Connect with us

Sách hay

Đọc sách là một tiêu chí để chọn bạn đời

Published

on

Với Jane Austen, đọc sách giúp nhận định nhân cách một con người. Việc đọc hay không đọc, đọc gì và đọc như thế nào là vấn đề quan trọng, liên quan đến việc bạn chọn ai.

Doc sach de chon ban anh 1

Trong Kiêu hãnh và Định kiến ​​của Jane Austen, khi người thừa kế William Collins đến thăm gia đình ông chú họ Bennet với hy vọng có thể kết hôn được cùng một trong các cô gái nhà này, ông Bennet phát hiện ra người cháu trai mình thật tầm thường, nhưng vẫn lịch sự mời anh tham dự tiệc trà với các cô con gái.

Sinh hoạt đọc sách vốn là truyền thống của gia đình Bennet. Sau khi uống trà, ông mời Collins đọc một cuốn sách cho cánh phụ nữ, và Collins sẵn sàng đồng ý.

Nhưng khi thấy quyển sách phải đọc có ký hiệu của thư viện lưu hành, đấy lại là một cuốn tiểu thuyết, anh đã trả lại sách, than thở rằng chẳng bao giờ đọc tiểu thuyết cả, và anh sẽ chọn một cuốn sách khác để đọc cho các quý cô. Rốt cuộc anh chọn cuốn của Fordyce – Những bài giảng dành cho quý cô – để đọc cho các cô em họ.

Cô út Lydia nhà Bennet không thèm lịch sự, lập tức thô lỗ ngắt ngang ngay khi Collins vừa đọc được ba trang. Cảm thấy bị xúc phạm, Collins lên giọng “dạy dỗ”: “Tôi nhận thấy mấy cô gái trẻ ít chú ý đến sách vở với giá trị đặc trưng, mặc dù sách được viết riêng cho các cô. Phải nói là tôi rất ngạc nhiên đấy, vì tôi tin rằng sự giáo huấn này là rất cần cho các cô đây”.

Advertisement

Đọc sách như cách tiếp cận đối tượng, thử thách về mặt xã hội, tình yêu

Chúng ta phải thấy rằng ở đây, Collins là một giáo sĩ kiêu căng ngạo mạn và giáo điều, theo lẽ thường anh cũng có sở thích đọc sách riêng, nhưng việc anh dùng lời lẽ sáo rỗng để giáo dục các cô gái về sở thích đọc sách của họ thì đương nhiên anh sẽ không bao giờ nhận được sự yêu quý của các cô gái nhà Bennet.

Nhưng vì sao Collins lại khó chịu ngay khi nhìn thấy ký hiệu quyển sách được mượn từ thư viện lưu hành? Thư viện lưu hành (circulating library) – là loại thư viện cho mượn và cho thuê, xuất hiện lần đầu tiên tại Anh vào năm 1725, và trở nên phổ biến ở nhiều thập niên sau đó, là một nơi quan trọng để người đọc có thể mượn sách chỉ với một khoản phí nhỏ, loại sách đặc biệt phổ biến là tiểu thuyết.

Chúng ta cũng có thể hiểu nôm na hình thức đó giống tiệm cho thuê truyện bây giờ. Nhưng tầng lớp trung lưu Anh quốc dạo ấy cực kỳ coi thường thư viện lưu hành, bởi kể cả khi cho mượn và cho thuê tính phí không khác là bao với thư viện công cộng nhưng họ đánh giá trên mục đích hoạt động của thư viện.

Thư viện lưu hành mục đích chính thu lợi về tài chính, kiếm chác trên sách vở, khác với các thư viện công cộng truyền thống là nhằm mục đích chia sẻ các tác phẩm văn học và học thuật với người đọc, mục đích là phi lợi nhuận.

Doc sach de chon ban anh 2

Sách Kiêu hãnh và định kiến. Ảnh: Đông A.

Gia đình Bennet cũng có thư viện, nhưng có vẻ như bộ sưu tập sách không phong phú, ít nhất là không thể so sánh với bộ sưu tập sách mà gia tộc Darcy truyền lại qua nhiều thế hệ. Nên việc chị em nhà Bennet mượn/thuê một cuốn tiểu thuyết trong thư viện lưu hành hẳn là chuyện bình thường, nhưng với con mắt của các “nhà đạo đức” thời ấy thì không bình thường chút nào.

Advertisement

Cuối thế kỷ 18, tiểu thuyết trở nên phổ biến. Cánh chị em mê đọc tiểu thuyết, nhưng không phải ai cũng đủ tiền để mua tiểu thuyết, bởi sách ở thời điểm này có giá rất cao. Tiểu thuyết có sức hấp dẫn rộng rãi vì chúng dễ đọc hơn, đơn giản hơn các loại sách vở kinh viện. Tuy nhiên, tiểu thuyết không có được sự đón nhận nồng nhiệt.

Tiểu thuyết cũng bắt nguồn từ một số khía cạnh thực tế, và chính điều này làm cho tiểu thuyết trở nên hấp dẫn và dễ liên tưởng, nhưng bên cạnh đó, tiểu thuyết có câu chuyện, và câu chuyện lại phải cuốn hút và giật gân thường thoát ly khỏi đời thực, hoặc cổ vũ cho những cốt truyện trái khoáy.

