Connect with us

Tác giả

Những tác giả gốc Việt thành danh trên đất Pháp

Được phát hành

,

Linda Lê, Lê Thành Khôi, Thuận… đều là những tác giả gốc Việt đang sống tại Pháp; nơi tài năng, học vấn của họ được khẳng định.

Dù sáng tác bằng tiếng Pháp hay tiếng Việt, các tác giả như Phạm Văn Ký, Lê Thành Khôi, Linda Lê, Thuận, Anna Moi đều có những thành công, được sự đón nhận của độc giả Pháp, Việt.

Lê Thành Khôi – học giả uyên bác

Lê Thành Khôi sinh năm 1923 tại Hà Nội, trong một gia đình Nho học, ông được đào tạo căn bản từ nhỏ. Năm 1949, ông lấy bằng tiến sĩ về kinh tế học tại Paris, sau đó tốt nghiệp Học viện Luật pháp quốc tế tại Hà Lan, cử nhân văn chương tại Đại học Sorbone, học Hán ngữ tại Trường Ngoại ngữ phương Đông ở Paris.

Năm 1968, ông hoàn thành cùng lúc 2 luận án tiến sĩ về công nghệ giáo dục, văn khoa và khoa học xã hội.

Giáo sư, học giả Lê Thành Khôi còn là chuyên gia tư vấn cho một số tổ chức lớn của thế giới.

Giáo sư, học giả Lê Thành Khôi còn là chuyên gia tư vấn cho một số tổ chức lớn của thế giới.

Ông là một học giả uy tín, uyên bác trên nhiều lĩnh vực tại Pháp, từ kinh tế, giáo dục đến văn học, văn hóa, lịch sử, nghệ thuật. Lê Thành Khôi giảng dạy tại nhiều Đại học, Viện Khoa học, làm nghiên cứu ở các Viện nghiên cứu, và làm tư vấn cho một số tổ chức lớn của quốc tế.

Tại Việt Nam, nhiều người biết tới Lê Thành Khôi với công trình Lịch sử Việt Nam, từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX. Tác phẩm là sự kết hợp của hai chuyên khảo mang tính kinh điển về lịch sử và văn hóa Việt Nam của Giáo sư Lê Thành Khôi: Le Viêt-Nam, Histoire et Civilisation (Việt Nam, Lịch sử và Văn minh, NXB Minuit, Paris, 1955) và Histoire du Viêt Nam, des origines à 1858 (Lịch sử Việt Nam, từ nguồn gốc đến năm 1858, NXB Sud-Est Asie, Paris, 1982).

Công trình từ lâu đã được coi như sách tham khảo căn bản khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam. Đây là lần đầu tiên tác phẩm được coi như kiệt tác sử học này được xuất bản bằng tiếng Việt.

Một nhóm các giáo sư, học giả, chuyên gia người Việt, Pháp, Nhật, Canada, Mỹ có nghiên cứu về Việt Nam, vốn là những người đã chịu ảnh hưởng của giáo sư Lê Thành Khôi, đã cùng thực hiện cuốn Từ Đông sang Tây để tỏ lòng biết ơn với vị Giáo sư uyên bác.

Phạm Văn Ký có tiểu thuyết đạt giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp

Phạm Văn Ký sinh ngày 10/7/1910 tại Bình Định, Việt Nam,  mất ngày 27/4/1992 tại Pháp.

Sinh ra trong một gia đình 13 người con, có nhiều tài liệu khác nhau nói về thuở nhỏ của Phạm Văn Ký. Năm 1936, ông được trao giải “Premier prix de Poésie aux Jeux Floraux d’Indochine” cho một tập thơ viết bằng tiếng Pháp.

Phạm Văn Ký đạt giải thưởng Viện hàn lâm Pháp năm 1961.

Phạm Văn Ký đạt giải thưởng Viện hàn lâm Pháp năm 1961.

Ông cũng là người đầu tiên viết lời giới thiệu cho tập thơ Gái Quê của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Ông từng làm biên tập viên cho vài tờ báo tiếng Pháp ở Bình Định, Huế, Sài Gòn, sau đó sang Pháp học ở đại học Sorbonne, nhưng không bao giờ hoàn thành được học vị của mình vì Chiến tranh thế giới thứ II.

Từ năm 1938, Phạm Văn Ký sống tại Paris. Ông có 3 tác phẩm viết bằng tiếng Việt gồm: Kiếm hoa (tiểu thuyết), Con đường thiên lý số 1 (tiểu thuyết, chưa xuất bản), Đường về nước (thơ).

