Connect with us

Sách hay

Chiến tranh rồi sẽ qua thôi

Được phát hành

,

Những khu vườn ở lữ quán Chechnya bây giờ thế nào? Hải đường đã trổ bông? Khóm phúc bồn tử đã thu hoạch hết hay còn chờ ít hôm? Cúc đã vào mùa? Và lũ sâu bướm đã kịp kết kén?

Chiến tranh rồi sẽ qua thôi - Ảnh 1.

Từ tháng ba, những tấm khăn trải bàn trắng trong phòng ăn đã được thay bằng khăn carô xanh hoặc đỏ tùy theo tuần. Diệu nói rằng mùa đông đã hết từ lâu, đừng giữ lại sắc trắng ảm đạm nọ làm gì.

Mấy ngày qua nàng vui lạ, không hiểu chuyện gì mà lâu lâu gò má lại ửng đỏ, nàng cười một mình. Nhân viên bảo nàng đang yêu. “Có khi năm nay cổ lấy chồng cũng nên”, Vú Năm nói. Từng cho nàng uống sữa từ ngực mình nên đôi khi bà tự cho cái quyền là người hiểu nàng nhất trên đời. Và bà đúng. 

Diệu yêu, ở tuổi ba mươi hai tình yêu đâu đáng ngại, nhất là nàng đã yêu một người mười sáu năm, nghĩa là đã bỏ nửa thời gian hiện diện trên cõi đời để hướng về một con người. Khi mang tình yêu như thế, người ta dễ dàng quên đi nhiều thứ, như chuyện đã hơn mười năm họ không gặp nhau, như chuyện nàng đã quên cảm giác được nắm bàn tay của anh, hay cách anh xấu hổ, cả cảm giác môi anh nữa, nàng cũng không còn đọng lại chút gì ngoài nụ hôn đó mang vị phúc bồn tử. 

Nàng nhớ, và nhớ rất rõ đó là mùa hè năm mười ba tuổi dưới chân bức tượng Quang Trung đặt ở sau trường, anh đặt hương phúc bồn tử lên môi nàng rồi chạy đi mất. 

Nếu thời gian chưa trôi quá nhanh chắc nàng còn nhớ khi ấy cậu nhóc dạn dĩ phải nhón chân để hôn nàng. Con gái thường lớn trước. Ba năm sau thì thằng nhỏ cao hơn nàng cái đầu. Nhưng đó là chuyện của ba năm sau, còn lúc nhận được nụ hôn nàng chỉ thấy ấm ức, bực bội. 

Advertisement

Cô bé về méc mẹ, mẹ đi nói chuyện với ba thằng nhóc, một trận đòn diễn ra và trong ba năm hai đứa không đứng gần nhau lần nào nữa. 

Nụ hôn của những đứa trẻ không tạo ra tình yêu nhưng nàng vẫn nhớ. Thỉnh thoảng nàng nhắc lại, khi hai người bên nhau. 

“Anh bị đánh có đau không?”.

“Không nhớ nữa, chuyện hồi nhỏ xíu”.

“Em xin lỗi”.

Advertisement

“Chuyện hồi nhỏ xíu mà!”, anh lặp lại.

Hai tuần sau anh nhập ngũ, kế đến là rất nhiều năm họ không gặp nhau. 

“Em sợ”, nàng nép vào ngực anh thủ thỉ. 

“Sợ gì?”.

“Không biết… đủ thứ”.

Advertisement

“Như là cái gì mới được”.

Nàng ngước lên, mắt ươn ướt nhìn anh. “Hứa nhe. Anh sẽ không tham gia mấy vụ ẩu đả nhe”.

“Anh đi nghĩa vụ mà, làm gì có chuyện…”.

Nàng ngắt lời. “Tai bay vạ gió, cả đám con trai ở với nhau thế nào cũng sinh chuyện, rồi tai nạn trong lúc tập luyện, rồi chiến tranh, lỡ người ta cử anh ra chiến trường thì sao?”.

Anh xoa đầu nàng: “Sẽ không có chuyện đó đâu”.

Advertisement

“Nhưng ngộ nhỡ…”.

“Không. Hòa bình rồi, không chiến tranh, sẽ không có chiến tranh…”.

Anh cứ lặp đi lặp lại như hát ru, lời ru không có giấc mơ cũng không có bạo lực. 

Khác xa với những gì nàng đang thấy trên màn hình, thành phố sau mưa bom tan hoang, có tiếng dương cầm vang giữa lòng đổ nát… “Chiến tranh”, nàng thầm thì và rơi nước mắt, sực nhớ chuyện gì lại nhìn đồng hồ treo tường. Vú già liếc mắt, nói: “Còn hai tiếng nữa xe mới tới”. 

Nàng cười một mình, chợt đứng bật dậy, chạy vào bếp xem nồi bò kho đang liu riu. Diệu nhớ anh thích món này, nhưng rồi lại lo qua bao nhiêu năm, không biết khẩu vị anh có thay đổi không? Vú phát bực trước vẻ bồn chồn của Diệu, rồi tự thấy xấu hổ vì tính cả ghen. 

Advertisement

“Con mới làm tóc đó hả?”, vú hỏi. Diệu chạm lên mái tóc uốn bồng bềnh của mình, mở điện thoại ra ngắm nghía khuôn mặt, xoay vòng khoe bộ váy hoa xòe với vú để nhận lại cái tặc lưỡi của bà: “Con có phải mới mười bảy đâu”.