Các học giả và giới trí thức cho rằng đọc tiểu thuyết có hại và vô ích, đặc biệt đối với phụ nữ, tiểu thuyết đầy cám dỗ tình dục cùng những tưởng tượng khác xa hiện thực sẽ có hại cho mặt đạo đức và tinh thần của chị em.

Tiểu thuyết sẽ làm người đọc không thể phân biệt được đâu là yếu tố hiện thực và đâu là yếu tố hư cấu hoàn toàn, và nó sẽ khiến người ta có những kỳ vọng không thực tế về cuộc sống. Các thư viện lưu hành đã bị chỉ trích rất nhiều vào thời kỳ này, vì đây là nơi cung cấp tiểu thuyết cho chị em là chính.

Thế nên việc Collins chọn sách Những bài giảng dành cho quý cô của Fordyce – cuốn sách dạy phụ nữ trẻ các chuẩn mực về cách cư xử, đầy những lời răn dạy về đạo đức cư xử cũng không có gì lạ. Sách của Fordyce được xem là loại sách nghiêm túc, vì thế cuốn sách này thường được bày ở phòng khách để bất kỳ ai tới chơi cũng nhìn thấy, một cách khoe khéo léo trình độ đọc của chủ nhà, trong khi những cuốn tiểu thuyết được xếp hạng kém, và chỉ đáng để chị em dấm dúi đọc ở phòng ngủ.

Advertisement

Có cô gái nào đủ can đảm lấy một ông chồng không cho vợ đọc tiểu thuyết, suốt ngày ép vợ đọc sách dạy đời cơ chứ?

Darcy, người tình trong mộng của nhiều chị em, lại rất khác. Anh biết rất rõ rằng đọc sách là một phương tiện để tiếp cận phụ nữ và thử thách nhau về mặt xã hội, thậm chí cả tình yêu.

Tại một buổi khiêu vũ, nữ chính Elizabeth Bennet vì hiểu lầm nam chính và đang rất khó chịu với Darcy, thế nhưng nàng vẫn nhận lời mời khiêu vũ của chàng. Trên sàn nhảy, Darcy hỏi Elizabeth: Cô nghĩ sao về sách?” “Sách à? Ồ không. Tôi chắc chúng ta không bao giờ đọc cùng loại sách, hoặc đọc với cùng chung cảm xúc”. “Tiếc rằng cô lại nghĩ như thế, nhưng nếu vậy, ít nhất ta không thiếu đề tài. Chúng ta có thể so sánh các quan điểm khác nhau”.

Với Darcy, người vợ lý tưởng cần phải đa năng, ngoài giỏi âm nhạc, ca hát, hội họa, khiêu vũ, phải biết cách nói chuyện, cư xử, nhưng điều quan trọng nhất là “phải đọc nhiều sách, trau dồi kiến ​​thức”.

Nói như thời nay chúng ta vẫn nói là mẫu người “lên được phòng khách, xuống được phòng bếp”. Thật ra có anh đàn ông nào mà không thích mẫu người vợ như Darcy thích chứ? Nhưng rõ ràng, đọc sách sẽ là một cơ hội tốt để các cặp giao tiếp.

Advertisement
Doc sach de chon ban anh 3

Hình ảnh trong phim chuyển thể Kiêu hãnh và định kiến. Ảnh: Focus Features.

Đọc sách như một thú vui cao cấp

Darcy thích đọc sách, và hẳn là anh cũng thích nói về sách, không chỉ vì một quý tộc giàu có nhàn hạ, mà còn vì anh ấy có sách để đọc – gia sản của gia đình Darcy có một thư viện được tích lũy qua nhiều thế hệ. Như lời khen ngợi của Caroline Bingley: “Tôi luôn lấy làm ngạc nhiên khi cha tôi để lại quá ít sách. Darcy, ở Pemberly có một thư viện đáng giá lắm đúng không anh?”. “Cũng được, đấy là công trình của nhiều thế hệ”. “Và anh cũng góp phần vào bộ sưu tập, anh luôn luôn thích mua sách”. “Tôi không thể hiểu nổi việc bỏ bê tủ sách gia đình trong thời buổi hiện nay”.

Tất nhiên, những lời khen ngợi của Caroline Bingley đối với trang viên và thư viện gia đình Darcy chỉ để lấy lòng anh, để được anh cưới làm vợ, nhưng thật không may, trong tác phẩm của Austen, cô Caroline Bingley chỉ là nữ phụ, nữ phụ sẽ bị hào quang nữ chính lấn át là điều tất yếu.

Doc sach de chon ban anh 4

Nhân vật Elizabeth Bennet (do Keira Knightley thủ vai) trong phim Kiêu hãnh và Định kiến ​​(2005).

