Connect with us

Tác giả

Thuận – người thoải mái ‘đu đưa’ giữa các nền văn hóa

Được phát hành

,

Nhà văn Thuận (Đoàn Ánh Thuận) sinh ở Hà Nội, có một thời gian theo gia đình sống ở Sài Gòn, rồi quay lại Hà Nội, học đại học tại Nga, làm cao học tại Pháp, hiện chị định cư tại Pháp.

Sống ở nhiều nơi, trải nghiệm nhiều nền văn hóa, các trang viết của Thuận không chỉ dừng lại ở vấn đề quê hương hay hiện thực nơi đang sống. Chỉ cần đọc tên một số tác phẩm của Thuận, những Made in Vietnam, rồi Chinatown, Paris 11 tháng 8, hay Thang máy Sài Gòn… đã thấy sự đa dạng văn hóa hiện diện.

Các tác phẩm của Thuận xuất bản bằng tiếng Việt và tiếng Pháp.

Các tác phẩm của Thuận xuất bản bằng tiếng Việt và tiếng Pháp.

Ăn phô mai như ăn mắm tôm

Có mặt tại Hà Nội hè này, Thuận dành một buổi giao lưu với độc giả của mình tối 15/7 với chủ đề “Cùng Thuận đu đữa giữa các nền văn hóa”. Nhà văn Lê Minh Hà – khách mời, người đặt tên cho chương trình – giải thích, “đu đưa” là từ thể hiện tâm thế hớn hở, thư thái, vui sướng của người viết văn.

Với một người sống kỹ với nền hóa khác (Pháp) mà vẫn quay về với tiếng Việt đó là điều đáng nể. “Đu đưa giữa các nền văn hóa” như biểu lộ câu chuyện bếp núc của nhà văn, khi nhà văn sống giữa các nền văn hóa, liệu có “đu đưa” không, tâm trạng của nhà văn thế nào, tâm thế ra sao?…

Trả lời cho câu hỏi trọng tâm chương trình, Thuận thẳng thắn: “Tôi sống ở nền văn hóa Pháp hoàn toàn khác Việt Nam, nhưng không có gì khó khăn, có thể do tôi học tiếng Pháp từ khi còn rất nhỏ. Tôi ra nước ngoài từ nhỏ, nên sống ở Pháp không có gì cản trở”.

Khi mang trong mình nhiều nền văn hóa, với Thuận điều đó chẳng có gì để mất hay gặp khó khăn, bởi chị có thể “ăn phô mai như ăn mắm tôm”. Ngược lại, điều ấy giúp Thuận vừa có độc giả Việt lại có cả độc giả Pháp. Sống ở Pháp, nếu có điều gì tiếc với Thuận, thì đó là “tôi không được ở trực tiếp trong hiện thực Việt Nam”.

“Tuy không ở Việt Nam, tôi có thể nhìn Việt Nam từ một khoảng cách xa, tôi có thể nhìn được những cái mà những người sống trong đó không nhận ra. Tôi hy vọng như vậy”, Thuận nói.

Trong các tiểu thuyết của Thuận thường gắn với những sự kiện có độ lùi lịch sử nhất định. Điều đó khiến một vài ý kiến cho rằng, có lẽ do không trải nghiệm hiện thực Việt Nam, không đắm mình trong không khí ở đây nên chị thường bỏ qua hiện thực mà tìm đến sự kiện lịch sử.

Thuận bác bỏ quan điểm đó, bởi “Nếu bạn chỉ dùng một trải nghiệm của bạn để sống, thì bạn chỉ có thể viết được một tác phẩm mà thôi. Trải nghiệm của nhà văn là trải nghiệm bạn có thể chứng kiến, quan sát, suy ngẫm… từ đó bạn có thể hiểu được người xung quanh”.

Tới nay, di dân là đề tài mà Thuận quan tâm nhất.. Ảnh: FB nhân vật.

Tới nay, di dân là đề tài mà Thuận quan tâm nhất.. Ảnh: FB nhân vật.

Dẫn chứng đơn giản nhất có thể thấy Thuận là nữ giới, nhưng nhân vật chính của chị thường là nam giới. Với Thuận, trải nghiệm lớn nhất là trải nghiệm viết. Thuận sống xa Việt Nam, nhưng chị có cách nhìn khác về Việt Nam; cũng giống như Thuận là người gốc Việt nên có cách nhìn khác về người Pháp nhìn về Pháp.

