt sách tối 7/10. Ảnh: Thu Huệ.

Biên tập viên Nguyễn Hoàng Diệu Thủy cho rằng đọc cuốn sách, ta như lên một chuyến tàu, đi khám phá các không gian vì chính tác giả là người đã tạo nên những không gian đó.

Advertisement

“Tôi còn cảm nhận được nụ cười phảng phất trong từng trang viết. Với mỗi sự vật, hiện tượng, câu chuyện, tác giả đều đặt trong mối giao thoa cũ – mới. Người đọc có thể nhẩn nha nhấp một chén trà và nhìn lại quá khứ rồi bật cười hóm hỉnh vì tự nhìn ra sự so sánh giữa quá khứ và hiện tại”, biên tập viên Diệu Thủy nói.

“Triệu dấu dân” của Nguyễn Trương Quý không chỉ là những bước chân của kẻ thang thang dạo bộ, len qua các con ngách của Hà Nội; mà còn là hành trình trên chiếc xe đạp – thứ phương tiện từng là “bá chủ giao thông ở Hà Nội”, rồi đến ôtô, tàu điện, máy bay… Đó là những phương tiện lần lượt ra đời như tiến trình phát triển trong việc đi lại và văn hóa của người Việt.

“Tôi không biết hết các con ngõ ở Hà Nội, nhưng tôi đặc biệt hay để ý những dấu tích xưa cũ, muốn được sờ chạm vào những trầm tích của quá khứ. Tôi tin rằng tìm kiếm bóng dáng cũ không chỉ để hoài niệm mà còn để nhận diện cách ứng xử của hôm nay với hôm qua. Tôi cảm nhận được sự vận động của thành phố. Mọi phương tiện ngày nay đều thay đổi so với quá khứ, hành vi con người cũng có nhiều thay đổi, nhưng sự nhìn nhận của chúng ta vẫn có một quy luật nhất định”, nhà văn Nguyễn Trương Quý chia sẻ.

Những nhân vật anh chọn viết về đóng vai trò như những hành khách trên từng khoang riêng của chuyến tàu. Họ có thể gây chú ý ở số ghế quá đặc biệt, nhưng cũng có khi lặng lẽ lướt qua hàng ghế. Suy cho cùng, hành trình trên chuyến tàu ấy là một cuộc du ngoạn chậm rãi vòng quanh mảnh đất nghìn năm văn hiến này.

Nhận xét về tập du khảo này, nhà văn Đỗ Bích Thúy cho rằng Nguyễn Trương Quý xuất thân là một kiến trúc sư nên có sự so sánh giữa Hà Nội và các đô thị khác. Anh cũng có cái nhìn của một nhà văn nên đọc cuốn sách này, dù là một tập du khảo mang tính nghiên cứu, người đọc vẫn cảm thấy rất dễ chịu.

Advertisement

Nguồn: https://zingnews.vn/ve-chan-dung-ha-noi-qua-nhung-buoc-chan-di-ve-post1363225.html

Tiếp tục đọc
Quảng cáo
Nhấn vào đây để bình luận

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Sách hay

Hồi ký của anh hùng Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập

Được phát hành

,

Bởi

Cuốn sách “Việt Nam – Quê hương thứ hai của tôi” là những ký ức của Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập về cuộc chiến tranh cách mạng Việt Nam.

Kostas Sarantidis anh 1

Sách Việt Nam – Quê hương thứ hai của tôi.

tin trống

Cuốn hồi ký của Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập có tên nguyên gốc tiếng Hy Lạp là Lời chứng của một người Việt gốc Hy Lạp về cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam, được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp cùng Đại sứ quán Việt Nam tại Hy Lạp tổ chức lược dịch, xuất bản với tựa đề Việt Nam – Quê hương thứ hai của tôi.

