Connect with us

Tác giả

‘Hà Nội đang mất đi vẻ hào hoa, sang trọng’

Được phát hành

,

Mảnh đất kinh kì nghìn năm tuổi hiện lên trong trang viết của nữ nhà văn Hà thành một cách rất duyên dáng, thanh lịch và cá tính. Con chữ như chất chứa bao nhớ thương và hoài niệm.

Lê Minh Hà viết về Hà Nội rất có duyên, tinh tế và đầy cá tính. Đã lâu rồi, mới có một văn nhân viết về thủ đô mà gợi nên được cả dáng hình và hồn cốt của mảnh đất này rõ nét mà sinh động như chị.

Hà Nội đã trở thành “không gian văn học” quen thuộc của Lê Minh Hà. Dù ở “địa hạt” nào: truyện ngắn, tiểu thuyết hay tản văn, khi viết về nơi đây, chị mới bộc lộ được hết “vốn liếng” sự từng trải và sáng tạo trong mình.

Tập tản văn Tháng ngày ê a là tác phẩm mới nhất của nhà văn Lê Minh Hà. Trong những trang viết đa dạng, vừa hóm hỉnh nhưng cũng thật thâm trầm chúng ta sẽ gặp lại hình ảnh một cô học trò Lê Minh Hà đầy cá tính của “ngõ nhỏ, phố nhỏ” Hà Nội.

Xen giữa những kỉ niệm thời cắp sách là những bài học sâu sắc về giáo dục. Hãy cùng trò chuyện với nhà văn Lê Minh Hà hoài niệm về một Hà Nội đã xa và những điều cần trân trọng sau bao tháng năm cắp sách tới trường.

Trường học không phải là nơi nuôi dưỡng cá tính

-“Tháng ngày ê a” là một sự “cộng hưởng” của một cô học trò cá tính và một nhà giáo cũng rất cá tính. Nhà văn Lê Minh Hà “dung hòa” hai luồng cảm xúc đó như thế nào?

-Tôi nghĩ mình không phải dung hòa điều gì trong quá trình sáng tác tập tản văn này. Bởi vì dù là một người thầy cá tính hay một cô học trò cá tính thì đều là Lê Minh Hà cả thôi. Một con người có cá tính riêng thì ở trong môi trường nào cũng sẽ thể hiện cá tính của mình một cách tự nhiên.

Sự dung hòa, hay cực đoan hơn là gượng ép chỉ xuất hiện khi chúng ta viết về người khác, hay viết về những điều mà chúng ta không am hiểu tường tận mà thôi.

Nhà văn Lê Minh Hà trong buổi giao lưu với độc giả tại Hà Nội. Trước khi ra nước ngoài định cư vào năm 1994, chị từng có 10 năm dạy môn văn tại trường THPT Đan Phượng và trường THPT Hà Nội - Amsterdam. Ảnh: Tô Chiêm.

Nhà văn Lê Minh Hà trong buổi giao lưu với độc giả tại Hà Nội. Trước khi ra nước ngoài định cư vào năm 1994, chị từng có 10 năm dạy môn văn tại trường THPT Đan Phượng và trường THPT Hà Nội – Amsterdam. Ảnh: Tô Chiêm.

-Vậy theo chị, người thầy phải làm như thế nào để nuôi dưỡng cá tính của học trò?

-Tôi có suy nghĩ hoàn toàn khác với quan điểm của bạn. Đó là người thầy không có trách nhiệm phải nuôi dưỡng cá tính của học trò. Vì trường học là một môi trường đào tạo ra những con người bình thường theo chuẩn quy tắc và ứng xử chung của xã hội, chứ không phải là nơi ươm mầm hay nuôi dưỡng cá tính. Nuôi dưỡng cá tính là việc của những môi trường như nghệ thuật và văn chương.

Nhưng trường học lại là nơi con người ta học cách dung hòa giữa cá tính và tính cách xã hội. Dù là ai và có cá tính mạnh đến đâu chúng ta cũng phải tuân theo một số quy chuẩn bắt buộc của xã hội. Quan trọng hơn, chúng ta không nên đánh đồng giữa cá tính và sự kiêu căng, ngạo mạn. Đừng ỷ vào cá tính mà cho mình cái quyền muốn làm gì thì làm.