Nàng ngồi xuống ghế nhìn ra khu vườn vắng. Những bông hoa gục gặc ngủ trưa. Bình thường vào mùa này trong năm, khu vườn được những khách du lịch lấp đầy, buổi tiệc trà với bánh ngọt Tây phương lẫn với những bánh gai, bánh ít Việt Nam. 

Diệu thường thích thú ngắm những mệnh phụ Tây dương đưa bánh rán bên tai, lúc lắc để nghe tiếng nhân bánh như chiếc chuông nhỏ rung rinh. 

Trong bộ áo dài thêu hoa sặc sỡ, nàng kiên nhẫn giải thích sự khác biệt giữa văn hóa Việt Nam và Trung Hoa, sự khác nhau giữa sườn xám và áo dài, rằng chả giò là đặc sản của Việt Nam, dẫu du khách từng ăn chúng ở Philippines hay Chinatown nào đó. 

Nàng sẽ kể chuyện cười cho họ, vận dụng hết vốn liếng học được từ sách của Gogol để nói chuyện. Tiếng Nga và tiếng Ba Lan của nàng ổn, dù thi thoảng quên, vú Năm bảo rằng đó là di chứng hậu covid. 

Advertisement

Vú Năm đổ mọi thứ cho covid. Bà dạo này cũng hay quên, không nhớ đã lấy bánh khỏi lò hay chưa, lẫn lộn giữa thứ tư và thứ năm, cứ thấp thỏm chờ xe chở rau tới. Hay chứng đau thắt lưng, tai ù, giờ bà phải ngồi sát tivi khi xem tin tức, không chỉ để nghe cho rõ mà mắt cũng đã kèm nhem, không phân biệt được cờ Ukraine hay cờ Nga phất phơ trên phố. 

“Tổ cha, từ nhỏ tới lớn, tao đi đâu cũng gặp chiến tranh” – bà lèm bèm. 

“Nhưng vú ơi, đây là Ba Lan mà, ở đây hòa bình”, Diệu phì cười trước sự lẫn đáng yêu của vú. 

“Thế à… Vậy nhập nhiều lương thực vào, rau củ, bánh mì, trứng, sữa, rượu nữa, khách sạn Chechnya sẽ tiếp đón những người lính. Ờ… bà con tị nạn chiến tranh nữa”.

Vú xổ một tràng, không để nàng kịp trả lời, vội vã đứng dậy, bắt đầu la ó chỉ đạo nhân viên trong lữ quán. Nàng nhớ nhiều năm trước cũng đã từng thấy cảnh này, vú Năm lúc đó hãy còn trẻ và nhanh nhẹn, cùng mẹ nàng cũng như các nhân viên chuẩn bị nấu bánh tét để quyên tiền ủng hộ người nhập cư. 

Advertisement

Thậm chí trong một thời gian dài, có một quân nhân từng tham gia chiến sự ở Chechnya, trở thành bếp chính của lữ quán. Còn cha nàng, dạo đó hay ngồi ở quán Sừng Hươu dưới phố, cùng các ông các chú bàn tán tình hình thời sự thế giới. 

Sau một lần quá chén, ông quyết định đổi tên lữ quán Thảo Nguyên thành lữ quán Chechnya như cách bày tỏ sự ngưỡng mộ với người đầu bếp đã nấu cho ông những món không thể quên được. 

Vậy là giữa Ba Lan mọc lên lữ quán mang cái tên dễ gây hiểu lầm, khiến sau này Diệu phải giải thích đi giải thích lại, đây là lữ quán do những người gốc Việt sáng lập và điều hành. Dù vậy, cô vẫn quyết không đổi tên như giữ lại kỷ niệm với cha mẹ. Sau khi họ gặp tai nạn leo núi, Diệu đơn độc trở thành bà chủ lữ quán nơi thôn trang hẻo lánh này. 

Những buổi tiệc vườn cuối tuần làm không khí yên tĩnh ở lữ quán Chechnya rung lên, rũ bỏ cái ủ ê thường lệ. Hai năm dịch bệnh khiến tình hình kinh doanh bi đát. Cô bắt đầu mượn nợ ngân hàng để không phải đuổi nhân viên nào. Khu vườn được cơi nới, họ trồng đủ thứ hoa cỏ rau củ, nuôi ong, nuôi gà lấy trứng. Tháng tới, họ sẽ nuôi thêm bò sữa. 

Diệu hình dung cảnh mỗi sáng sẽ nấu sữa bò mới vắt, chuẩn bị bánh mì mới nướng và mứt nàng mới làm, đặt lên khay đem tận phòng cho anh. Nàng tưởng tượng khuôn mặt hạnh phúc của anh, nụ cười hiền, lúc nào cũng hiền. 

Advertisement

Ngoài trời, từng cụm mây mỏng trôi thành đàn tựa hồ những con cừu lông trắng trên thảo nguyên xanh. Cô tự hỏi, con cừu nào trong đàn cừu sẽ mang theo mình mưa dông sấm chớp? 

Tối qua trên đài dự báo sắp tới sẽ có mưa, thậm chí dông bão, làm nàng nhớ đến chương trình thời tiết ở Việt Nam, lúc nào biên tập viên cũng bảo sẽ có mưa rào và dông vài nơi, nhưng nơi nào thì không rõ, không rào chỗ này thì rào chỗ khác…

Trong khi thả hồn theo thời tiết và những đám mây, chiếc xe hơi nàng mong mỏi từ từ chạy vào sân rồi dừng lại trước cửa chính lữ quán. Bác tài xế trung tuổi đô con người Ba Lan vội bước xuống, mở cốp, xách ra một chiếc xe lăn điện, đặt cạnh xe. 