Cuốn sách được xây dựng dựa trên cơ sở tư liệu hồi ức, nhật ký của Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập. Những câu chuyện, lời kể của Kostas Sarantidis đã được Hội những người Hy Lạp ở nước ngoài ghi chép, lưu giữ lại bởi “những trải nghiệm này của ông, có lẽ là duy nhất trên thế giới”.

Advertisement

PGS.TS Vũ Trọng Lâm – Giám đốc, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật – cho biết nhà xuất bản luôn chú trọng đến xuất bản sách phục vụ công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân nhằm góp phần tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị cùng phát triển giữa Việt Nam và các nước.

“Cuốn hồi ký Việt Nam – Quê hương thứ hai của tôi của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập là một trong những minh chứng rõ nét, tái hiện bức tranh đầy khốc liệt của cuộc chiến tranh cách mạng Việt Nam. Chân dung Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập hiện ra bình dị mà thấm đẫm khí phách của một anh hùng”, ông Vũ Trọng Lâm cho biết.

Cuốn sách cung cấp thêm tư liệu, góp phần giúp độc giả hai nước hiểu, trân trọng hơn lịch sử giữa hai dân tộc. Những người làm sách hy vọng góp phần củng cố, tiếp tục vun đắp và phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước Việt Nam – Hy Lạp, đồng thời mở ra triển vọng hợp tác ngày càng gắn bó, sâu sắc trong hoạt động xuất bản, phát hành sách và các hoạt động trao đổi, giao lưu văn hóa giữa nhà xuất bản và các tổ chức, cơ quan của Hy Lạp.

Kostas Sarantidis dù sinh ra ở Hy Lạp nhưng đã dành gần như trọn tuổi thanh xuân tham gia trong quân đội Việt Minh chống thực dân Pháp xâm lược. Chỉ bốn tháng sau khi đặt chân tới Sài Gòn, Kostas Sarantidis đã rời bỏ đội quân lê dương, đứng về phía người Việt Nam đang chiến đấu để giành độc lập, tự do.

Ra vùng tự do, ông gia nhập ngay hàng ngũ quân kháng chiến, lấy tên Việt Nam là Nguyễn Văn Lập, chính thức trở thành bộ đội Cụ Hồ vào tháng 6/1946. Năm 1949, ông được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam.

Advertisement

Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập được giao phụ trách nhiều công việc trong các đơn vị quân chính quy Liên khu 5, có mặt trong nhiều trận chiến đấu ác liệt ở khúc ruột miền Trung. Thời kỳ đầu làm công tác địch vận ở chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng, Nguyễn Văn Lập đã lập công xuất sắc, làm chương trình phát thanh vào đồn địch, cảm hóa được nhiều lính lê dương.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông tập kết ra Bắc và tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Việt Nam. Năm 1958, ông lập gia đình, sinh được bốn người con, tất cả đều lấy tên Việt Nam. Sau gần 20 năm ở Việt Nam, năm 1965 Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập trở về Hy Lạp và tiếp tục là cầu nối hữu nghị giữa hai nước Việt Nam – Hy Lạp.

Năm 2011, Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập được Đảng và Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Hữu nghị và cấp quốc tịch Việt Nam. Năm 2013, ông là người nước ngoài đầu tiên và duy nhất tới nay nhận được danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.

Đọc được sách hay, hãy gửi review cho ZNews

Bạn đọc được một cuốn sách hay, bạn muốn chia sẻ những cảm nhận, những lý do mà người khác nên đọc cuốn sách đó, hãy viết review và gửi về cho chúng tôi. ZNews mở chuyên mục “Cuốn sách tôi đọc”, là diễn đàn để chia sẻ review sách do bạn đọc gửi đến qua Email: books@zingnews.vn. Bài viết cần gửi kèm ảnh chụp cuốn sách, tên tác giả, số điện thoại.

Advertisement

Trân trọng.