Ngoài việc không thể chia sẻ niềm vui mua sách, sưu tầm sách và đọc sách với nam chính, cô còn biến mình trở thành cô nàng giả tạo, và hợm hĩnh. Trong chương 11 của Kiêu hãnh và Định kiến, tác giả đã tạo ra một bối cảnh cho nam chính và nữ phụ đọc cùng nhau. Đáng lẽ đây là cơ hội tốt để Caroline câu được sự chú ý của Darcy bằng cách đọc sách, chia sẻ cảm nhận về sách vở, nhưng khổ cái, nữ phụ chỉ thích khiêu vũ và giải trí, không thích đọc sách.

Caroline làm bộ thích đọc sách, lại còn cố tình chọn đọc tập hai của cuốn sách Darcy đang đọc, nhưng đâu dễ mà đọc hết được quyển sách chứ? Người đọc tinh ý sẽ nhận ra ngay trò khôn vặt của Caroline. Vì ở chương 8 trước đó, khi “nữ chính” vào phòng khách lúc “nữ phụ” Caroline Bingley đang chơi bài cùng mọi người, khi được mời chơi, cô đã từ chối. Cô nói chỉ muốn tìm một cuốn sách để đọc giải trí.

Ông Hurst ngạc nhiên hỏi: “Cô thích đọc sách hơn chơi bài à? Thật là lập dị”. “Cô Elizabeth Bennet ghét chơi bài. Cô ấy rất giỏi đọc sách và không còn thú vui nào khác”, Caroline Bingley châm chọc. Elizabeth thốt lên: “Tôi không xứng đáng với câu khen ngợi hay phê bình như thế. Tôi không giỏi đọc sách, tôi còn có nhiều thứ giải trí khác”.

Advertisement

Chính tại đây, Elizabeth đã thành công trong việc thu hút sự chú ý của Darcy, nữ chính đã tạo được hào quang cho riêng mình. Cô ấy thích đọc và có thể đọc, nhưng bên cạnh đọc cô còn nhiều sở thích khác. Thông điệp mà Elizabeth muốn truyền đạt ở đây hẳn là: “cô Bingley bảo tôi đọc nhiều ý chê tôi mọt sách khô khan khó tính như bà già, tôi có nhiều sở thích khác nhé, đọc chỉ là một trong các sở thích cao cấp của tôi thôi, tôi cũng thú vị lắm đấy nhé”.

Đối với Austen, sách và đọc sách là một phần quan trọng trong thế giới của cô và thế giới mà cô viết. Đối với một gia đình nề nếp như Bennet trong Kiêu hãnh và Định kiến, việc đọc sách cùng nhau trong gia đình là một cách để giết thời gian và giải trí, và việc đọc sách này còn để giáo dục thế hệ sau, truyền đạt cảm xúc và thể hiện sự hiếu thuận với cha mẹ.

Và với Jane Austen, đọc sách cũng là một vấn đề đạo đức giúp người ta nhận định nhân cách một con người, việc đọc hay không đọc, đọc gì và đọc như thế nào là những vấn đề xã hội và lãng mạn quan trọng, liên quan đến việc bạn chọn ai và ai chọn bạn.

Nguồn: https://zingnews.vn/doc-sach-la-mot-tieu-chi-de-chon-ban-doi-post1352708.html

Advertisement

Sách hay

Cuộc đua vĩ đại của ngành hàng không

Published

on

By

Trong “The Great Air Race”, John Lancaster kể câu chuyện về những người đã đánh đổi mạng sống của mình để ngày nay chúng ta có thể xách vali lên, bay từ nước này sang nước khác.

Một số phi công từ tham gia cuộc đua xuyên lục địa vào năm 1919. Ảnh: Library of Congress.

Vào tháng 10/1919, Thiếu tá AL Sneed lái chiếc máy bay DH-4 từ Rochester, New York (Mỹ), bay ngược chiều gió. Gần hết xăng, ông bắt đầu lao xuống sân bay Buffalo. Ngay trước khi máy bay hạ cánh, người thứ 2 có mặt trong chuyến đi, thợ máy của Sneed, tháo dây an toàn, đứng dậy ở buồng lái đằng sau, đi về phía đuôi và ngồi trên thân máy bay.

Đang lao xuống một cách chật vật, chiếc máy bay khựng lại và nghiêng theo chiều gió. Cánh phải của nó chạm đất, người thợ máy bị nảy lên không trung “như một viên đá ném ra từ ná cao su”.

Người thợ máy không rời khỏi chỗ ngồi để ra vẻ hoặc khắc phục bất kỳ sự cố khẩn cấp nào. Ông ta sử dụng cơ thể của mình để dịch chuyển trọng tâm của máy bay về phía sau càng xa càng tốt trước khi hạ cánh.

Advertisement

Cuộc đua xuyên lục địa

Trong thời kỳ đầu của ngành hàng không, những thao tác nguy hiểm như vậy thường là cách duy nhất để giữ cho máy bay không bị rơi khi hạ cánh. Tuy nhiên, không phải lúc nào mọi chuyện cũng diễn ra suôn sẻ.

Các kỹ thuật thô sơ này thường xuyên xuất hiện trong The Great Air Race: Glory, Tragedy, and the Dawn of American Aviation của John Lancaster. Tác giả kể lại những chi tiết quan trọng về cuộc chạy đua máy bay xuyên lục địa đầu tiên của Mỹ, sự kiện được xem như cột mốc khởi đầu cho ngành hàng không dân dụng hiện đại.