Bác kéo cửa, nửa người khom vào trong xe, hai cánh tay lực lưỡng bế một thanh niên da vàng gầy gầy ra ngoài. Anh chàng ngoan ngoãn vòng tay qua cổ ông, hai chân đung đưa trên thinh không một lát thì êm ắng xếp trên chân gác của xe lăn. 

Từ cửa sổ, Diệu bụm miệng cố ngăn mình kêu lên hạnh phúc. Hai chân cuống cuồng chạy xuống vườn, ôm chầm lấy người thanh niên ngồi trên xe lăn, gục mặt vào ngực anh, nức nở. 

Advertisement

“Nín nào”, anh nói, vuốt tóc cô. 

Diệu ủ khuôn mặt anh bằng hai tay, ngắm nghía. Anh gầy hơn trên ảnh, già hơn, tóc đã có nhiều sợi bạc. 

“Mình vào trong đi”, anh nói, gạt cần điều khiển cho xe lăn tiến về trước, nàng phải chạy đuổi theo. 

Tuần trước, nàng cho sửa lại một phần bậc thang thành dốc thoải để đón anh. Chiếc xe lăn bần thần dừng trước con dốc. Nàng đứng sau anh, kiên nhẫn đẩy chiếc xe tựa hồ Sisyphus lăn hòn đá lên dốc. 

Luôn là vậy, lúc nào Diệu cũng ở sau anh. Chiếc xe lao nhanh xuống con dốc. Diệu sợ hãi ôm chặt eo anh, chiếc sơmi cộc tay, mồ hôi ướt đẫm lưng. 

Advertisement

Xe mất phanh và anh gần như hét lên: Anh yêu em. Lời anh cuộn vào gió và nàng cũng hét lớn: Em yêu anh, trong khi chiếc xe đứt thắng vẫn lao xuống trên con dốc về nhà, đến khi hai người chỉ còn là một bóng hình của gió chẳng thấy gì ngoài sắc trắng tà áo dài của Diệu phất phơ…

Đoạn hồi ức cũ lướt qua tâm trí, bất giác, anh mỉm cười, thì thầm: Anh yêu em. “Hả anh?”, Diệu hỏi lại. “Không có gì”, anh đáp. Chiếc xe lăn từ từ khuất vào trong nhà, để lại nỗi băn khoăn của Diệu ngoài cửa. 

Anh đi đường có mệt không? Anh đói bụng chưa? Anh có bị thương ở đâu không?… Diệu tung vào anh một tràng câu hỏi như hoa giấy chào mừng. 

Anh định kể cho nàng nghe hành trình tị nạn của mình, nhưng lại thôi. Diệu sẽ lo, như bao lần, như khi ở Việt Nam, như cái lần anh chuẩn bị nhập ngũ. “Anh không sao cả… À, em có một khu vườn xinh xắn”. Anh đánh trống lảng, còn nàng thì mắc bẫy. Nàng say sưa giới thiệu hoa cỏ trong vườn, về những buổi tiệc, họ sẽ tổ chức một tiệc quyên góp vào tuần tới, cô hỏi anh có muốn phát biểu…  

“Chiến tranh. Phải nói gì về chiến tranh?”. Anh trầm tư, phóng tầm mắt về phía những khóm phúc bồn tử. À, phúc bồn tử. Anh đã quên nụ hôn đầu tiên anh đặt lên môi nàng có vị phúc bồn tử. Những trái phúc bồn tử đựng trong hộp bánh thiếc cha anh đem từ Nga về. 

Advertisement

Dạo ấy, cha vẫn quen gọi đất nước đó là Liên Xô. Nga và Liên Xô. Rất nhiều năm sau đó, anh đã đến nơi từng là Liên Xô để học nghệ thuật, để tìm cha, người cha kể từ khi tặng anh hộp phúc bồn tử thì không lần nào trở về nữa. 

Trước khi đến lữ quán Chechnya anh đã nhiều lần thấy khu vườn của Diệu qua ảnh. Anh thích những bông hoa ở đây, chúng chẳng bao giờ nở rực rỡ cả, anh yêu cái vẻ đẹp đại trà của chúng, cứ giản dị như những thôn nữ chưa bao giờ lên phố. 

“Chiến tranh… – Anh thì thầm – Cái ngày anh nghe âm vang một cuộc chiến, anh đã trượt chân ngã khỏi giàn giáo công trình. Anh đã ở đó sáu tháng để phục chế bức tranh trên mái vòm nhà thờ và chỉ còn một chút nữa thôi vậy mà đành dang dở. Chỉ còn một chút nữa thôi anh có thể ngồi tàu để đến gặp em… Và kết hôn… Thay vào đó là tám năm, tám năm anh gắn với chiếc xe lăn này, như số phận những kẻ tầm thường chúng mình phải gắn với lịch sử”.

“Giờ anh có em”, Diệu nói, ngồi xuống sàn, vòng tay ôm lấy đôi chân bất lực của anh. Đầu nàng tựa vào gối anh và anh cứ để yên như thế, chăm chú nhìn vào những chỗ tóc thưa của nàng, không hay rằng, vừa nhỏ nước mắt lên đấy. 