Nguồn: https://znews.vn/hoi-ky-cua-anh-hung-kostas-sarantidis-nguyen-van-lap-post1447112.html

Tiếp tục đọc

Sách hay

Thế giới đa tầng trong thơ Nguyễn Quang Thiều

Được phát hành

,

Bởi

Trong tập thơ mới nhất, Nguyễn Quang Thiều chủ trương mở rộng đề tài, biên giới hiện thực và biên độ cảm xúc của thơ, đổi mới phương thức sáng tạo thơ.

Nguyen Quang Thieu anh 1

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và tập thơ Nhật ký người xem đồng hồ.

Đã có rất nhiều bài viết về Nguyễn Quang Thiều chủ yếu là nói về những đặc điểm về nội dung tác phẩm của ông, chúng tôi nghĩ một điều cần chú ý có thể nói là trước tiên và rất quan trọng đó là tìm hiểu quan điểm sáng tác của ông để từ đó có thể rút ra những vấn đề riêng lẻ khác về thi pháp trong các tác phẩm thuộc các thể loại mà ông tham gia.

Lẻ tẻ trong các phát biểu, bài viết đặc biệt trong các diễn ngôn xoay quanh tập thơ mới xuất bản Nhật ký người xem đồng hồ thì ông nói khá rõ về các quan điểm này. Những ý kiến xoay quanh các vấn đề: sáng tác là khôi phục lại ký ức, sáng tạo có quan hệ đến các giấc mơ, thơ có thể viết về bất cứ cái gì ở khắp nơi trong cuộc đời, hiện thực trong thơ khác với thông tấn của báo chí, nghệ thuật hướng đến cái đẹp…

Trong cảm nhận của chúng tôi, ông chủ trương mở rộng đề tài, biên giới hiện thực và biên độ cảm xúc của thơ. Hiện thực trong thơ có tính đặc thù. Đổi mới phương thức sáng tạo thơ. Chúng tôi thấy Nguyễn Quang Thiều có đổi mới trên các bình diện quan trọng của công việc sáng tạo nghệ thuật, từ đấy toát lên những điều chính yếu mà ít nhiều có khác với những quan niệm của một số người về thực trạng của việc viết lách bấy nay, những người mà ông cho rằng “Chính quan niệm đó làm nhà văn trở nên nghèo nàn và hạn chế”. Thơ ông khá mới, nền thơ nào muốn phát triển cũng cần những nhà thơ tiên phong đi trước dẫn đường cho đội ngũ và nâng cao trình độ nhận thức thẩm mỹ cho công chúng.

Advertisement

Phương thức sáng tạo của Nguyễn Quang Thiều khá đa dạng, chỉ riêng trên bình diện thi ca và cũng chỉ trong tập thơ mới này ta cũng không thể xếp tất cả vào cái khung có sẵn, chúng ta thấy ông cũng đã có gợi ý khi chia tập thơ thành hai: các bài viết về hiện thực gia đình, quê hương, thế sự thuộc phần 1- Nhật ký người xem đồng hồ; các bài giải trí ngẫu hứng thuộc phần 2- Hồ sơ tự khai của đồ vật có trong phòng. Ông chú ý nhiều đến chức năng thẩm mỹ của văn chương.

Có ý kiến cho rằng “Nguyễn Quang Thiều luôn đứng giữ những tranh cãi”. Không ít người cho rằng, nhiều bài thơ của ông chênh vênh giữa hai chức năng “nhận thức” và “giải trí”, những bài thơ nặng về hình ảnh kỳ lạ hơn là chiều sâu tâm lý, đa phần khó hiểu, ít xúc cảm. Bài viết này chúng tôi muốn góp thêm một vài cảm nhận về thơ ông nhân tập thơ Nhật ký người xem đồng hồ mới ra đời trong bối cảnh nền thơ Việt đang cố tạo một bước chuyển và không phải không có những phân vân trước thực tiễn mới.