-Nhà văn Lê Minh Hà đã từng nói: “Là học trò thì phải biết sợ thầy, còn làm thầy cũng phải biết sợ trò” , phải chăng chị cũng cho rằng giữa thầy và trò nên tồn tại tình bạn?

-Tôi nghĩ rằng giữa thầy và trò khó mà tồn tại “tình bạn” đúng như ý nghĩa của thứ tình cảm này. Nhưng thầy và trò nên xem nhau là “đối tác” giống như trong kinh doanh vậy. Vì học tập là một việc có tính tương tác hai chiều, sự truyền thụ kiến thức theo một chiều mà không có sự phản hồi lại của học trò sẽ không thu được hiệu quả.

Trong câu: “Là trò phải biết sợ thầy và làm thầy phải biết sợ học trò” tôi muốn nói: học trò rất sợ thầy giỏi, vì người thầy giỏi luôn đưa ra yêu cầu cao với học trò và khiến học sinh của mình phải chăm chỉ cần mẫn hơn. Nhưng ngược lại một người học trò giỏi cũng là động lực để người thầy học tập không ngừng. Vì không ông thầy nào lại muốn “bó tay” trước những câu hỏi của học trò.

Tôi luôn có cảm giác mình đang ở gần Hà Nội

-Dù viết về điều gì, Hà Nội luôn là tâm điểm trong văn của Lê Minh Hà. Sẽ ra sao nếu Lê Minh Hà không viết về Hà Nội?

-Thực ra, trong cuốn Thương thế, ngày xưa tôi không chỉ viết về Hà Nội mà còn viết về vùng làng quê, về nông thôn. Nhưng dù sao những nơi ấy cũng được viết bằng cảm xúc và cái nhìn của một cô bé Hà Nội gầy gò, ốm yếu năm nào.

Dẫu viết về nơi khác, trong văn của tôi vẫn có một nỗi nhớ dành riêng cho Hà Nội. Tôi vẫn đem so sánh mảnh đất đó với Hà Nội của tôi.

Tôi viết rất nhiều về Hà Nội vì với tôi nơi đây là mảnh đất tôi gắn bó rất lâu và dành quá nhiều tình cảm. Hà Nội với tôi là nhớ thương, hoài niệm và cả những nuối tiếc.

– Nếu chỉ được dùng một từ để nói về Hà Nội, chị sẽ dùng từ nào để miêu tả về thành phố mình yêu?

– Với tôi, một từ không bao giờ là đủ để nói về Hà Nội. Hà Nội ở mỗi thời sẽ ghi lại một dấu ấn riêng trong lòng tôi. Với Lê Minh Hà, Hà Nội của trước kia thật đáng nhớ.

Vì chiến tranh, khó khăn chồng chất khó khăn mà Hà Nội nghèo đói và xơ xác, nhưng vẫn sang trọng và hào hoa. Vì điều đó mà tôi trân quý Hà Nội của một thời đã xa.

Hà Nội bây giờ thiếu đi sự sang trọng. Từ cái ăn uống, với những thức quà vặt bên đường của người Hà Nội đều rất tinh tế, thanh cảnh và trang nhã. Rồi đến cách đi lại, nói năng của người Hà Nội trước kia cũng toát lên vẻ sang trọng.

Phố phường tuy khang trang, đông đúc hơn nhưng cái sự sang trọng và hào hoa trước kia đã không còn. Phải chăng, cuộc sống giờ đây quá tấp nập và bon chen nên cái sự hào hoa và sang trọng của trước kia đã bị cuốn vào dĩ vãng.

-Phải chăng vì đi xa Hà Nội, nên nỗi nhớ trong lòng đã thôi thúc chị viết về thủ đô ngàn năm văn hiến với một phong vị rất riêng?

-Tôi đang sống ở Đức, vài năm tôi mới có dịp về Hà Nội. Nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ là mình sống xa Hà Nội. Khí hậu ở các nước ôn đới như Đức khiến tôi có cảm giác mình đang trong lòng Hà Nội. Mùa hè ở Đức cho tôi cảm giác như mùa thu ở Hà Nội vậy. Tiếng chim và cây ở đó cũng tạo cho tôi những cảm giác rất thân quen.