“Sau đó là những ngày trong bệnh viện ở Yalta. Đêm đêm, anh để linh hồn tự do mình lang thang trên phố, để nó lết qua nơi Chekhov lìa trần hay hình dung cái vẻ u buồn của người đàn bà và con chó nhỏ. Linh hồn anh cũng giống con chó nhỏ, con chó tha hương và giờ đây bên bờ biển Đen anh thấy mình lạc lối. 

Advertisement

Tuyệt vọng. Nhiều tháng sau anh đoàn tụ gia đình chị gái ở Kiev, và giờ đây anh chạy nạn đến tìm em ở xứ Ba Lan. Anh cảm tưởng mình đi đâu không thoát khỏi thân phận là những con người nhỏ bé bị lịch sử truy đuổi”.

“Chiến tranh… Chiến tranh rồi sẽ qua thôi. Anh nhìn kìa, chẳng phải hoa trong vườn lại nở đấy. Nếu không có cuộc chiến này, có lẽ cả đời anh sẽ trốn chạy em. Anh thật ngốc, mất đôi chân thì anh còn đôi tay, còn khối óc. Ta đã yêu nhau nửa cuộc đời”.

“Mình nói chuyện cứ như hai nhân vật trong tiểu thuyết cũ”. Anh cười. 

“Ừ… thì cũ cũng có sao. Mình là những người cũ, yêu và sống giống ông bà cha mẹ mình. Sẽ sinh con, những đứa con sẽ lớn…”.

“Rồi chúng cũng sẽ chịu đựng chiến tranh…”.

Advertisement

“Thì có sao”. Nàng đẩy cửa sổ. Cơn gió lạnh ùa vào. Có thể nghe ra trong không khí hơi ẩm. Sắp mưa rồi chăng? 

Anh xoa xoa đầu gối. Sắp mưa rồi! Anh rõ. Từ hồi bị liệt, không hiểu sao đầu gối anh cứ như phong vũ biểu, chỉ cần trời sắp chuyển mưa lại nhói lên. 

Diệu đặt tay lên vai anh, im lặng. Anh nhớ một đoạn trong Con đường đau khổ của Alexey Tolstoy nhưng nhất thời không thể hình dung được trọn vẹn. Anh không biết những ngày sắp tới ở lữ quán sẽ thế nào. Có lẽ anh sẽ vẽ lại. Có thể họ sẽ kết hôn và có con như nàng nói. 

Bàn tay nàng đặt lên vai anh nhẹ như bông, cái sức nặng của tương lai xa xôi nàng đang đặt ở đâu, anh không rõ. Nhẫn nại và đầy hy vọng, Diệu kiên định nhìn vào những đám mây dông. 

Dưới sân, vú Năm đang chỉ huy nhân viên thu dọn quần áo, chăn drap đang oằn mình trước gió như tơ liễu. Bà như vị tướng trên mặt trận mà địch thủ là cuộc đời này. Một cuộc đời tầm thường vẫn diễn ra, trôi đi, như thể nó không hay gì khác ngoài chính bản thân nó. 

Advertisement

Những cuộc đời bình thường vẫn tiếp tục bình thường giữa hồi thế giới đang có chiến tranh. À, chiến tranh và có cả hòa bình nữa. Chiến tranh và hòa bình, tội ác và hình phạt và tình yêu… và tình yêu!

Nguồn: https://tuoitre.vn/chien-tranh-roi-se-qua-thoi-20220427161612802.htm

Sách hay

Lịch sử chưa kể về ramen

Được phát hành

,

Bởi

Cuốn sách là một khảo cứu thú vị về lịch sử món mì ramen ở Nhật Bản thông qua lăng kính phân tích và mối liên hệ chặt chẽ của món ăn với địa lý, chính trị, quan hệ đối ngoại, khoa học dinh dưỡng, truyền thông và bản sắc dân tộc.

Một bản ghi chép còn bảo toàn được từ tháng 7 năm 1665 cho thấy Zhu Shun Shui đã chỉ cho Mitsukuni (cận vệ của Tokugawa Mitsukuni) cách chế biến một món mì nước kiểu người Hoa.

Mì ramen được giới thiệu lần đầu đến Nhật Bản vào năm 1665, năm 1884 hay năm 1910? Tiền thân của nó liệu có phải là món ăn được gọi với cái tên ūshin udon, Nankin soba hay Shina soba? Tùy thuộc vào câu trả lời mà chúng ta sẽ nghiệm suy về từng món ăn khác nhau với một giai thoại nguồn cội riêng, cùng một quỹ đạo lịch sử đặc thù mang đến các góc nhìn cụ thể về đất nước Nhật Bản. […]

Mi ra men anh 1

Bìa cuốn sách

Giai thoại đầu tiên, và cũng sống động nhất, đã xuất hiện ban đầu trong công trình nghiên cứu mang tính tiên phong về lịch sử của mì ramen (được xuất bản năm 1987) của nhà sử học về ẩm thực Kosuge Keiko, trong đó ấn định thời điểm món ăn này được trình làng là vào những năm 1660, đồng thời cho rằng Tokugawa Mitsukuni (tên khác là Mito Kōmon, 1628 − 1701) – vị lãnh chúa huyền thoại thời phong kiến (daimyō) nắm hàng thứ hai sau Mạc chủ (shōgun) (1) – là người đầu tiên thưởng thức món mì ramen ở Nhật Bản.