Vấn đề nổi bật trước tiên là hiện thực trong thơ. Hiện thực thơ là hiện thực tâm trạng, nó khác văn xuôi nói chung đặc biệt là báo chí nói riêng, người ta thường ví như thế này: đời sống là gạo, văn là cơm, còn thơ là rượu, có nghĩa thơ là cái gì mơ hồ còn lại trên sự bay lên từ những cái vật chất cụ thể; có người thì nói cụ thể hơn, báo chí ghi lại đời sống hàng ngày, văn thì những sự kiện tiêu biểu, còn thơ thì ghi lại những dấu ấn trong tim.

Nói như vậy cũng có ý nghĩa tương đối toát lên một cái chung đó là thơ cũng phản ảnh hiện thực, phản ánh thế sự nhưng cái cách phản ánh của thơ nó khác văn ở chỗ một bên phản ánh hiện thực bằng cái hình hài cụ thể còn một bên phản ảnh bằng cái dấu ấn mà nó để lại trong tâm trạng, trong suy nghĩ.

Chỉ mấy câu thơ tâm trạng nhưng Chế Lan Viên đã khái quát được đầy đủ một thời kỳ, một xã hội mà nhà thơ đang sống: Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả / Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn! / Trái cây rơi vào áo người ngắm quả / Đường nhân loại đi qua bóng lá xanh rờn / Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ / Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn. (Tổ Quốc có bao giờ đẹp thế này chăng?), cũng chỉ một câu thơ Ngoài thềm rơi chiếc lá đa / Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng (Cây) của Trần Đăng Khoa, thể hiện cái vẻ đẹp của làng quê Việt, tình yêu con người với thiên nhiên đặc biệt từ cái linh hồn tạo vật qua xúc cảm tinh tế của tác giả đã thể cuộc sống ung dung thanh thản của con người Việt Nam trong chiến tranh… Hiện thực trong thơ là hiện thực tâm trạng, là cái bóng của hiện thực ngoài đời là vậy!

Advertisement

Thơ của Nguyễn Quang Thiều xoay quanh các chủ đề chính mà ý nghĩa hiện thực, màu sắc thế sự cũng như thái độ tích cực của ông bộc lộ rất rõ. Đó là những hiện thực tâm trạng được thể hiện qua tình yêu quê hương xứ sở, là tình yêu gia đình, tình yêu đối với cái đẹp, sự phê phán cái ác, cái xấu… Những nội dung được thể hiện bằng một lối nói mới mẻ, ông thường sử dụng lối kết cấu phi tuyến tính cùng cách xây dựng hình tượng giàu yếu tố siêu thực cho đến nhạc điệu tự do, ngôn ngữ tạo sinh…, luôn tạo một dấu ấn khác lạ trong tiếp nhận của bạn đọc.

Nhà thơ của Xứ Chùa cổ kính mang nặng những nỗi niềm về cảnh và người nơi mình sinh ra. Quê hương là một cảm xúc lớn thường xuyên trong các tập thơ ông. Bài thơ Lễ tạ (Châu thổ), một bài thơ triết lý sâu xa về quê hương, tứ bài thơ xoay quanh hai biểu tượng hồ nước và con đường. Con đường từ đất quê ra đi, để mong tìm được những giải đáp nhân sinh, tìm được con đường mơ ước, nhưng để rồi câu giải đáp lại ở chính nơi đất quê, nơi “hồ nước cũ” từ đó anh ra đi! Chính cái triết lý giản dị mà sâu sắc này bao nhiêu thế hệ suy tư, xúc cảm. Cám ơn đất quê đã dạy ta bao điều trong cuộc sống để ta trưởng thành. Lễ tạ là lời tạ ơn của con người đối với quê hương, với cha ông.

Cảm nhận về quê hương trong tập thơ mới có khi gián tiếp xa xôi nhưng nồng nàn sâu lắng: Bầu trời rộng lớn / Đang nở mùa pháo hoa / Muôn màu rực rỡ /… Có những người lặng lẽ / Đi dưới cánh đồng pháo hoa / Trong lòng họ cũng đang nở / Một mùa hoa.. (Âm bản).