Ông có 14 cuốn sách viết bằng tiếng Pháp gồm các tập thơ và tiểu thuyết. Trong đó có tiểu thuyết Frères de sang (Paris: Editions du Seuil, 1947), được dịch sang tiếng Anh với tên Blood Brothers (New Haven: Yale Southeast Asia Studies, 1987).

Tác phẩm nổi tiếng nhất của Phạm Văn Ký là tiểu thuyết Perdre la demeure (Paris: Gallimard, 1961). Tác phẩm đoạt Giải thưởng lớn cho tiểu thuyết của Viện hàn lâm Pháp) năm 1961; được Phạm Văn Ba dịch sang tiếng Việt với tên Mất nơi ở Hà Nội, NXB Hội Nhà Văn, 2006.

Linda Lê – người được giới phê bình Pháp coi trọng

Trong lĩnh vực văn chương, khi nhắc tới cụm từ “nhà văn Pháp gốc Việt”, nhiều người sẽ nghĩ ngay tới Linda Lê, bởi bà là một trong các nhà văn nữ hàng đầu nước Pháp hiện nay. Sinh năm 1963 tại Đà Lạt, 14 tuổi Linda Lê theo mẹ sang Pháp.

Bà thành danh với Phúc âm Tội ác. Sau đó, các tác phẩm của bà đều được đón nhận nồng nhiệt như: Vu khống, 1993, Les Dits d’un Idiot (Lời Tên Khùng, 1995), và nhất là bộ ba Les Trois Parques (Ba Nữ thần Số mệnh, 1997), Voix (Tiếng nói, 1998), và Lettre morte (Thư chết, 1999).

Linda Lê là một trong những nữ nhà văn hàng đầu tại Pháp hiện nay.

Linda Lê là một trong những nữ nhà văn hàng đầu tại Pháp hiện nay.

Linda Lê còn nhiều tác phẩm như: Les Aubes (Những buổi Rạng đông), truyện dài, năm 2000; Marina Tsvétaéva, phê bình văn học; Autres Jeux avec le feu (Lại chơi với lửa), tập truyện ngắn, năm 2002; Personne (Người), truyện dài, năm 2003; Kriss (kịch), năm 2004; Conte de l’amour bifrons (Truyện cuộc tình hai mặt), truyện dài, và Le Complexe de Caliban (Mặc cảm Caliban), gồm nhiều tiểu luận, năm 2005, In Memoriam (Tưởng niệm), truyện dài, năm 2007.

Một số tác phẩm của bà đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Hà Lan, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Việt. Linda Lê cũng là nhà phê bình văn học cho Magazine Littéraire (tạp chí Văn học).

Giới phê bình cho rằng các tác phẩm của Linda Lê đi vào văn học một cách lặng lẽ, không ồn ào. Bà đã dành nhiều giải thưởng văn chương Pháp. Năm 2012, tiểu thuyết Sóng ngầm của bà vào chung khảo giải Goncourt. Mới đây, tác phẩm đã được dịch và xuất bản ở Việt Nam.

Thuận – sống tại Pháp nhưng đóng góp cho văn học đương đại Việt Nam

Thuận tên thật là Đoàn Ánh Thuận, sinh năm 1967 tại Hà Nội. Chị tốt nghiệp khoa Anh ngữ Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Pyatigorsk (Liên bang Nga) năm 1991, làm cao học văn học Anh cổ điển tại Đại học Paris 7 (1991-1992) và cao học văn học Nga đương đại tại ĐH Sorbonne (1992-1993). Hiện chị định cư tại Paris, có chồng là nghệ sĩ thị giác Trần Trọng Vũ.

Sống tại Pháp nhưng tác phẩm của Thuận có đóng góp cho văn chương đương đại Việt Nam.

Sống tại Pháp nhưng tác phẩm của Thuận có đóng góp cho văn chương đương đại Việt Nam.

Hơn 20 năm sống tại Pháp, nhưng các sáng tác của Thuận không tách rời đời sống xã hội Việt. Các tiểu thuyết của Thuận được nhiều người yêu thích như: Made in Vietnam, 2002; Chinatown, NXB Đà Nẵng, 2005; Paris 11 tháng 8, NXB Đà Nẵng, 2006; T mất tích, NXB Văn học, 2007; Vân Vy, NXB Hội Nhà Văn, 2008; Thang máy Sài Gòn, NXB Hội Nhà Văn; Chỉ còn 4 ngày là hết tháng Tư, NXB Văn học, 2015.

Bên cạnh đó, Thuận còn là dịch giả, chuyển ngữ các tác phẩm như: Xạ thủ nằm bắn, Ba gã cần khử, Ngôn từ, Người cha im lặng.