Năm 1919, Mỹ tổ chức cuộc thi bay khứ hồi từ Mineola, New York và đến San Francisco. Đây không chỉ đơn thuần là một bài đánh giá về sức bền hay tốc độ. “Mặc dù máy bay đã thể hiện tiềm năng của nó trong chiến tranh, nó vẫn chưa chứng minh được tính hữu ích trong thời bình”, Lancaster giải thích.

lich su hang khong anh 1

Một chiếc máy bay hạ cánh ngoài bãi đáp khi tham gia cuộc đua vào năm 1919. Ảnh: National Archives.

Cuộc đua xuyên lục địa được tạo ra để thuyết phục công chúng và chính phủ rằng máy bay là phương tiện vận chuyển đường dài ở Mỹ trong tương lai, cho cả hành khách và thư từ. Theo tiết lộ của quyển sách, cuộc đua kéo dài 3 tuần, kết thúc vào lúc hoàng hôn ngày Halloween với 9 người thiệt mạng, một con số gây sốc.

Việc tái hiện những chuyến bay kỳ lạ và kinh hoàng trong thời kỳ đầu là một kỳ công. Để làm được việc này, Lancaster đã dựa vào tư liệu thực tế từ giai đoạn sơ khai của lĩnh vực hàng không.

Advertisement

Tái hiện chân thật

Trong The Great Air Race: Glory, Tragedy, and the Dawn of American Aviation, John Lancaster giới thiệu với độc giả những cảnh tượng xa lạ với các chuyến bay ngày nay. Máy bay tham gia cuộc đua không có phanh hoặc dù. Các cụm từ mô tả kịch tính như “một màng lửa cuộn phía sau động cơ” xuất hiện trong hàng chục đoạn, xuyên suốt quyển sách.

Hạ cánh không phải là thử thách duy nhất. Việc cất cánh cũng có thể khó khăn, đặc biệt là khi tầm nhìn kém, gần núi. Các phi công trong cuộc đua thuê những người đàn ông trên mặt đất để giữ máy bay đứng yên cho đến lúc động cơ hoạt động hết công suất. Điều này cho phép máy bay vọt lên cao khi được thả ra.

lich su hang khong anh 2

Bìa sách The Great Air Race: Glory, Tragedy, and the Dawn of American Aviation. Ảnh: Liveright.

Tại Green River, một chiếc máy bay lao xuống vách đá vì không đủ lực nâng trước khi chạy ra khỏi đường băng. Những mối nguy hiểm bất ngờ khác luôn rình rập, từ băng giá trái mùa cho đến phá hoại.

Câu chuyện của Lancaster tập trung vào Billy Mitchell, phi công huyền thoại, người đã quảng bá và ủng hộ nhiệt thành cho ý tưởng cuộc thi. Ngoài ra, tác giả cũng dẫn dắt câu chuyện luân phiên theo nhóm đi về phía tây rồi chuyển hướng sang những người đang đi về phía đông từ Thái Bình Dương.

Cuối cùng, cuộc thi đã chứng minh rằng con người có thể bay xuyên quốc gia nhanh hơn tàu hỏa. Tuy nhiên, không ít người chỉ trích sự kiện này. Nghị sĩ Fiorello La Guardia gọi cuộc đua là “sự thể hiện thảm hại của những lợi ích nhỏ nhen”.

Advertisement

Một số phi công từng là anh hùng trong chiến tranh. Họ đã mạo hiểm không kém, kể cả đánh đổi tính mạng khi tham gia cuộc đua máy bay xuyên lục địa. Nhưng cuối cùng mục đích của nó có đáng để nhiều người liều mạng?

Vào năm 2019, Lancaster lái một chiếc máy bay hiện đại dọc theo lộ trình xuyên lục địa giống những người đàn ông trong câu chuyện của ông. Nhiều bãi đáp từ cuộc thi đã trở thành đất nông nghiệp hoặc trung tâm mua sắm.

Không phải ai cũng nghĩ rằng đó là một cuộc đua xứng đáng, nhưng Lancaster đã kể một câu chuyện sống động, đồng thời vinh danh những người “tử vì đạo”. Sự hy sinh của họ đã góp phần đặt nền móng cho ngành hàng không dân dụng hiện nay.

Nguồn: https://zingnews.vn/cuoc-dua-vi-dai-cua-nganh-hang-khong-post1381989.html

Advertisement
Continue Reading

Sách hay

Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII

Published

on

By

Ấn phẩm được thực hiện để giúp các cấp, các ngành cùng toàn thể cán bộ, đảng viên và Nhân dân học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Phần thứ nhất trong chuyên đề “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”.

Lễ thượng cờ trên đỉnh Fansipan. Ảnh: Việt Linh.