Và lan tỏa trong tình yêu quê hương là Mẹ – hình ảnh tiêu biểu thân thương nhất Áo xưa mẹ vẫn còn đây / Đêm đêm con mặc vào ký ức (Thư gửi mẹ), là Cha: Cha đã qua tuổi sáu mươi mỗi ngày con lại thấy / Cha gần hơn với chân trời… và lại thấy xa con hơn một chút / Trong không gian số phận những con đường (Cha về trong áng mây bay), là tình yêu đứa cháu nhỏ: Siêu nhân, tàu hỏa, khủng long… / Những đồ chơi của cháu không bao giờ có tuổi / Chỉ có một đồ chơi của cháu / Mỗi ngày một già / Và thi thoảng tỉnh giấc / Nằm nhớ chủ nhân của mình / Đang ngủ ở tầng trên (Đồ chơi của cháu nội). Cùng với một tình cảm đồng loại chân thành tha thiết: Dưới tán cây chiều nay hai người im lặng / Những hạt cây xếp bên nhau chuẩn bị khai mùa / Và bầy chim mỏ ngà từ trời xanh đậu xuống / Tán cây vàng / Nhặt họ / Bay đi (Những hạt cây).

Cảm xúc lớn về sự đa dạng đời sống nổi lên khá đậm trong thơ ông cũng như trong quan niệm thẩm mỹ về thi ca mà nhiều lần ông nói đến. Nhật ký người xem đồng hồ của Nguyễn Quang Thiều trình bày cho ta nhiều mảng màu đời sống. Ông viết về những người thân trong gia đình ông bà, cha mẹ, các con cháu, ông viết về bạn bè, những người quen trong làng xóm, những người chồng, người vợ đã mất con, người điên chạy trong đêm tối, ông viết về cố hương và cả những miền đất lạ, ông viết về những cánh đồng và mùa màng ở nông thôn thời đổi mới, ông viết về cuộc sống thường nhật và cả trong những giấc mơ…

Advertisement

Những hình tượng đan xen nói nhiều đến đời sống cộng đồng trong tập thơ này, từ những ô cửa sổ, những dòng sông, những con cá, những con chim, những đám mây, chuyến đò ngang, những cánh đồng, phiên chợ chiều… đến các em bé, các bà mẹ, Tất cả đều là những biểu hiện của sự sống, họ sống hết mình trong cuộc sống với nhiều va đập nhưng tràn đầy nhân ái, lạc quan, kể cả trước chết chóc, mất mát.… Và một người mở cửa / Cười trong hoa góc vườn / Ngôi nhà vừa nhóm lửa / Mùa đã về reo vang” (Người mở cửa buổi sáng).

Những bài thơ như những bức tranh minh họa rõ nét cho chủ đề Cái đẹp – một cảm xúc nhân văn đa dạng trong một thế giới đa chiều – không phải ở những hội hè, những thành tựu mà chính ở những vất vả, gian truân mà con người âm thầm vượt qua số phận để tồn tại. Tất cả là một tập đại thành về cái thế giới hiện hữu vận động và tồn tại… Đó là cái đẹp của thế giới trong cảm quan nhân văn Nguyễn Quang Thiều mà ông nhiều lần nhắc đến.

Về hình thức nghệ thuật, khuynh hướng nổi bật cách tân ở thơ Nguyễn Quang Thiều tạo một đổi mới đập vào cảm quan người đọc, thoáng qua là cách nói, là sự biểu cảm ngôn ngữ một cách mới lạ trên phương diện cú pháp cũng như từ vựng các nhà nghiên cứu đã nhắc đến.

Nhưng chiều sâu căn bản, theo chúng tôi, trầm tích bên dưới những hình ảnh khác lạ, ngôn ngữ tân kỳ là thủ pháp sáng tạo có sắc màu hư ảo siêu thực tạo sự khác lạ đầy tinh thần duy mỹ, trong chừng mực đã có một sự găp gỡ về lối “cảm nhận huyền ảo” giữa văn học truyền thống dân tộc và phương Tây hiện đại.