Bây giờ khí hậu thay đổi, nhà cao tầng lại mọc lên san sát khiến cho những người sống ở Hà Nội có luôn có cảm giác bí bách và khó chịu. Mùa thu là mùa đẹp nhất ở Hà Nội, nhưng mùa thu giờ đây càng ngày càng ngắn ngủi.

Với tôi, xa hay gần không chỉ phụ thuộc vào khoảng các địa lý mà quan trọng là ở cảm nhận của con tâm hồn. Nếu trong tim có Hà Nội thì ta chẳng bao giờ rời xa thành phố này.

Nguồn: Thụy Oanh (Zing)

Tiếp tục đọc
Nhấn vào đây để bình luận

You must be logged in to post a comment Login

Leave a Reply

Tác giả – Tác phẩm Văn 12

Tác giả Hồ Chí Minh

Được phát hành

,

Bởi

Tìm hiểu tác giả Hồ Chí Minh gồm các nội dung tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, phong cách văn học và đóng góp cho nền văn học

1. Tiểu sử

– Hồ Chí Minh (19/05/1889 – 02/09/1969) tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung.

– Quê quán: Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An.

– Gia đình: nhà Nho nghèo, cha là Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là Hoàng Thị Loan.

– Quá trình hoạt động cách mạng:

+ Năm 1911, ra đi tìm đường cứu nước.

+ Hoạt động cách mạng ở nhiều nước: Pháp, Trung Quốc, Thái Lan…

+ Ngày 3-2-1930, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.

+ Năm 1941, trở về nước, lãnh đạo phong trào CM trong nước.

+ Tháng 8-1942, sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ của quốc tế, bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam đến tháng 9-1943.

+ Ra tù, Người trở về nước, lãnh đạo phong trào CM, tiến tới tổng khởi nghĩa tháng 8-1945.

+ Ngày 2-9-1945, đọc bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước VNDCCH, giữ chức vụ Chủ tịch nước.

+ Lãnh đạo nhân dân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ.

=> Là vị lãnh tụ tài ba, vĩ đại, danh nhân văn hóa thế giới. 

 


2. Sự nghiệp văn học

a. Quan điểm sáng tác:

– Coi văn học là một vũ khí chiến đấu phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.

– Luôn chú trọng tính chân thực và tính dân tộc.

– Luôn chú ý đến mục đích và đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm.

b. Di sản văn học:

– Văn chính luận:

+ Tác phẩm chính: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966)…

– Truyện và kí:

+ Tác phẩm chính: Pari (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Con người biết mùi hun khói (1922), Vi hành (1923), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925), Nhật kí chìm tàu (1931), Vừa đi đường vừa kể chuyện (1963)…

– Thơ ca:

+ Tác phẩm chính: Nhật kí trong tù (viết trong thời gian bị giam cầm trong nhà lao Tưởng Giới Thạch từ 1942-1943), chùm thơ viết ở Việt Bắc từ 1941-1945.

=> Di sản văn học lớn lao về tầm vóc, phong phú về thể loại và đa dạng về phong cách.

c. Phong cách nghệ thuật:

– Thống nhất:

+ Về mục đích sáng tác, quan điểm sáng tác, nguyên tắc sáng tác.

+ Về cách viết ngắn gọn.

– Đa dạng:

+ Văn chính luận: ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục, giàu tính luận chiến, kết hợp nhuần nhuyễn mạch luận lí với mạch cảm xúc, giọng điệu uyển chuyển.

+ Truyện và kí hiện đại, giàu tính chiến đấu, nghệ thuật trào phúng sắc bén, nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng thâm thúy, sâu cay.

+ Thơ ca: thơ tuyên truyền cách mạng mộc mạc, giản dị, dễ nhớ, dễ thuộc; thơ nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển với yếu tố hiện đại, cô đọng, súc tích. 

Tiếp tục đọc

Tác giả – Tác phẩm Văn 12

Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh

Được phát hành

,

Bởi

Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh bao gồm tóm tắt nội dung chính, lập dàn ý phân tích, bố cục, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật cùng hoàn cảnh sáng tác, ra đời của tác phẩm và tiểu sử, quan điểm cùng sự nghiệp sáng tác phong cách nghệ thuật giúp các em học tốt môn văn 12

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

  • I. Tác gia
  • II. Tác phẩm
  • Nhận định

I. Tác gia

1. Tiểu sử 

– Hồ Chí Minh (19/05/1889 – 02/09/1969) tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung.