I. Những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước pháp quyền.

1. Sự hình thành và phát triển tư tưởng, quan điểm về nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại

Nhà nước pháp quyền được thể hiện trên hai phương diện: (1) Tư tưởng, lý thuyết, quan điểm; (2) Tổ chức quyền lực nhà nước với những mô hình đa dạng, phong phú và có lịch sử lâu đời. Các tư tưởng, lý thuyết, quan điểm và mô hình đó đều hướng vào một ý niệm chung về cách thức tổ chức đời sống chính trị – xã hội theo các yêu cầu bảo đảm dân chủ, công bằng, vì con người trên cơ sở pháp luật; xác lập nguyên tắc thượng tôn pháp luật trong mối quan hệ pháp luật – quyền lực nhà nước – quyền con người.

Advertisement

Thượng tôn pháp luật với tính chất là hạt nhân của tư tưởng pháp quyền ra đời sớm nhất ở nhà nước Hy Lạp cổ đại. Ở phương Đông, trước hết là trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, tư tưởng dùng pháp luật để trị quốc cũng đã hình thành, phát triển và có những thời điểm đã trở thành quốc sách cai trị của các vương triều. Tư tưởng La Mã cổ đại đã coi pháp luật là hạt nhân của Nhà nước. Vì vậy, ở đó đã sớm hình thành một nền pháp luật trên cơ sở những nền văn hóa phát triển của các đế chế La Mã và Byzantine, với những chế định pháp luật, hệ thống tố tụng phát triển làm công cụ quản lý xã hội và thúc đẩy vai trò của người dân trong đời sống chính trị.

Thời kỳ trung đại kéo dài hàng nghìn năm ở phương Đông và hàng trăm năm ở phương Tây, dưới ách thống trị của các chế độ chuyên chế vương quyền và thần quyền đầy bạo lực và cuồng tín tôn giáo đã làm cho những tư tưởng pháp quyền có được từ thời cổ đại bị đẩy lùi đáng kể, dẫn đến tình trạng kém phát triển kéo dài. Thời kỳ này, pháp quyền không chỉ là tư tưởng, quan điểm, học thuyết mà đã trở thành hiện thực chính trị – pháp lý với sự ra đời của bản Đại hiến chương về các quyền tự do năm 1215 của nước Anh, còn gọi là Hiến chương Magna Carta.

Trong thời kỳ cận đại, khi mà các yếu tố của chủ nghĩa tư bản đã hình thành và phát triển đòi hỏi một trật tự pháp lý mới phù hợp với thế giới quan của giai cấp tư sản mà theo Ph. Ăngghen là thế giới quan pháp lý. Vì thế, các giá trị tư tưởng pháp quyền ra đời từ thời kỳ cổ đại và trung đại được phục hưng và phát triển. Nhà nước được coi là khế ước của xã hội dựa trên nhu cầu bảo đảm và bảo vệ quyền con người; kiểm soát và cân bằng quyền lực để kiểm soát quyền lực. Các giá trị của pháp luật như công bằng, lẽ phải, gắn với các giá trị đạo đức đã từng bước được khẳng định trong các học thuyết chính trị – pháp lý của lịch sử tư tưởng cận đại.

Trong thời kỳ hiện đại, đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới thứ hai, vấn đề nhà nước pháp quyền tiếp tục được đặt ra trong những điều kiện mới, nhấn mạnh nhiều hơn đến bảo đảm, bảo vệ quyền con người, chủ nghĩa Hiến pháp và tất cả được đặt trong tổng thể của vấn đề quản trị tốt. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, sau đó là hai bản công ước quan trọng về quyền con người đã được Liên hợp quốc ban hành vào năm 1966 là: Công ước về các quyền dân sự và chính trị; Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã khẳng định giá trị phổ quát, ý nghĩa toàn cầu của quyền con người và trách nhiệm của các quốc gia trong việc thúc đẩy quyền con người.

Ngày nay, pháp quyền đã trở thành một trong những nguyên tắc phổ biến của quản trị nhà nước dân chủ dựa trên cơ sở thượng tôn hiến pháp và pháp luật, vì con người và bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Các tư tưởng, quan điểm về nhà nước pháp quyền được phổ biến, phát triển trong các cộng đồng quốc tế và ở các quốc gia.

Advertisement

2. Các nguyên tắc pháp quyền và đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền

Các nguyên tắc pháp quyền

Nguyên tắc pháp quyền theo cách tiếp cận tổng quát là nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo về tính tối thượng của pháp luật trong đời sống nhà nước và xã hội. Theo cách tiếp cận các yếu tố cấu thành pháp quyền, các nguyên tắc pháp quyền cơ bản trong quản lý nhà nước, tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước gồm: (1) Pháp luật phải rõ ràng, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận; được tôn trọng và thực hiện nghiêm minh, công bằng, bình đẳng, nhất quán; (2) Quyền lực nhà nước được tổ chức và vận hành trong giới hạn, bị kiểm soát, ràng buộc bởi hiến pháp và pháp luật; (3) Quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ.