Ta bắt gặp các hình ảnh thật lạ trong các câu thơ: …Hai cánh tay đưa lên / Hai cành cây đang mọc…/ Gương mặt thì mở ra / Hoa đang nở trái mùa / Trên cánh đồng đầy tóc (Phạm Long Quận….) hay: Thịt da như là quả / Ngọt dần trong tiếng người /…Chăn gối tan như sương / Người đàn bà ngủ muộn…(Dậy muộn), hoặc là:

Advertisement

Khi đôi mắt Kya mở ra / Bầu trời ngập tràn ánh sáng / Khi giọng Kya vang lên / Trong các vòm cây chim hót / Khi tay Kya xòe ra / Những cánh đồng hoa bùng nở / Và khi Kya ngậm bầu bú mẹ / Có những dòng sông ngủ quên trong đất / Gió thức dậy và tuôn chảy…” (Ngày Kya ra đời).

Nguyễn Quang Thiều, theo chúng tôi, ở một phương diện nào đó đã dung hợp những yếu tố hư huyễn có sẵn trong truyền thống thẩm mỹ dân tộc, điều mà chúng ta cảm nhận rõ là cái quan niệm “vạn vật hữu cảm”, “vạn vật hữu linh” trầm tích ở các tranh khắc, ở các phù điêu nơi đình chùa cũng như trong thơ ca dân gian với các thủ pháp nghệ thuật lạ hóa siêu thực khá phổ biến của nghệ thuật phương Tây hiện đại! Nó tô đậm vóc dáng hình tượng trong thơ cũng như tranh của ông.

Thơ ông khá mới, nền thơ nào muốn phát triển cũng cần những nhà thơ tiên phong đi trước dẫn đường cho đội ngũ và nâng cao trình độ nhận thức thẩm mỹ cho công chúng. Tuy nhiên cái mới, cái đẹp nó khác cái xa lạ với thị hiếu thẩm mỹ công chúng! Cái mới chỉ thực sự có giá trị khi được công chúng tiếp nhận, rung động được trái tim công chúng.

Đúng là trên mặt đất nơi nào cũng có thơ “đại địa văn chương tùy xứ kiến”, cụ Nguyễn Du đã nói thế, nhưng không phải một cảm hứng bất chợt nào cũng là thơ, như câu thơ ông viết …Và trên một đám mây ngũ sắc / Làm bằng quần áo và khăn / Một người đàn ông và một người đàn bà / Làm tình cả khi đã chết (Mây ngũ sắc), có thể mải mê với cái lạ mà tác giả quên cái “gu” thẩm mỹ của công chúng, hay như lời mở của tập thơ: Những bài thơ tôi viết trong tập thơ này để xác lập tôi trong thời khắc ở không gian của tôi và chỉ vừa chứa đủ tôi mà không có khả năng thêm một ai vào đó nữa. Cùng lúc đó bạn xác lập bạn ở một không gian khác trong cùng một thời khắc với tôi. Chúng ta luôn bình đẳng và luôn khác biệt. Chỉ với tinh thần ấy chúng ta mới có thể xác lập được nền độc lập của mình”.

Tác giả nghĩ đề cao “sự độc lập” trong sáng tạo “xác lập tôi trong thời khắc ở không gian của tôi và chỉ vừa chứa đủ tôi” sẽ tạo giá trị của tác phẩm nhưng liệu có thể có sự độc lập trong các sản phẩm tinh thần nhất là văn chương đặc biệt như trong một không gian xã hội dân chủ đầy tính cộng đồng như văn hóa chúng ta hay chỉ tự cô lập hóa thơ mình! Thơ phải tìm đến tâm hồn đồng điệu, tìm đến với công chúng mới có sức sống! Các thi bá xưa nay đều mong thơ mình đến các hang cùng ngõ tối, người ta chỉ cần biết thơ mà có thể quên tên tác giả.