Là nhân vật lịch sử nổi tiếng ở Nhật và từng được một bộ phim truyền hình dài tập mô tả như một vị hảo hán, ở gần cuối mỗi tập phim, Tokugawa Mitsukuni thường tiết lộ danh tính của mình cho những kẻ xấu bằng cách để lộ ra hình ảnh chiếc inrō (hộp đựng trang trí sơn mài kích cỡ nhỏ) có khắc gia huy của dòng họ ông, cho thấy ông là vị daimyō trong vùng.

Advertisement

Câu thoại “Ngươi không nhận ra gia huy này sao?” (Kono mondokoro ga me ni hairanuka?) được Kaku-san (cận vệ của Mitsukuni) nhắc lại trong đoạn cao trào của mỗi tập phim nhằm khôi phục lại trật tự và cấp bậc, và khiến những kẻ bất lương ngang ngược phải lập tức cầu xin sự khoan hồng.

Một bản ghi chép còn bảo toàn được từ tháng 7 năm 1665 về các hoạt động của Mitsukuni cho thấy rằng Zhu Shun Shui – một người Trung Quốc tị nạn khỏi chính quyền nhà Minh sống ở Mito vào thời điểm đó (2) – đã chỉ cho Mitsukuni cách chế biến một món mì nước kiểu người Hoa nhiều khả năng chính là món mì ramen ngày nay (3).

Mặc dù Mitsukuni được biết đến nhiều nhất trong lịch sử Nhật Bản khi đã khởi xướng kế hoạch kỳ vĩ biên soạn nên Dai Nihon Shi – hay Lịch sử vĩ đại của Nhật Bản – một cuốn sách mất gần 250 năm và mười thế hệ để hoàn thành, ông cũng là một người ca tụng triết học Lý học (Neo- Confucianism) (4) và đã tìm đến Trung Quốc để được soi đường chỉ lối cách trị nước.

Ông do vậy đã tham vấn và kết giao với Zhu, người trước đó từng nắm chức thượng quan ở Trung Quốc dưới thời nhà Minh nhưng quyết định đến Nhật Bản vào năm 1665 do phải lưu vong khỏi chế độ cai trị của Mãn Châu.

Mi ra men anh 2

Lãnh chúa Tokugawa Mitsukuni. Nguồn: wikipedia.

Zhu trở thành một trong những cố vấn quan trọng nhất của Mitsukuni, và làm việc trong chính quyền cai trị của ông này trong 17 năm tiếp theo cho đến khi qua đời vào năm 1682. Vai trò quan trọng của Zhu trong đội ngũ cố vấn của vị daimyō đã giúp ông có được một cuộc sống thoải mái, cùng một bia mộ nổi bật còn tồn tại cho đến ngày nay trong khu nghĩa trang của gia tộc Tokugawa nhánh Mito (5).

Advertisement

Trong thời gian hầu cận daimyō, Zhu biết được rằng Mitsukuni là một người rất thích ăn udon – loại mì nước hiện vẫn phổ biến ở Nhật Bản – với sợi mì làm từ bột mì sử dụng với nước dùng dashi (làm từ cá ngừ khô và tảo bẹ).

Vào thế kỷ 17, người Nhật thường ăn mì udon với quả mơ ngâm (umeboshi) và vừng. Thấy vậy, Zhu đã gợi ý về năm thành phần thường được sử dụng trong món mì nước Trung Quốc để vị daimyō vùng Mito có thể thêm vào nhằm cải thiện hương vị của món ăn. Năm thành phần (ūshin) mà ông chủ ý đề xuất gồm: rễ kiệu (rakkyō), tỏi, hẹ tỏi (nira), hành lá và gừng (6).

Từ những dữ kiện này, nhà sử học về ẩm thực Kosuge phỏng đoán rằng Tokugawa Mitsukuni chính là cha đẻ của tập tục ăn mì nước Trung Quốc ở Nhật Bản. Sau này Bảo tàng Ramen ở Shin-Yokohama đã phổ biến rộng rãi câu chuyện trên, và kết quả là vào năm 2003, Tập đoàn Thực phẩm Nissin của Nhật Bản nhà sản xuất mì ramen ăn liền lớn nhất thế giới – trong một thời gian ngắn đã cho ra – mắt nhãn hiệu mì ăn liền U-shin có in hình gia huy của gia tộc Tokugawa, được điểm tô bằng giai thoại về Mitsukuni và Zhu.

Mặc dù khó xác định liệu món ăn từng được ưa chuộng bởi vị lãnh chúa nổi tiếng của vùng Mito kia tương thích ra sao với món ăn ngày nay được gọi với cái tên “mì ramen”, cần ghi nhớ rằng câu chuyện được lưu truyền rộng rãi ở trên về sự xuất hiện tại Nhật Bản của món mì nước kiểu người Hoa đã thiết lập nên một giai thoại nguồn cội trong giai đoạn đầu của kỷ nguyên hiện đại – một thời đại được đánh dấu bằng việc người Nhật có xu hướng học hỏi người Trung Quốc.

Mặc dù câu chuyện trên được coi như một phiên bản bao trùm đầy lôi cuốn về nguồn gốc của món ăn, với đầy đủ các nhân vật ngoài đời thực cùng những tương tác tưởng tượng dựa trên các cách diễn giải không thành kiến đối với những ghi chép lịch sử, nó có ý nghĩa quan trọng trong việc nhấn mạnh sự ngưỡng mộ của người Nhật đối với một nước Trung Quốc thời tiền Thanh.