Tuy sống tại Pháp, song những tác phẩm của Thuận đóng góp cho văn chương đương đại Việt Nam. Mỗi tiểu thuyết của chị là một thử nghiệm, sáng tạo hình thức, chẳng hạn Chinatown được viết với cấu trúc không chương đoạn, Thang máy Sài Gòn có chương đoạn nhưng theo thứ tự hoàn toàn tự do, Chỉ còn 4 ngày là hết tháng Tư tràn ngập số 4…

Anna Moï- Nhà văn, nhà thiết kế sử dụng 5 ngoại ngữ

Anna Moï tên thật là Trần Thiên Nga (sinh năm 1955) tại Sài Gòn. Suốt thời thơ ấu bà đã đi và sống ở nhiều vùng đất như Sài Gòn, Buôn Mê Thuột và Hội An. Những năm 1970, bà sang Paris học lịch sử tại trường đại học Nanterre.

Nhà văn, nhà thiết kế ANna Moi.

Nhà văn, nhà thiết kế ANna Moi.

Sự nghiệp của Anna Moï rẽ sang một hướng khác sau cuộc gặp gỡ với hai nhà tạo mẫu Agnès Troublè và Philippe Guibourgé. Bà quyết định trở thành nhà thiết kế thời trang. Do yêu cầu của công việc tạo mẫu, những năm 1980 tác giả đã có khoảng thời gian dài sống và làm việc tại Nhật Bản và Thái Lan. Chính vì thế, Anna Moï có thể sử dụng 5 thứ tiếng: Pháp, Việt, Anh, Nhật và Thái Lan.

Tập truyện ngắn đầu tiên của Anna Moï được xuất bản vào năm 2001. Tính đến nay cây viết nữ đã có một “gia tài” là 8 tập truyện ngắn và tiểu thuyết, với các tác phẩm nổi bật như: Violon, Rapaces, Riz Noir, Le Venin du papillon

Nguồn: Tần Tần (Zing)

Tiếp tục đọc
Nhấn vào đây để bình luận

You must be logged in to post a comment Login

Leave a Reply

Tác giả – Tác phẩm Văn 12

Tác giả Hồ Chí Minh

Được phát hành

,

Bởi

Tìm hiểu tác giả Hồ Chí Minh gồm các nội dung tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, phong cách văn học và đóng góp cho nền văn học

1. Tiểu sử

– Hồ Chí Minh (19/05/1889 – 02/09/1969) tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung.

– Quê quán: Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An.

– Gia đình: nhà Nho nghèo, cha là Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là Hoàng Thị Loan.

– Quá trình hoạt động cách mạng:

+ Năm 1911, ra đi tìm đường cứu nước.

+ Hoạt động cách mạng ở nhiều nước: Pháp, Trung Quốc, Thái Lan…

+ Ngày 3-2-1930, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.

+ Năm 1941, trở về nước, lãnh đạo phong trào CM trong nước.

+ Tháng 8-1942, sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ của quốc tế, bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam đến tháng 9-1943.

+ Ra tù, Người trở về nước, lãnh đạo phong trào CM, tiến tới tổng khởi nghĩa tháng 8-1945.

+ Ngày 2-9-1945, đọc bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước VNDCCH, giữ chức vụ Chủ tịch nước.

+ Lãnh đạo nhân dân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ.

=> Là vị lãnh tụ tài ba, vĩ đại, danh nhân văn hóa thế giới. 

 


2. Sự nghiệp văn học

a. Quan điểm sáng tác:

– Coi văn học là một vũ khí chiến đấu phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.

– Luôn chú trọng tính chân thực và tính dân tộc.

– Luôn chú ý đến mục đích và đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm.

b. Di sản văn học:

– Văn chính luận:

+ Tác phẩm chính: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966)…

– Truyện và kí:

+ Tác phẩm chính: Pari (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Con người biết mùi hun khói (1922), Vi hành (1923), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925), Nhật kí chìm tàu (1931), Vừa đi đường vừa kể chuyện (1963)…

– Thơ ca:

+ Tác phẩm chính: Nhật kí trong tù (viết trong thời gian bị giam cầm trong nhà lao Tưởng Giới Thạch từ 1942-1943), chùm thơ viết ở Việt Bắc từ 1941-1945.

=> Di sản văn học lớn lao về tầm vóc, phong phú về thể loại và đa dạng về phong cách.

c. Phong cách nghệ thuật:

– Thống nhất:

+ Về mục đích sáng tác, quan điểm sáng tác, nguyên tắc sáng tác.

+ Về cách viết ngắn gọn.