– Quê quán: Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An.

– Sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo, yêu nước

– Người là một vị lãnh tụ tài ba, vĩ đại, người đã đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi cảnh nô lệ, lầm than.

– Được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới.

2. Sự nghiệp văn học

a. Quan điểm sáng tác:

– Coi văn học là một vũ khí chiến đấu phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.

– Luôn chú trọng tính chân thực và tính dân tộc.

– Luôn chú ý đến mục đích và đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm.

b. Tác phẩm chính

Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925), Nhật kí trong tù,…

c. Phong cách nghệ thuật:

– Thống nhất:

+ Về mục đích sáng tác, quan điểm sáng tác, nguyên tắc sáng tác.

+ Về cách viết ngắn gọn.

– Đa dạng:

+ Văn chính luận: ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục, giàu tính luận chiến, kết hợp nhuần nhuyễn mạch luận lí với mạch cảm xúc, giọng điệu uyển chuyển.

+ Truyện và kí hiện đại, giàu tính chiến đấu, nghệ thuật trào phúng sắc bén, nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng thâm thúy, sâu cay.

+ Thơ ca: thơ tuyên truyền cách mạng mộc mạc, giản dị, dễ nhớ, dễ thuộc; thơ nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển với yếu tố hiện đại, cô đọng, súc tích.

II. Tác phẩm

1. Tìm hiểu chung:

a. Hoàn cảnh ra đời :

– Thế giới:

+ Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc.

+ Nhật đầu hàng Đồng minh.

– Trong nước: Cả nước giành chính quyền thắng lợi.

+ 26 – 8 – 1945: Hồ chủ tịch về tới Hà Nội.

+ 28 -8 1945: Bác soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập tại tầng 2, căn nhà số 48, phố Hàng Ngang, Hà Nội.

+ 2 – 9 – 1945: đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

b. Mục đích sáng tác:

– Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc trước quốc dân và thế giới.

– Tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến; khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và bày tỏ quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc.

c. Bố cục:

– Đoạn 1: Từ đầu… “không ai chối cãi được” => Nêu nguyên lí chung của bản tuyên ngôn độc lập.

– Đoạn 2: Từ “Thế mà” …. “phải được độc lập” => Tố cáo tội ác của thực dân Pháp, khẳng định thực tế lịch sử nhân dân ta đấu tranh giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

– Đoạn 3: (Còn lại) => Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ nền độc lập.

d. Nội dung chính:

     Vạch trần tội ác của thực dân Pháp cướp nước ta; tuyên bố nền độc lập dân tộc; khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và thể hiện ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc.

2. Tìm hiểu chi tiết:

a. Cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn độc lập.

– Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mĩ và Pháp làm cơ sở pháp lí cho tuyên ngôn độc lập của Việt Nam:

=> Ý nghĩa:

+ Tôn trọng những tuyên ngôn bất hủ của người Mĩ và Pháp vì những điều được nêu là chân lí của nhân loại.

+ Dùng cách lập luận “gậy ông đập lưng ông” để buộc tội Pháp và ngăn chặn âm mưu tái xâm lược của chúng.

+ Thể hiện quyền tự hào dân tộc: đặt 3 cuộc cách mạng, 3 bản tuyên ngôn, 3 dân tộc ngang hàng nhau.

b. Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam:

* Tố cáo tội ác của Pháp:

+ Tố cáo tội ác tàn bạo của thực dân Pháp trên mọi mặt đời sống khi cai trị nước ta: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội (liệt kê hàng loạt dẫn chứng đanh thép, hùng hồn về tội ác của Pháp).

+ Giải thích rõ ràng, mạch lạc: từ mùa thu 1940 đến 9/3/1945, thực dân Pháp đã bán nước ta hai lần cho Nhật (khi thì quỳ gối đầu hàng khi thì bỏ chạy), vì vậy không còn bất kì quyền lợi cai trị nào ở nước ta.

* Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc:

Trình bày cuộc đấu tranh xương máu giành độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam:

+ Nhân dân Việt Nam đã nổi dậy giành chính quyền, lấy lại đất nước từ tay Nhật.

+ Quân và dân ta đã nhiều lần kêu gọi người Pháp cùng chống Nhật nhưng bị từ chối, khi Pháp thua chạy, đồng bào ta vẫn khoan hồng và giúp đỡ họ.

+ Dân ta đánh đổ các xiềng xích phong kiến, thực dân, phát xít.

+ Quân và dân ta tin tưởng vào sự công bằng của các nước Đồng Minh.

 => Khẳng định, đề cao tinh thần xả thân giữ nước, thành quả cách mạng của nhân dân ta. Chúng ta hoàn toàn xứng đáng với nền độc lập có được bởi chính máu xương của mình.

c. Giá trị nội dung:

– Là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta.

– Đánh dấu kỉ nguyên độc lập, tư do của nước Việt Nam mới.

d. Giá trị nghệ thuật:

– Là một áng văn chính luận mẫu mực.

– Lập luận chặt chẽ.

– Lý lẽ đanh thép.

– Ngôn ngữ hùng hồn.

– Dẫn chứng xác thực, lấy ra từ lịch sử cụ thể.

Nhận định

Một số nhận định về tác giả, tác phẩm

1. Có ý kiến đánh giá: “Tuyên ngôn độc lập một văn kiện có trị lịch sử to lớn, một bài văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn, đầy sức thuyết phục”.

2. Có ý kiến cho rằng: “Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là áng văn mẫu mực của văn xuôi chính luận Việt Nam”.  

3. Đồng chí Trường Chinh nhận xét: “Về văn phong, cách nói và cách viết của Hồ Chủ Tịch có những nét rất độc đáo: Nội dung khảng khái, thấm thía đi sâu vào tình cảm của con người, chinh phục cả trái tim và khối óc con người ta: Hình thức sinh động, giản dị, giàu tính dân tộc và tính nhân dân.”

Tiếp tục đọc

Tác giả – Tác phẩm Văn 12

Tác giả Phạm Văn Đồng

Được phát hành

,

Bởi

Tìm hiểu tác giả Phạm Văn Đồng gồm các nội dung tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, phong cách văn học và đóng góp cho nền văn học.

 1. Tiểu sử 

– Phạm Văn Đồng (1906 -2000)

– Ông sinh ra ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

– Tham gia cách mạng từ sớm và là nhà hoạt động cách mạng xuất sắc; là nhà giáo dục tâm huyết và một nhà văn hóa, văn nghệ lớn.

– Năm 1936, Phạm Văn Đồng ra tù, hoạt động ở Hà Nội.

 Năm 1940, ông bí mật sang Trung Quốc cùng với Võ Nguyên Giáp, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và được Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ về nước xây dựng căn cứ địa ở biên giới Việt – Trung.

– Năm 1945, tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, Phạm Văn Đồng được bầu vào Ủy ban Thường trực gồm 5 người thuộc Ủy ban Dân tộc giải phóng, chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám.

Phạm Văn Đồng là Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1976 cho đến khi nghỉ hưu năm 1987.

Trước đó ông từng giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1976.

Phạm Văn Đồng là vị Thủ tướng Việt Nam tại vị lâu nhất (1955–1987) và là học trò, cộng sự của Hồ Chí Minh.

=> Với bề dày hơn 70 năm hoạt động trong sự nghiệp Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó nhiều năm giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt, Phạm Văn Đồng được nhiều nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản và học giả trong nước, những người gần gũi với ông đánh giá là có nhiều đóng góp quan trọng trên nhiều lĩnh vực: chính trị, quân sự, văn học,…

 2. Sự nghiệp văn học

– Thể loại: Các tác phẩm nghị luận xuất sắc.

– Văn phong nghị luận của ông đầy nhiệt tình, lôi cuốn người đọc bằng những luận điểm mới mẻ, sâu sắc với lời văn trong sáng, nhiều hình ảnh.

– Tác phẩm chính: Hồ Chí Minh – Một con người, một dân tộc, một thời đại; Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc, Văn hóa đổi mới… 

Tiếp tục đọc

Xu hướng