Advertisement

—————-

1. Một tước hiệu đặc biệt dành cho những vị tướng quân có chức vụ cao nhất trong thời kỳ phong kiến của Nhật Bản. (ND)

2. Khi triều đại nhà Thanh củng cố quyền lực của mình lên miền nam Trung Quốc, một số học giả Nho giáo làm việc cho chính quyền nhà Minh đã trốn sang Đại Hàn và Nhật Bản để làm cố vấn.

3. Kosuge Keiko, Nippon Rāmen Monogatari: Chūka soba wa itsu doko de umareta ka (Tokyo: Shinshindō, 1987), tr.45-59.

4. Tư tưởng triết lý Trung Quốc chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Lý học có thể được xem là nỗ lực hợp lý hóa cũng như thế tục hóa Nho giáo bằng cách loại bỏ các yếu tố mê tín, huyền bí của Đạo giáo và Phật giáo, vốn từng được đưa vào Nho giáo trong và sau đời nhà Hán. (ND)

Advertisement

5. Sĩ quan hải quân người Mỹ. (ND)

6. Cho đến năm 1854, khi Hiệp ước Perry đầu tiên có hiệu lực, triều đại Tokugawa ở Nhật Bản đã duy trì chính sách tránh tiếp xúc với các cường quốc phương Tây (ngoài Hà Lan) trong hơn hai thế kỷ để hạn chế tình trạng hỗn loạn do những nỗ lực cải đạo của các nhà truyền giáo Cơ đốc ở Nhật Bản. Riêng Hà Lan đã đồng ý giới hạn mối quan hệ giữa hai nước chỉ trong lĩnh vực thương mại, kết quả là Hà Lan trở thành quốc gia châu Âu duy nhất duy trì quan hệ thương mại và ngoại giao với Nhật Bản từ năm 1639 đến năm 1854.

Nguồn: https://znews.vn/giai-thoai-ve-su-xuat-hien-cua-mi-ramen-mon-an-quoc-dan-nhat-ban-post1455469.html

Advertisement
Tiếp tục đọc

Sách hay

Nóng giận là bản năng tĩnh lặng là bản lĩnh

Được phát hành

,

Bởi

Trong cuốn sách, tác giả Tống Mặc đã trò chuyện với độc giả về cách kiềm chế cơn nóng giận, học cách bao dung, kiểm soát cảm xúc của mình trước những tác động của cuộc sống.

Ai chẳng có lúc giận dữ, nóng giận là hạt mầm được gieo vào tâm ta từ lúc mới chào đời. Nhưng kìm chế cơn giận là bản lĩnh cần rèn luyện mỗi ngày.

Kim che con gian anh 1

Thái độ điềm tĩnh sẽ giúp con người dễ dàng vượt qua nghịch cảnh, đón nhận thử thách. Ảnh: P.G.

Điềm đạm là sự điềm tĩnh xuất phát từ nội tâm. Cổ nhân cho rằng: “Điềm tĩnh dưỡng thần, phật dịch ô vật.” Ý muốn nói, điềm tĩnh có thể dưỡng tâm, giúp con người không phụ thuộc vào thứ bên ngoài. Điềm tĩnh nói đến một thái độ sống “lùi”, vạn sự thuận theo tự nhiên, người giữ được tinh thần như vậy, chắc chắn có thể làm tốt việc dưỡng tâm.

Hiện giờ, ngày càng có nhiều người theo đuổi việc “dưỡng sinh”. Dưỡng sinh gồm có dưỡng tâm, dưỡng tính và dưỡng thân. Nhưng rất nhiều người chỉ quan tâm đến việc dưỡng thân, cho rằng chỉ cần chăm sóc cơ thể cho thật đẹp đẽ, khỏe mạnh, thì có thể hưởng thụ cuộc sống lâu dài. Cho nên, số người có thể kiên trì hàng ngày tập luyện thể thao, ăn uống lành mạnh thì nhiều, nhưng số người có thể kiên trì dưỡng tâm hàng ngày lại rất ít.

Advertisement

Có một bà mẹ cực kỳ chú trọng việc dưỡng sinh. Gặp ai cô ấy cũng thao thao bất tuyệt về đạo lý dưỡng sinh, về việc mỗi ngày phải ăn cái gì, ăn bao nhiêu, ăn thế nào, vận động bao lâu… Cô ấy nói hết lần này đến lần khác: Chỉ có làm như vậy, mới không bị bệnh! Nhưng mỗi lần nghe những điều này, tôi đều thấy rất lạ. Một người ngày nào cũng bận rộn chuẩn bị đồ ăn lành mạnh cho bản thân từ sáng đến tối, sợ mình ăn phải đồ ăn không tốt sẽ sinh bệnh, không thể sống thọ, ngày nào cũng lo lắng như vậy, liệu có vui vẻ được không?

Nếu như chúng ta dư ỡng sinh mà không bắt đầu từ việc dưỡng tâm dưỡng tính, trong lòng sẽ có nhiều phiền não, có nhiều ham muốn. Như vậy, “hạnh phúc” mà chúng ta được hưởng chỉ dừng ở mức ăn ngon mặc đẹp và cơ thể khỏe mạnh, đó không phải cuộc sống thăng hoa chân chính.

Đại sư Hoằng Nhất cho rằng điềm đạm là “điều đầu tiên của việc dưỡng tâm”. Điềm đạm mà ngài nói tới suy cho cùng là cần con người phải tĩnh tâm. Thế gian này bao chuyện phiền não, dễ ảnh hưởng đến tâm lý của con người.

Kim che con gian anh 2

Cuốn sách Nóng giận là bản năng, tĩnh lặng là bản lĩnh mang đến cho người đọc nhiều lời khuyên hữu ích. Ảnh: Chi.