– Đa dạng:

+ Văn chính luận: ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục, giàu tính luận chiến, kết hợp nhuần nhuyễn mạch luận lí với mạch cảm xúc, giọng điệu uyển chuyển.

+ Truyện và kí hiện đại, giàu tính chiến đấu, nghệ thuật trào phúng sắc bén, nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng thâm thúy, sâu cay.

+ Thơ ca: thơ tuyên truyền cách mạng mộc mạc, giản dị, dễ nhớ, dễ thuộc; thơ nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển với yếu tố hiện đại, cô đọng, súc tích. 

Tiếp tục đọc

Tác giả – Tác phẩm Văn 12

Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh

Được phát hành

,

Bởi

Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh bao gồm tóm tắt nội dung chính, lập dàn ý phân tích, bố cục, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật cùng hoàn cảnh sáng tác, ra đời của tác phẩm và tiểu sử, quan điểm cùng sự nghiệp sáng tác phong cách nghệ thuật giúp các em học tốt môn văn 12

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

  • I. Tác gia
  • II. Tác phẩm
  • Nhận định

I. Tác gia

1. Tiểu sử 

– Hồ Chí Minh (19/05/1889 – 02/09/1969) tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung.

– Quê quán: Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An.

– Sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo, yêu nước

– Người là một vị lãnh tụ tài ba, vĩ đại, người đã đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi cảnh nô lệ, lầm than.

– Được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới.

2. Sự nghiệp văn học

a. Quan điểm sáng tác:

– Coi văn học là một vũ khí chiến đấu phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.

– Luôn chú trọng tính chân thực và tính dân tộc.

– Luôn chú ý đến mục đích và đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm.

b. Tác phẩm chính

Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925), Nhật kí trong tù,…

c. Phong cách nghệ thuật:

– Thống nhất:

+ Về mục đích sáng tác, quan điểm sáng tác, nguyên tắc sáng tác.

+ Về cách viết ngắn gọn.

– Đa dạng:

+ Văn chính luận: ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục, giàu tính luận chiến, kết hợp nhuần nhuyễn mạch luận lí với mạch cảm xúc, giọng điệu uyển chuyển.

+ Truyện và kí hiện đại, giàu tính chiến đấu, nghệ thuật trào phúng sắc bén, nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng thâm thúy, sâu cay.

+ Thơ ca: thơ tuyên truyền cách mạng mộc mạc, giản dị, dễ nhớ, dễ thuộc; thơ nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển với yếu tố hiện đại, cô đọng, súc tích.

II. Tác phẩm

1. Tìm hiểu chung:

a. Hoàn cảnh ra đời :

– Thế giới:

+ Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc.

+ Nhật đầu hàng Đồng minh.

– Trong nước: Cả nước giành chính quyền thắng lợi.

+ 26 – 8 – 1945: Hồ chủ tịch về tới Hà Nội.

+ 28 -8 1945: Bác soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập tại tầng 2, căn nhà số 48, phố Hàng Ngang, Hà Nội.

+ 2 – 9 – 1945: đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

b. Mục đích sáng tác:

– Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc trước quốc dân và thế giới.

– Tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến; khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và bày tỏ quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc.

c. Bố cục:

– Đoạn 1: Từ đầu… “không ai chối cãi được” => Nêu nguyên lí chung của bản tuyên ngôn độc lập.

– Đoạn 2: Từ “Thế mà” …. “phải được độc lập” => Tố cáo tội ác của thực dân Pháp, khẳng định thực tế lịch sử nhân dân ta đấu tranh giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

– Đoạn 3: (Còn lại) => Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ nền độc lập.

d. Nội dung chính:

     Vạch trần tội ác của thực dân Pháp cướp nước ta; tuyên bố nền độc lập dân tộc; khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và thể hiện ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc.

2. Tìm hiểu chi tiết:

a. Cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn độc lập.

– Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mĩ và Pháp làm cơ sở pháp lí cho tuyên ngôn độc lập của Việt Nam:

=> Ý nghĩa:

+ Tôn trọng những tuyên ngôn bất hủ của người Mĩ và Pháp vì những điều được nêu là chân lí của nhân loại.

+ Dùng cách lập luận “gậy ông đập lưng ông” để buộc tội Pháp và ngăn chặn âm mưu tái xâm lược của chúng.

+ Thể hiện quyền tự hào dân tộc: đặt 3 cuộc cách mạng, 3 bản tuyên ngôn, 3 dân tộc ngang hàng nhau.

b. Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam:

* Tố cáo tội ác của Pháp:

+ Tố cáo tội ác tàn bạo của thực dân Pháp trên mọi mặt đời sống khi cai trị nước ta: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội (liệt kê hàng loạt dẫn chứng đanh thép, hùng hồn về tội ác của Pháp).