Ngoài ra, các học thuyết, tư tưởng, quan điểm về nhà nước pháp quyền dưới ảnh hưởng của chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội cụ thể của từng giai đoạn lịch sử và từng quốc gia, khu vực còn đưa ra những yêu cầu, giá trị đặc trưng về nguyên tắc pháp quyền, như thượng tôn hiến pháp, dân chủ, chủ quyền nhân dân, bảo vệ công lý, phân quyền, độc lập của tòa án, sự tham gia của giá trị đạo đức… nhưng nhìn chung đều thống nhất và phù hợp với các nguyên tắc pháp quyền cơ bản nêu trên

Các đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền

Advertisement

Dưới đây là những đặc trưng đã được thừa nhận rộng rãi:

(1) Khẳng định chủ quyền của Nhân dân và vai trò chủ thể của Nhân dân đối với quyền lực nhà nước. Nhân dân là nguồn gốc của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước thông qua các hình thức dân chủ, là nguồn gốc chính danh và hợp pháp của quyền lực nhà nước.

(2) Đề cao vai trò của hiến pháp và pháp luật trong hoạt động quyền lực và trong đời sống xã hội, bảo đảm thượng tôn hiến pháp.

Nhà nước phải đặt mình dưới hiến pháp và pháp luật, chịu sự ràng buộc của hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp được coi là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của nền dân chủ và chế độ pháp quyền, thể hiện ý chí, lợi ích của Nhân dân, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tôn trọng, thực hiện, bảo vệ sự tôn nghiêm của hiến pháp được coi là quyền và trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi thiết chế nhà nước, tổ chức và công dân. Giám sát tính hợp hiến trong các hoạt động quyền lực nhà nước và bảo vệ sự tôn nghiêm của hiến pháp là để bảo đảm, bảo vệ sự toàn vẹn của chế độ nhà nước, chế độ chính trị và chế độ xã hội.

(3) Tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, các giá trị công bằng, công lý.

Advertisement

Yêu cầu về tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người được hình thành trong bước chuyển lịch sử từ “con người – thần dân” sang “con người – công dân” trong nhà nước với các nội dung như quyền được sống, được tự do mưu cầu hạnh phúc, được bình đẳng, có đủ cơ hội để phát triển mọi khả năng của mình, được pháp luật bảo đảm và bảo vệ. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, các công ước quốc tế của Liên hợp quốc năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị và về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đều hướng trách nhiệm của nhà nước vào việc tạo lập môi trường đầy đủ và thuận lợi nhất cho việc thực hiện trên thực tế quyền con người, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, ngăn chặn các hành vi xâm phạm hoặc hạn chế bất hợp pháp quyền con người, đề cao công bằng và bình đẳng, chống mọi biểu hiện phân biệt đối xử về quyền và sự bất công dựa trên chủng tộc, tôn giáo, giới tính. Quyền con người là giá trị gắn liền với pháp quyền, là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của nhà nước pháp quyền. Quyền con người được công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ theo hiến pháp và pháp luật. Mọi cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân đều phải tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người. Tư tưởng đề cao các giá trị công bằng, công lý, quyền con người thể hiện tập trung ở chỗ, công bằng, công lý, quyền con người là các giá trị cao cả của xã hội, gắn liền với pháp quyền; hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội phải dựa trên pháp luật; pháp luật phải công bằng, hợp lý và có mục tiêu trọng tâm là bảo vệ quyền con người; nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người; tư pháp có sứ mệnh, trọng trách bảo vệ công lý, quyền con người; tư tưởng công bằng, bảo vệ công lý, quyền con người là nền tảng của việc xây dựng tố tụng tư pháp.

(4) Hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, thống nhất, đồng bộ, minh bạch, dễ tiếp cận và được thực hiện nghiêm minh, nhất quán, hiệu quả.

Bảo đảm dân chủ, công bằng, nhân đạo, thống nhất là mục tiêu của điều chỉnh pháp luật, là yêu cầu đối với quá trình kiến tạo pháp luật, đồng thời là cơ sở để bảo vệ công lý và quyền con người trong nhà nước pháp quyền. Tính minh bạch đòi hỏi pháp luật phải dễ hiểu, được công bố rộng rãi, giúp định hướng hành vi phù hợp pháp luật, bảo đảm tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người khác, đồng thời quy trình lập pháp, thủ tục hành chính và thủ tục tư pháp phải công khai, rõ ràng. Yêu cầu về thủ tục công bằng và chặt chẽ là sự biểu hiện rõ nét nhất nội hàm của nhà nước pháp quyền, giúp người dân biết rõ quyền và nghĩa vụ của mình để có hành vi phù hợp với pháp luật. Tính dễ tiếp cận là đòi hỏi pháp luật thực sự hướng đến con người trong thực tế, liên quan đến các vấn đề lớn như giải thích pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, dịch vụ tư vấn pháp luật và luật sư, trợ giúp pháp lý cho các đối tượng chính sách xã hội. Tính đầy đủ, kịp thời là yêu cầu xuất phát từ việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân, không tạo ra những khoảng trống, bất cập trong hệ thống pháp luật có thể hạn chế hoặc phương hại đến việc thực hiện các lợi ích chính đáng hợp hiến, hợp pháp của người dân và xã hội. Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật phải được thực hiện nghiêm minh, nhất quán và hiệu quả để bảo đảm vai trò, hiệu lực của pháp luật và ý thức thượng tôn pháp luật.