Cho nên, nhiều người nghĩ rằng tâm mình không tĩnh là vì đang bị quá nhiều chuyện quấy nhiễu. Thật ra, ta bị quấy rầy không phải vì những chuyện phiền nhiễu trên đời, mà vì tâm không tĩnh. Khi chúng ta có thể tách khỏi tất cả sự vật bên ngoài, cho dù ở trong hoàn cảnh nào, ta cũng có thể hưởng thụ cuộc sống an nhàn thực sự.

Trong xã hội hiện thực này, rất nhiều chuyện sẽ làm cho chúng ta “dao động”.

Advertisement

Khi một người mỗi ngày kiếm được 10 đồng, chỉ đủ để ăn no, anh ta cảm thấy rất thoải mái, nhưng lại mơ mỗi ngày kiếm được 100 đồng; khi kiếm được 100 đồng mỗi ngày, anh ta lại cảm thấy mệt hơn trước rất nhiều, và không thấy hài lòng lắm, bởi vì có người mỗi ngày kiếm được 1.000 đồng.

Anh ta làm việc chăm chỉ hơn, cuối cùng cũng có thể kiếm 1.000 đồng mỗi ngày, anh ta bắt đầu mua xe, mua nhà, sống cuộc sống tốt đẹp mà anh ta từng ao ước, nhưng anh ta lại bắt đầu hướng về cuộc sống mỗi ngày kiếm được 10.000 đồng…

Chúng ta luôn rơi vào một vòng tròn kỳ lạ như vậy. Chúng ta luôn cho rằng khi đạt được điều gì mình mong đợi đã lâu, trong lòng sẽ cảm thấy yên tâm, hài lòng, từ đó có thể hạnh phúc. Nhưng sau khi đạt được điều mình muốn, ta lại có cảm giác cũng chỉ thế mà thôi. Những ham muốn lớn hơn nối tiếp nhau, mục tiêu ngày càng cao, và chúng ta càng ngày càng mệt hơn.

Do đó, một người sau khi có biệt thự, xe hơi, anh ta càng không hạnh phúc, bởi anh ta lo sợ một ngày nào đó sẽ mất đi cuộc sống như vậy, do đó đành phải dốc sức làm việc nhiều hơn, ép bản thân phải kiếm được 100.000 mỗi ngày, nếu chỉ kiếm được 80.000 thì thở dài ngao ngán.

Ngày nào cũng sống trong nỗi sợ mất đi danh lợi, gánh áp lực khủng khiếp, làm sao mà không sinh bệnh cho được? Dĩ nhiên, không phải con người không thể sống như vậy, danh lợi vốn là sự theo đuổi lớn nhất cuộc đời đối với một người bình thường.

Advertisement

Nhưng ý ở đây muốn nói, nếu như cuộc sống như vậy làm cho chúng ta cảm thấy thêm áp lực, thêm phiền muộn, không hề có cảm giác hạnh phúc, thì bạn hoàn toàn có thể suy nghĩ theo hướng khác.

Không nhất thiết phải từ bỏ những thứ như biệt thự, xe hơi, chỉ cần từ bỏ việc cố chấp gắn bó với những thứ này, dù kiếm được 1.000.000 mỗi ngày cũng không ngạo mạn, mà mỗi ngày kiếm được 10 đồng cũng không chán chường, muốn ăn thì ăn, muốn ngủ thì ngủ, không cần gượng ép bản thân, bạn có thể cảm nhận được sự hạnh phúc ngay lập tức.

Người có nội tâm điềm đạm là người ngay cả khi mặc một chiếc áo vải, ăn một bữa cơm đạm bạc, vẫn có thể an nhàn thoải mái, không có chút cảm giác khó chịu hay không vui nào. Cho dù đối mặt với phiền não và sinh tử, họ cũng có thể thản nhiên đối diện, trong lòng không một chút gợn sóng đau khổ, không cần ăn ngon mặc đẹp vẫn cảm thấy yên bình và hạnh phúc.

[…]

Nguồn: https://znews.vn/kim-che-con-gian-la-ban-linh-can-co-cua-nguoi-truong-thanh-post1455101.html

Advertisement

Tiếp tục đọc

Sách hay

Tuổi ấy mình yêu

Được phát hành

,

Bởi

Cuốn tản văn “Tuổi ấy mình yêu” ghi lại nhiều ký ức về Hà Nội của thế hệ 6X, 7X. Khi ấy thành phố tuy còn nhiều gian khó nhưng đầy lãng mạn với những biệt thự cổ rêu phong, cùng những thanh niên tha thiết yêu đời!

Dòng thời gian miên man đưa ta về những kỷ niệm ấu thơ không thể nào quên. Mùa hè nóng như đổ lửa, chẳng có điều hòa lẫn quạt điện, chỉ đành phe phẩy quạt nan xua đi cái nóng.

Tuoi ay minh yeu anh 1

Cảnh mấy đứa trẻ ngồi ở bể nước công cộng để mẹ tắm rửa là hình ảnh quen thuộc thời bao cấp. Ảnh: Fclikr.

Ở miền ôn đới mà nhiệt độ lên tới 40 thì không thể không coi là sự kiện. Vì thế mà ai chưa kịp trẻ lại, gầy đi, chết vì nóng thì cứ, rất nhiều người thích, tranh thủ cởi gần hết cho da có màu suy nghĩ. Cái màu này, Tây và ngay cả ta chưa từng trải đời này dăm chục năm tha hồ suy nghĩ cũng chả biết là màu gì.