Advertisement

Tiếp cận nghệ thuật Nguyễn Quang Thiều, ta như vừa trải nghiệm một thế giới đa tầng đa phương, một vũ trụ nhân sinh chứa đựng nhiều phức điệu của cuộc đời và con người, xen lẫn những nghịch lý và phi lý. Trên cái nền hiện thực đời sống nhà thơ gửi gắm đức tin vào cái đẹp của cuộc đời.

Đó cũng chính là nét triết lý nhân sinh trầm tích bên dưới các tác phẩm của ông, cái điều mà thế kỷ trước trong sự nhiễu nhương của cuộc sống nhà văn nổi tiếng F. Dostoyevsky (1821- 1881) đã nói “Cái đẹp cứu rỗi thế giới”. Đó chính là giá trị hiện thực và cách tân của thơ ông.

Đọc được sách hay, hãy gửi review cho ZNews

Bạn đọc được một cuốn sách hay, bạn muốn chia sẻ những cảm nhận, những lý do mà người khác nên đọc cuốn sách đó, hãy viết review và gửi về cho chúng tôi. ZNews mở chuyên mục “Cuốn sách tôi đọc”, là diễn đàn để chia sẻ review sách do bạn đọc gửi đến qua Email: books@zingnews.vn. Bài viết cần gửi kèm ảnh chụp cuốn sách, tên tác giả, số điện thoại.

Trân trọng.

Advertisement

Nguồn: https://znews.vn/the-gioi-da-tang-trong-tho-nguyen-quang-thieu-post1447115.html

Tiếp tục đọc

Sách hay

Nàng dâu viết về những món ăn mang mùi vị nhớ thương

Được phát hành

,

Bởi

Nhà văn Nguyễn Mỹ Nữ chia sẻ lý do chị viết tập tản văn nói về những món ăn dân dã Bình Định – những món ăn mang mùi vị nhớ thương – là vì mẹ chồng.

Thương quá Nục ởi! là tập tạp văn mới và cũng là cuốn sách thứ 11 của nhà văn Nguyễn Mỹ Nữ. Tập sách gồm 50 bài viết kể về câu chuyện xoay quanh những món ăn thấm tình đậm vị quê mà tác giả gắn bó qua suốt bao nhiêu năm khi làm dâu đất Bình Định.

Nhà văn Nguyễn Mỹ Nữ vốn là người gốc Bắc (quê Hà Nam), chào đời ở Quảng Ngãi và gắn bó với thành phố biển Quy Nhơn từ hồi còn rất nhỏ. Sau chị nên duyên cùng chồng và tiếp tục gắn bó với vùng đất này qua bao nhiêu năm tháng, như một bến đỗ cuộc đời vậy.

Thương quá nục ởi! được Nguyễn Mỹ Nữ gom góp và sắp xếp lại từ rất nhiều bài viết từng xuất hiện trên các trang báo trong nhiều năm cũng như để ghi dấu 35 năm làm dâu Bình Định của mình.

Advertisement

Ở đó, không thể thiếu những món ngon của má chồng yêu quý mà giờ đây chỉ có thể nhớ trong tâm trí với tình yêu thương, trân trọng. Có thể kể đến những món như bánh xèo ở Tam Quan, vỏ bánh trắng tinh được đổ xèo xèo trong khuôn tròn nhỏ trên bếp than đỏ lửa, vỏ mỏng giòn chấm mắm đục (Xèo xèo… vỏ).

Hay món ăn làm mồi lai rai không gì sánh bằng, tai heo sần sật và bùi bùi của thính, thơm của riềng và tỏi, cay cay của tiêu… bó trong lá ổi, lá chuối ngoài cùng là rơm được bó lại, dân dã (Xù xì cây tré xứ này).