(5) Phân quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước.

Bản chất của quyền lực nhà nước là thống nhất, được phân chia thành những nhánh quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Thống nhất là mặt bản chất của quyền lực nhà nước, phân quyền luôn được hiểu là cơ chế có tính chất tổ chức pháp lý để bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước.

Advertisement

Kinh nghiệm tổ chức quyền lực trong nhà nước pháp quyền tại các quốc gia trên thế giới cho thấy, cơ chế phân quyền, ngoài các đặc trưng phổ biến nêu trên, còn có nhiều biến thể mang dấu ấn và đặc thù quốc gia, dân tộc, văn hóa, chính trị, đặc điểm của hệ thống pháp luật.

(6) Độc lập xét xử của tòa án.

Độc lập xét xử của tòa án được hiểu ở hai mức độ: Sự độc lập giữa các tòa án bên trong hệ thống của mình; Sự độc lập của các thẩm phán khi xét xử. Độc lập xét xử của tòa án là điều kiện để thực hiện chức năng quan trọng của nhà nước – chức năng thực hiện pháp luật công bằng, nghiêm minh, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân, duy trì và bảo vệ công lý.

Tính phổ biến và tính đặc thù của nhà nước pháp quyền

Tính phổ biến của nhà nước pháp quyền trước hết thể hiện đây là giá trị, tinh hoa của nhân loại, được hình thành, phát triển trong lịch sử lâu dài, được kiểm nghiệm và thể nghiệm trong thực tiễn tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước. Tính phổ biến của nhà nước pháp quyền thể hiện qua việc được ghi nhận trong hiến pháp của các quốc gia trên thế giới: Trong số 125 hiến pháp của các nước đã có 96 hiến pháp ghi nhận về nhà nước pháp quyền.

Advertisement

Tính đặc thù xuất phát từ trình độ phát triển kinh tế – xã hội; đặc điểm văn hóa, trong đó có văn hóa chính trị và văn hóa pháp lý; truyền thống tổ chức đời sống các cộng đồng dân cư, tính chất và đặc điểm của hệ thống pháp luật…

Khi áp dụng mô hình nhà nước pháp quyền, các quốc gia đều căn cứ trước hết từ những giá trị chung trên cơ sở kết hợp với đặc thù quốc gia, dân tộc. Sự kết hợp đó không cản trở lẫn nhau, trong đó yếu tố không thể thiếu trong nhà nước pháp quyền là những yếu tố mang tính phổ biến, được đặt trong mối liên hệ thống nhất và hài hòa với các yếu tố có tính đặc thù quốc gia.

Nguồn: https://zingnews.vn/van-de-ly-luan-co-ban-ve-nha-nuoc-phap-quyen-post1382331.html

Advertisement
Continue Reading

Sách hay

Nhà soạn nhạc không biết chơi piano

Published

on

By

Hector Berlioz là một hiện tượng trong lịch sử âm nhạc, một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại. Từ nhỏ, ông đã thông thạo nhiều nhạc cụ nhưng lại không biết chơi đàn piano.

Hector Berlioz anh 1

Nhà soạn nhạc Hector Berlioz. Ảnh: nhaccodien.

Nhà soạn nhạc, nhạc trưởng, nhà phê bình âm nhạc người Pháp Hector Berlioz đã có những đóng góp đáng kể vào việc cải tổ opera và sự phát triển của nhạc cổ điển. Di sản âm nhạc ông để lại là những bản nhạc bất hủ như Symphonie fantastique (Giao hưởng Ảo tưởng) và Romeo và Juliette

Còn trong di sản văn chương, Hồi ký của Hector Berlioz (xuất bản năm 1870) được biết đến là cuốn sách được đón đọc và chuyển ngữ nhiều nhất. Cuốn sách là bản miêu tả vị trí quan trọng của nhà soạn nhạc này vào thuở bình minh trào lưu lãng mạn.

Bản chúc thư cá nhân của nhà soạn nhạc bị lãng quên

Ở Việt Nam, dự án chuyển ngữ và xuất bản cuốn sách này bắt đầu từ năm 2013. Dịch giả Lê Ngọc Anh dịch 51 chương đầu cùng 16 lá thư từ nguyên tác tiếng Pháp. Dịch giả Nguyễn Tuấn Anh dịch phần còn lại từ bản tiếng Anh. Dịch giả Cao Văn Bình là người hiệu đính. Còn nhà sưu tầm âm nhạc Nguyễn Ngọc Chi (tác giả cuốn Beethoven: Con người và nghệ sĩ) là người biên tập bản tiếng Việt.

Advertisement

Trong buổi hòa nhạc và giao lưu nhân dịp ra mắt cuốn hồi ký (tối 4/12 tại Trung tâm nghệ thuật đương đại VCCA, Hà Nội), nhà sưu tầm Nguyễn Ngọc Chi đánh giá cuốn hồi ký giống một bản chúc thư cá nhân vì ở đó, Hector Berlioz đã tự minh oan cho mình và để lại cho đời những tài sản có giá trị.