“Tôi nhìn về Pháp khác với những gì trên tiểu thuyết, trên phim, khác những gì lấp lánh bảo tàng Lourve, tháp Eiffel mà bạn thấy qua các cuộc du lịch, trong nghệ thuật của người Pháp. Tôi muốn để người khác nhìn nước Pháp qua con mắt một người di dân như tôi”, Thuận nói.

Bởi vậy, độc giả Pháp đọc Chinatown (Phố Tầu), họ mới ồ hóa ra người di dân khó khăn như nào để có giấy tờ ở lại, họ phải đương đầu với nền hành chính quan liêu ra sao; hoặc ở  Paris 11 tháng 8, trận nắng nóng làm mấy chục nghìn người cao tuổi qua đời trong 1 tuần, là sự kiện chính người Pháp không muốn nhìn nhận, nhớ lại.

Khi mang trong mình nhiều nền văn hóa, Thuận có điều kiện viết về di dân. Thuận bảo di dân là đề tài tâm huyết nhất của chị. “Tôi muốn đi sâu hơn vào đề tài này. Trong văn học Pháp đó là đề tài ít được khai thác. Người Pháp có rất nhiều thuộc địa nhưng lại rất ít viết về di dân. Đã đến lúc người Pháp hiểu di dân có quan trọng như thế nào với người Pháp”, Thuận nhận định. Trong tác phẩm của mình, Thuận không chỉ viết về vấn đề di dân của người Việt, mà có sự xuất hiện của người Latin, người Hoa…

Theo nhận định của nhà văn Lê Minh Hà, văn học viết về đề tài di dân của Việt Nam trước đó đã có rồi, điển hình như tiểu thuyết Quyên của Nguyễn Văn Thọ. Tuy nhiên, Lê Minh Hà đánh giá, tới tác phẩm của Thuận mới có nhân vật di dân đúng nghĩa.

“Nếu ta hiểu di dân đồng nghĩa với bi kịch, ta thấy văn học Việt đã có rồi. Nhưng nếu di dân là chỉ vật vã với cơm áo, bị chồng đánh, chồng bỏ… thì ta đã chẳng ngồi đây để bàn về tác phẩm của Thuận. Cô ấy đưa ra mẫu người di dân mới, là những người không từ bỏ quá khứ, có khả năng hòa nhập người bản xứ, nhưng họ không giống người bản xứ, họ lớn hơn người bản xứ, bởi họ sống giữa hai nền văn hóa”.

Nhân vật của Thuận luôn phải trăn trở những gì đã qua, những gì đang sống, hướng tới đời sống quê nhà. Điều này gần với đời sống thế giới phẳng.

Hình thức mới là tối quan trọng khi viết tiểu thuyết

Luôn quan tâm tới vấn đề di dân, chính trị, các sự kiện lịch sử, song với Thuận khi viết tiểu thuyết, hình thức quan trọng hơn nội dung. “Tôi rất chú trọng hình thức. Nội dung là thứ tôi quan sát, chiêm nghiệm hàng ngày đi vào các ngăn bộ nhớ của tôi. Khi tìm được một hình thức tiểu thuyết thì nội dung tự đi ra theo sắp đặt của nó. Tôi buộc phải đưa ra một hình thức”, Thuận nói.

Và mỗi một tiểu thuyết là một sáng tạo, một cuộc thử nghiệm hình thức của Thuận. Paris 11 tháng 8 là tiểu thuyết trong đó không chỉ có hư cấu, mà còn có cả phi hư cấu. Tiểu thuyết đưa vào trích đoạn báo chí nói về trận nắng nóng năm 2003, mỗi một chương đều bắt đầu bằng một trích đoạn bài báo nói về trận nắng nóng đó.

Đến T Mất tích, nhân vật T mất tích ngay từ đầu, những gì tiếp theo là những suy diễn của người ta về cô ấy, về việc tại sao cô ấy mất tích, nhân vật chính không được nói 1 lời nào trong tác phẩm.

Thang máy Sài Gòn, cấu trúc tác phẩm làm sao phải có độ năng động như nhịp di chuyển của thang máy, như nhịp sống của Sài Gòn. Hay ở Chỉ còn 4 ngày là hết tháng Tư tràn ngập số 4.

Thế còn độc giả Việt Nam của tôi thì sao?

Sống tại Pháp hơn 20 năm nay, Thuận hoàn toàn có thể viết bằng tiếng Pháp. Thực tế, chị đã dịch một số tác phẩm Pháp sang tiếng Việt như Xạ thủ nằm bắn, Ba gã cần khử, Ngôn từ, Người cha im lặng; ngay cả với những tiểu thuyết viết bằng tiếng Việt của chị khi được người khác dịch sang tiếng Pháp, chị cũng phải đọc chỉnh lại cho đúng ý.