Hay món mắm cua làm cho người ăn từ ưa tới ghiền, thật khó diễn tả, có thể là mắm cua kho xôi xổi với sắn hay đậm đà hơn là có thêm cá rô và mỹ vị hơn nữa là thịt ba chỉ kho trên bếp lửa liu riu.

mui vi nho thuong anh 1

Sách Thương quá nục ởi!. Ảnh: Q.M.

Hay món mắm mặn mòi khó quên mà tác giả miêu tả: “Còn nữa chứ! Mắm quê sao có thể đậm đà ý nghĩa, khi không được thưởng thức cùng những người thân khi trời bỗng đổ mưa. Mắm, những hồi đó, đã như thể là chất keo dính kết tình nghĩa gia đình”.

Nhắc tới mắm là nhớ đến chuyện nhờ mắm mà tác giả cùng chồng nên duyên nhờ món ăn dân giã này, thuở đôi mươi. Món mắm cá mương sông Côn – một món ăn cải thiện đời sống thời còn khó khăn – đã gắn kết đôi lứa yêu nhau, thành chồng thành vợ cho đến ngày nay (Thập cẩm… mắm).

Advertisement

Hay là món mứt với nhiều thứ nguyên liệu ít tiền – bình dân như mứt dừa, mứt bí đao, mứt me.. tới sang hơn là mứt hạt sen, mứt mãng cầu, mứt hồng… được chuẩn bị trước. Món mứt thập cẩm là khúc biến tấu hòa trộn của vụn vặt còn lại các loại mứt trên thêm một chút gừng, cà chua, thơm, bí đao… trộn đều vào chậm rãi mà rim (Mứt xà bần).

Hay món ngon gắn liền với cá nục kho sền sệt, nấu canh lá giang, cháo cá, cá chiên chấm nước mắm chua ngọt xoài bằm, canh cá nục kho giằm giằm trái sấu, cá nục hấp nguyên vị để cuốn bánh tráng ăn (Thương quá nục ởi!).

Hay là món “ruốc” làm cho bữa cơm gia đình rộn vui, tiếng bẻ bánh tráng nướng rồm rộp để xúc ruốc, canh ruốc, gỏi ruốc, ruốc xào, ruốc kho, bánh xèo hay bánh căn có ruốc… là món ăn khiến chúng ta bồi hồi một cách dịu êm.

Và còn rất nhiều món quê gây thương nhớ như: cá chuồn kho mít non, bún quậy với tôm hoặc rạm, bánh nổ, chè kho, xu xoa, bánh tráng nướng, bánh rế, món ngon với con nuốt, các loại thịt thưng, mít non trộn gỏi, chả ram, chả ốc, chè ỉ nóng thơm lừng, gié đắng cùng rượu nồng …

Nhà văn Nguyễn Mỹ Nữ chia sẻ lý do viết tập sách này là vì mẹ chồng chị: “Còn má, nào chỉ đơn thuần là má chồng tôi. Bởi chúng tôi đã yêu thương gắn bó và thân thiết với nhau quá chừng. Khi má hãy còn, viết về má, tôi cười. Má đi xa, viết cho má, lòng tôi run khựng… Cảm xúc ấy, tôi vẫn bắt gặp trong suốt những lần viết đi viết lại, chỉnh sửa tới lui cho tập sách này”.

Advertisement

Đọc được sách hay, hãy gửi review cho ZNews

Bạn đọc được một cuốn sách hay, bạn muốn chia sẻ những cảm nhận, những lý do mà người khác nên đọc cuốn sách đó, hãy viết review và gửi về cho chúng tôi. ZNews mở chuyên mục “Cuốn sách tôi đọc”, là diễn đàn để chia sẻ review sách do bạn đọc gửi đến qua Email: books@zingnews.vn. Bài viết cần gửi kèm ảnh chụp cuốn sách, tên tác giả, số điện thoại.

Trân trọng.

Nguồn: https://znews.vn/nang-dau-viet-sach-nhung-mon-an-mang-mui-vi-nho-thuong-post1447062.html

Advertisement
Tiếp tục đọc

Xu hướng