+ Giải thích rõ ràng, mạch lạc: từ mùa thu 1940 đến 9/3/1945, thực dân Pháp đã bán nước ta hai lần cho Nhật (khi thì quỳ gối đầu hàng khi thì bỏ chạy), vì vậy không còn bất kì quyền lợi cai trị nào ở nước ta.

* Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc:

Trình bày cuộc đấu tranh xương máu giành độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam:

+ Nhân dân Việt Nam đã nổi dậy giành chính quyền, lấy lại đất nước từ tay Nhật.

+ Quân và dân ta đã nhiều lần kêu gọi người Pháp cùng chống Nhật nhưng bị từ chối, khi Pháp thua chạy, đồng bào ta vẫn khoan hồng và giúp đỡ họ.

+ Dân ta đánh đổ các xiềng xích phong kiến, thực dân, phát xít.

+ Quân và dân ta tin tưởng vào sự công bằng của các nước Đồng Minh.

 => Khẳng định, đề cao tinh thần xả thân giữ nước, thành quả cách mạng của nhân dân ta. Chúng ta hoàn toàn xứng đáng với nền độc lập có được bởi chính máu xương của mình.

c. Giá trị nội dung:

– Là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta.

– Đánh dấu kỉ nguyên độc lập, tư do của nước Việt Nam mới.

d. Giá trị nghệ thuật:

– Là một áng văn chính luận mẫu mực.

– Lập luận chặt chẽ.

– Lý lẽ đanh thép.

– Ngôn ngữ hùng hồn.

– Dẫn chứng xác thực, lấy ra từ lịch sử cụ thể.

Nhận định

Một số nhận định về tác giả, tác phẩm

1. Có ý kiến đánh giá: “Tuyên ngôn độc lập một văn kiện có trị lịch sử to lớn, một bài văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn, đầy sức thuyết phục”.

2. Có ý kiến cho rằng: “Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là áng văn mẫu mực của văn xuôi chính luận Việt Nam”.  

3. Đồng chí Trường Chinh nhận xét: “Về văn phong, cách nói và cách viết của Hồ Chủ Tịch có những nét rất độc đáo: Nội dung khảng khái, thấm thía đi sâu vào tình cảm của con người, chinh phục cả trái tim và khối óc con người ta: Hình thức sinh động, giản dị, giàu tính dân tộc và tính nhân dân.”

Tiếp tục đọc

Tác giả – Tác phẩm Văn 12

Tác giả Phạm Văn Đồng

Được phát hành

,

Bởi

Tìm hiểu tác giả Phạm Văn Đồng gồm các nội dung tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, phong cách văn học và đóng góp cho nền văn học.

 1. Tiểu sử 

– Phạm Văn Đồng (1906 -2000)

– Ông sinh ra ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

– Tham gia cách mạng từ sớm và là nhà hoạt động cách mạng xuất sắc; là nhà giáo dục tâm huyết và một nhà văn hóa, văn nghệ lớn.

– Năm 1936, Phạm Văn Đồng ra tù, hoạt động ở Hà Nội.

 Năm 1940, ông bí mật sang Trung Quốc cùng với Võ Nguyên Giáp, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và được Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ về nước xây dựng căn cứ địa ở biên giới Việt – Trung.

– Năm 1945, tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, Phạm Văn Đồng được bầu vào Ủy ban Thường trực gồm 5 người thuộc Ủy ban Dân tộc giải phóng, chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám.

Phạm Văn Đồng là Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1976 cho đến khi nghỉ hưu năm 1987.

Trước đó ông từng giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1976.

Phạm Văn Đồng là vị Thủ tướng Việt Nam tại vị lâu nhất (1955–1987) và là học trò, cộng sự của Hồ Chí Minh.

=> Với bề dày hơn 70 năm hoạt động trong sự nghiệp Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó nhiều năm giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt, Phạm Văn Đồng được nhiều nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản và học giả trong nước, những người gần gũi với ông đánh giá là có nhiều đóng góp quan trọng trên nhiều lĩnh vực: chính trị, quân sự, văn học,…

 2. Sự nghiệp văn học

– Thể loại: Các tác phẩm nghị luận xuất sắc.

– Văn phong nghị luận của ông đầy nhiệt tình, lôi cuốn người đọc bằng những luận điểm mới mẻ, sâu sắc với lời văn trong sáng, nhiều hình ảnh.

– Tác phẩm chính: Hồ Chí Minh – Một con người, một dân tộc, một thời đại; Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc, Văn hóa đổi mới… 

Tiếp tục đọc

Xu hướng