Thế nhưng Thuận chọn sáng tác bằng tiếng Việt. Tôi không hiểu trong tôi có chia đều đặn một nửa là Việt, một nửa là Pháp hay không? Tôi viết hoàn toàn tự nhiên. Khi viết tôi không còn nghĩ đến độc giả nữa”, Thuận nói.

Chị kể: “Độc giả Pháp cũng hỏi ‘tại sao cô không viết bằng tiếng Pháp?’, lúc đó tôi thốt lên: ‘Thế còn độc giả Việt Nam thì sao? Tôi làm sao bỏ họ được’. Khi bạn viết văn bằng một ngôn ngữ, đòi hỏi ‘đúng’ là một đòi hỏi trung bình. Bạn phải tạo ra được ngôn ngữ của riêng bạn. Với tiếng Việt tôi làm được điều đó. Tôi tạo ra được thứ tiếng Việt của riêng tôi. Trong khi với tiếng Pháp tôi chưa làm được điều đó”.

Nhà văn Lê Minh Hà bảo, chị kính phục Thuận ở điểm này. “Rõ ràng Thuận có khả năng nắm bắt được trọn vẹn văn hóa phương Tây, có khả năng bơi lội giữa các nền văn hóa. Thuận hoàn toàn có thể viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, mà cô ấy chọn tiếng Việt- ngôn ngữ chỉ khoảng 100 triệu người sử dụng trên thế gian này, ít hơn so với cộng đồng Pháp ngữ. Lý do, đó là mảnh đất mình sinh ra mà sống chẳng được mấy ngày trong nó. Điều này làm cho tôi kính phục”.

Nguồn: Thu Hiền (Zing)

Tiếp tục đọc
Nhấn vào đây để bình luận

You must be logged in to post a comment Login

Leave a Reply

Tác giả – Tác phẩm Văn 12

Tác giả Hồ Chí Minh

Được phát hành

,

Bởi

Tìm hiểu tác giả Hồ Chí Minh gồm các nội dung tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, phong cách văn học và đóng góp cho nền văn học

1. Tiểu sử

– Hồ Chí Minh (19/05/1889 – 02/09/1969) tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung.

– Quê quán: Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An.

– Gia đình: nhà Nho nghèo, cha là Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là Hoàng Thị Loan.

– Quá trình hoạt động cách mạng:

+ Năm 1911, ra đi tìm đường cứu nước.

+ Hoạt động cách mạng ở nhiều nước: Pháp, Trung Quốc, Thái Lan…

+ Ngày 3-2-1930, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.

+ Năm 1941, trở về nước, lãnh đạo phong trào CM trong nước.

+ Tháng 8-1942, sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ của quốc tế, bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam đến tháng 9-1943.

+ Ra tù, Người trở về nước, lãnh đạo phong trào CM, tiến tới tổng khởi nghĩa tháng 8-1945.

+ Ngày 2-9-1945, đọc bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước VNDCCH, giữ chức vụ Chủ tịch nước.

+ Lãnh đạo nhân dân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ.

=> Là vị lãnh tụ tài ba, vĩ đại, danh nhân văn hóa thế giới. 

 


2. Sự nghiệp văn học

a. Quan điểm sáng tác:

– Coi văn học là một vũ khí chiến đấu phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.

– Luôn chú trọng tính chân thực và tính dân tộc.

– Luôn chú ý đến mục đích và đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm.

b. Di sản văn học:

– Văn chính luận:

+ Tác phẩm chính: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966)…

– Truyện và kí:

+ Tác phẩm chính: Pari (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Con người biết mùi hun khói (1922), Vi hành (1923), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925), Nhật kí chìm tàu (1931), Vừa đi đường vừa kể chuyện (1963)…

– Thơ ca:

+ Tác phẩm chính: Nhật kí trong tù (viết trong thời gian bị giam cầm trong nhà lao Tưởng Giới Thạch từ 1942-1943), chùm thơ viết ở Việt Bắc từ 1941-1945.

=> Di sản văn học lớn lao về tầm vóc, phong phú về thể loại và đa dạng về phong cách.

c. Phong cách nghệ thuật:

– Thống nhất:

+ Về mục đích sáng tác, quan điểm sáng tác, nguyên tắc sáng tác.

+ Về cách viết ngắn gọn.

– Đa dạng:

+ Văn chính luận: ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục, giàu tính luận chiến, kết hợp nhuần nhuyễn mạch luận lí với mạch cảm xúc, giọng điệu uyển chuyển.