Đồng hành cùng cả nhóm thực hiện ấn phẩm hơn 600 trang với 59 chương này, ông Chi như được hòa mình vào cuộc đời Hector Berlioz và nhận thấy không có nhà soạn nhạc nào lại gây nhiều tranh cãi như Berlioz.

“Bị bỏ quên trong nửa đầu thế kỷ 20, âm nhạc của Berlioz đã được hồi sinh từ những năm 1960-1970. Ông đã tạo ra cuộc cách mạng âm thanh của dàn nhạc qua cách phối khí, khởi xướng ý tưởng theo phong cách lãng mạn: Kể chuyện bằng âm nhạc”, dịch giả Nguyễn Ngọc Chi nói.

Hector Berlioz anh 2

Sách Hồi ký của Hector Berlioz. Ảnh: Thu Huệ.

Người kể chuyện bằng âm nhạc

Nhận xét về cuốn hồi ký này, nhà sưu tầm âm nhạc Nguyễn Ngọc Chi cho rằng Hector Berlioz là người kể chuyện có năng khiếu, trang viết của ông có sự đan xen nhiều thể loại văn học khác nhau, các lá thư và tường thuật tiểu sử được tác giả xếp cạnh các bài tiểu luận phê bình, các bài báo. Văn phong ông tự do, linh hoạt, bút pháp trôi chảy, dí dỏm nhưng lại châm biếm nhẹ nhàng, sâu cay.

Bên cạnh đó, Berlioz còn là một người “cô đơn vĩ đại, cô đơn ngạo nghễ trên đỉnh cao của sự nghiệp và cô đơn giằng xé dưới vực thẳm của tình yêu”. Ông luôn bị cô lập trong bối cảnh âm nhạc Pháp và vẻ đẹp kỳ dị trong tác phẩm của ông đã khơi dậy sự hoài nghi đến ghen ghét và đố kị tại quê hương mình.

Advertisement

Do đó, trong phần Lời nói đầu, Hector Berlioz giãi bày: “Người ta đã xuất bản và thỉnh thoảng vẫn tái bản tiểu sử của tôi với nhiều điều sai lạc và không chính xác đến mức rốt cuộc tôi nảy sinh ý tưởng tự mình viết ra những chuyện trong cuộc đời gian lao và sóng gió của mình”.

Ở đó, các chương và sự kiện đều được ông lồng ghép khéo léo theo trình tự thời gian. Đặc biệt, sự kết hợp giữa phần hồi ký và những lá thư đã tạo nên một bức tranh đa màu sắc minh họa cho cuộc đời của Berlioz.

Qua đó, bạn đọc như được sống trong thời đại của Berlioz và tham dự các hoạt động âm nhạc sôi nổi, cùng có những phút giây lắng đọng để chia sẻ những suy nghĩ, cảm xúc, niềm vui và nỗi buồn của nhà soạn nhạc nổi tiếng này.

Là cây bút và cũng là độc giả trung thành của dòng sách âm nhạc, nhà văn Hiền Trang khi đọc cuốn hồi ký này đã đi đến kết luận rằng nếu Hector Berlioz không sáng tác âm nhạc thì hẳn ông sẽ là một văn sĩ bậc thầy.

“Ta đôi khi ngỡ mình đang đọc một tiểu thuyết hơn là một tự truyện. Berlioz như sở hữu một thứ giả kim thuật, biến mọi ngôn ngữ qua tay ông đều hóa thành vàng ròng, hoặc giả ông là một kiến trúc sư tái dựng lại đời mình trong tòa nhà ngôn từ lộng lẫy như một cung điện Roccoco hoa mỹ, phù phiếm và ngông cuồng”, nhà văn Hiền Trang viết.

Advertisement

Nói Hồi ký của Hector Berlioz là một tổng tập phê bình âm nhạc cũng không sai bởi trong sách, ta bắt gặp những nhân vật tầm cỡ mà tác giả đã tự mình vẽ nên chân dung họ như Liszt, Wagner, Balzac, Weber, Rossini…

Ở phần cuối, ông dẫn bạn đọc tìm về cuộc gặp gỡ với những người chốn cũ. Nơi ấy có cả Estelle, người yêu thời thơ ấu của ông, người mà ông đã tìm thấy sau 49 năm vắng bóng. Những xúc cảm của mối tình đơn phương thôi thúc ông đặt bút viết những trang thư cuối đời mình. Bởi thế, có thể coi cuốn sách không chỉ là bản chúc thư sự nghiệp mà còn là bản chúc thư về tình yêu của Berlioz.

Theo ông Cao văn Bình, người hiệu đính cuốn sách, đây là một tác phẩm không thể thiếu với những ai quan tâm và yêu mến Berlioz hay đang nghiên cứu về âm nhạc của ông. Cuốn sách giúp độc giả có cái nhìn sâu sắc và tổng quát hơn về một Hector Berlioz tài năng nhưng lại cô đơn và nổi tiếng với biệt danh “nhà soạn nhạc không biết chơi piano”.

Nguồn: https://zingnews.vn/nha-soan-nhac-khong-biet-choi-piano-post1382032.html

Advertisement
Continue Reading

Xu hướng