+ Truyện và kí hiện đại, giàu tính chiến đấu, nghệ thuật trào phúng sắc bén, nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng thâm thúy, sâu cay.

+ Thơ ca: thơ tuyên truyền cách mạng mộc mạc, giản dị, dễ nhớ, dễ thuộc; thơ nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển với yếu tố hiện đại, cô đọng, súc tích. 

Tiếp tục đọc

Tác giả – Tác phẩm Văn 12

Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh

Được phát hành

,

Bởi

Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh bao gồm tóm tắt nội dung chính, lập dàn ý phân tích, bố cục, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật cùng hoàn cảnh sáng tác, ra đời của tác phẩm và tiểu sử, quan điểm cùng sự nghiệp sáng tác phong cách nghệ thuật giúp các em học tốt môn văn 12

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

  • I. Tác gia
  • II. Tác phẩm
  • Nhận định

I. Tác gia

1. Tiểu sử 

– Hồ Chí Minh (19/05/1889 – 02/09/1969) tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung.

– Quê quán: Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An.

– Sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo, yêu nước

– Người là một vị lãnh tụ tài ba, vĩ đại, người đã đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi cảnh nô lệ, lầm than.

– Được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới.

2. Sự nghiệp văn học

a. Quan điểm sáng tác:

– Coi văn học là một vũ khí chiến đấu phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.

– Luôn chú trọng tính chân thực và tính dân tộc.

– Luôn chú ý đến mục đích và đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm.

b. Tác phẩm chính

Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925), Nhật kí trong tù,…

c. Phong cách nghệ thuật:

– Thống nhất:

+ Về mục đích sáng tác, quan điểm sáng tác, nguyên tắc sáng tác.

+ Về cách viết ngắn gọn.

– Đa dạng:

+ Văn chính luận: ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục, giàu tính luận chiến, kết hợp nhuần nhuyễn mạch luận lí với mạch cảm xúc, giọng điệu uyển chuyển.

+ Truyện và kí hiện đại, giàu tính chiến đấu, nghệ thuật trào phúng sắc bén, nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng thâm thúy, sâu cay.

+ Thơ ca: thơ tuyên truyền cách mạng mộc mạc, giản dị, dễ nhớ, dễ thuộc; thơ nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển với yếu tố hiện đại, cô đọng, súc tích.

II. Tác phẩm

1. Tìm hiểu chung:

a. Hoàn cảnh ra đời :

– Thế giới:

+ Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc.

+ Nhật đầu hàng Đồng minh.

– Trong nước: Cả nước giành chính quyền thắng lợi.

+ 26 – 8 – 1945: Hồ chủ tịch về tới Hà Nội.

+ 28 -8 1945: Bác soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập tại tầng 2, căn nhà số 48, phố Hàng Ngang, Hà Nội.

+ 2 – 9 – 1945: đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

b. Mục đích sáng tác:

– Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc trước quốc dân và thế giới.

– Tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến; khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và bày tỏ quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc.

c. Bố cục:

– Đoạn 1: Từ đầu… “không ai chối cãi được” => Nêu nguyên lí chung của bản tuyên ngôn độc lập.

– Đoạn 2: Từ “Thế mà” …. “phải được độc lập” => Tố cáo tội ác của thực dân Pháp, khẳng định thực tế lịch sử nhân dân ta đấu tranh giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

– Đoạn 3: (Còn lại) => Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ nền độc lập.

d. Nội dung chính:

     Vạch trần tội ác của thực dân Pháp cướp nước ta; tuyên bố nền độc lập dân tộc; khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và thể hiện ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc.

2. Tìm hiểu chi tiết:

a. Cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn độc lập.

– Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mĩ và Pháp làm cơ sở pháp lí cho tuyên ngôn độc lập của Việt Nam:

=> Ý nghĩa:

+ Tôn trọng những tuyên ngôn bất hủ của người Mĩ và Pháp vì những điều được nêu là chân lí của nhân loại.

+ Dùng cách lập luận “gậy ông đập lưng ông” để buộc tội Pháp và ngăn chặn âm mưu tái xâm lược của chúng.

+ Thể hiện quyền tự hào dân tộc: đặt 3 cuộc cách mạng, 3 bản tuyên ngôn, 3 dân tộc ngang hàng nhau.

b. Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam:

* Tố cáo tội ác của Pháp:

+ Tố cáo tội ác tàn bạo của thực dân Pháp trên mọi mặt đời sống khi cai trị nước ta: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội (liệt kê hàng loạt dẫn chứng đanh thép, hùng hồn về tội ác của Pháp).

+ Giải thích rõ ràng, mạch lạc: từ mùa thu 1940 đến 9/3/1945, thực dân Pháp đã bán nước ta hai lần cho Nhật (khi thì quỳ gối đầu hàng khi thì bỏ chạy), vì vậy không còn bất kì quyền lợi cai trị nào ở nước ta.

* Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc:

Trình bày cuộc đấu tranh xương máu giành độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam:

+ Nhân dân Việt Nam đã nổi dậy giành chính quyền, lấy lại đất nước từ tay Nhật.

+ Quân và dân ta đã nhiều lần kêu gọi người Pháp cùng chống Nhật nhưng bị từ chối, khi Pháp thua chạy, đồng bào ta vẫn khoan hồng và giúp đỡ họ.

+ Dân ta đánh đổ các xiềng xích phong kiến, thực dân, phát xít.

+ Quân và dân ta tin tưởng vào sự công bằng của các nước Đồng Minh.

 => Khẳng định, đề cao tinh thần xả thân giữ nước, thành quả cách mạng của nhân dân ta. Chúng ta hoàn toàn xứng đáng với nền độc lập có được bởi chính máu xương của mình.

c. Giá trị nội dung:

– Là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta.

– Đánh dấu kỉ nguyên độc lập, tư do của nước Việt Nam mới.

d. Giá trị nghệ thuật:

– Là một áng văn chính luận mẫu mực.

– Lập luận chặt chẽ.

– Lý lẽ đanh thép.

– Ngôn ngữ hùng hồn.

– Dẫn chứng xác thực, lấy ra từ lịch sử cụ thể.

Nhận định

Một số nhận định về tác giả, tác phẩm

1. Có ý kiến đánh giá: “Tuyên ngôn độc lập một văn kiện có trị lịch sử to lớn, một bài văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn, đầy sức thuyết phục”.

2. Có ý kiến cho rằng: “Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là áng văn mẫu mực của văn xuôi chính luận Việt Nam”.  

3. Đồng chí Trường Chinh nhận xét: “Về văn phong, cách nói và cách viết của Hồ Chủ Tịch có những nét rất độc đáo: Nội dung khảng khái, thấm thía đi sâu vào tình cảm của con người, chinh phục cả trái tim và khối óc con người ta: Hình thức sinh động, giản dị, giàu tính dân tộc và tính nhân dân.”

Tiếp tục đọc

Tác giả – Tác phẩm Văn 12

Tác giả Phạm Văn Đồng

Được phát hành

,

Bởi

Tìm hiểu tác giả Phạm Văn Đồng gồm các nội dung tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, phong cách văn học và đóng góp cho nền văn học.

 1. Tiểu sử 

– Phạm Văn Đồng (1906 -2000)

– Ông sinh ra ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

– Tham gia cách mạng từ sớm và là nhà hoạt động cách mạng xuất sắc; là nhà giáo dục tâm huyết và một nhà văn hóa, văn nghệ lớn.

– Năm 1936, Phạm Văn Đồng ra tù, hoạt động ở Hà Nội.

 Năm 1940, ông bí mật sang Trung Quốc cùng với Võ Nguyên Giáp, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và được Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ về nước xây dựng căn cứ địa ở biên giới Việt – Trung.

– Năm 1945, tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, Phạm Văn Đồng được bầu vào Ủy ban Thường trực gồm 5 người thuộc Ủy ban Dân tộc giải phóng, chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám.

Phạm Văn Đồng là Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1976 cho đến khi nghỉ hưu năm 1987.

Trước đó ông từng giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1976.

Phạm Văn Đồng là vị Thủ tướng Việt Nam tại vị lâu nhất (1955–1987) và là học trò, cộng sự của Hồ Chí Minh.

=> Với bề dày hơn 70 năm hoạt động trong sự nghiệp Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó nhiều năm giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt, Phạm Văn Đồng được nhiều nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản và học giả trong nước, những người gần gũi với ông đánh giá là có nhiều đóng góp quan trọng trên nhiều lĩnh vực: chính trị, quân sự, văn học,…

 2. Sự nghiệp văn học

– Thể loại: Các tác phẩm nghị luận xuất sắc.

– Văn phong nghị luận của ông đầy nhiệt tình, lôi cuốn người đọc bằng những luận điểm mới mẻ, sâu sắc với lời văn trong sáng, nhiều hình ảnh.

– Tác phẩm chính: Hồ Chí Minh – Một con người, một dân tộc, một thời đại; Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc, Văn hóa đổi mới… 

Tiếp tục đọc

Xu hướng