[…]

Advertisement

Thành phố uể oải trong hơi nóng làm người cứ lơ mơ, thương chả ra thương nhớ chẳng ra nhớ, cứ dằng dai lừng khừng. Chẳng biết có phải dân ở những xứ nóng động cái là sùng sục hừng hực lên là vì một năm mấy mùa đã tha hồ uể oải rồi không?

Chiều qua thứ bảy, chỉ còn mấy tiếng nữa cửa hàng cửa họ đóng, đóng cửa luôn ngày chủ nhật là ngày đến Chúa cũng không làm gì (mà còn làm làm gì, sửa sai thế nào được nữa sau khi đã tạo ra con người) nhưng nắng vẫn còn chấp chới trên bờ tường, ngọn cây, mái nhà. Say nắng trưa rồi, không dám đi xa, chỉ lếch thếch ra đầu phố xem có quả dưa hấu nào nhẹ hơn một yến để tha về ăn giải nhiệt chờ mưa.

Mưa thì chưa, dưa thì không nhẹ, chẳng mua bán gì nữa, đi về. Ngang qua cái quán nhỏ đầu phố thấy bàn nào cũng có người ngồi lơ mơ. Có ông lẩn mẩn lúc quờ cốc cà phê đưa lên môi lúc sờ cây bút bi chơi đố chữ.

Có mẹ nạ dòng cháu sớm phom dáng cực kì hùng tráng vẫn chẳng ngần ngại gọi cốc kem to cho xứng người, ăn thi với cháu. Có bà già lim dim mắt xếp tà váy rồi ngồi vắt chân đầy vẻ quý phái khiêu khích kiểu Marlene Dietrich, thay vì điếu thuốc trên tay lại thấy phảy một cái quạt giấy thật là xinh.

Kỷ vật của những ngày nắng hạ Tây Ban Nha, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Tuynidi gì đó đây, không biết cụ mua hay cụ trai nào tặng, mùa hạ vừa đi qua hay từ đời thăm thẳm nỗi niềm nào.

Advertisement

Bất chợt thấy mình chậm bước. Bất chợt hình dung lại, ngày xưa, cũng quạt giấy như này. Bà tóc bạc vấn lẳn trong vành khăn trắng để “trở” ai trong họ chẳng biết. Bà đứng chờ tàu điện chỗ Ô Cầu Dền. Bà luôn luôn có cái quạt trong tay phe phảy cho cháu bám quẩn bên chân.

Bà ngồi chân co chân duỗi đầu tấm phản sau này hạ xuống che cái hầm trú ẩn đào ngay dưới gậm giường rồi cúi người vuốt ngay ngắn ống quần, mở âu giầu, tỉ mẩn tiện miếng vỏ quạch, xé mảnh lá giầu không, bổ nhỏ miếng cau đã bổ sáu từ trước, quết chút vôi trắng, nhúm chút thuốc lào rồi đưa lên miệng, rồi bận bịu dọi lại vành cái quạt nan, xếp lại cái quạt giấy, lầm thầm không biết là mắng đứa cháu nào dùng đồ xong buông quăng bỏ vãi, vô ý vô tứ chẳng biết của bền tại người.

Chao ôi những buổi chiều Hà Nội hết chiến tranh, đã khó nghèo càng thêm khó nghèo vì mẹ mất, nhưng bà còn đó cho chị em mình nương dựa, bà còn đó, giữ lại cho chị em mình những gì còn có thể giữ được, là sự ngây ngô quý giá nhất của tuổi ấu thơ.

Tuoi ay minh yeu anh 2

Cuốn tản văn Tuổi ấy mình yêu của nhà văn Lê Minh Hà. Ảnh: NXB Trẻ.

Cũng cái quạt giấy này, trong bàn tay con gái những ngày cuối cùng đến lớp, giấy trang kim màu tím, nan tre, thằng bạn ngồi bên giằng lấy hỏng luôn chỗ tay cầm, những cái nan rời nhau ra, thế mà nó ra sức khoát tay quạt cho cả mình với nó. Tức mà nghĩ tới những ngày sắp xa đi, gặp lại không biết có đủ tự tin như giờ vẫn hay gây sự với nhau, nghĩ tới cái compa dở hơi nó vẫn nhường mình trong giờ hình học, thôi im vậy.

Bà già váy hoa vẫn đang lơ mơ bên cốc kem phe phẩy cái quạt giấy rõ là xinh. Uể oải thì mình đang uể oải lắm rồi, nhưng có mơ đâu, mà cảm như từ đâu xưa hơi gió từ cái quạt giấy muôn đời. Chỉ phảy nhẹ phảng phất thôi đã đủ làm xao động hơi nóng ngày tháng hạ vì cái mùi hơi thum thủm của những nan quạt vót từ tre ngâm ao bùn.

Advertisement

Ở Hà Nội giờ hay gặp các bà đi tập dưỡng sinh. Khi biểu diễn dưỡng sinh, các bà mặc cả bộ sa tanh đỏ, cứ từng lúc lại khuỵu đầu gối trong tư thế cảm tử lao về phía trước, trong tay là cái quạt hình thù như cái quạt giấy mình quen pạch một cái đồng loạt xòe ra.

Chưa tới gần nên không biết nan quạt bằng tre bằng gỗ hay bằng nhựa, nhưng cái quạt cũng màu đỏ rực, lại có tua rua, xòe ra đều còn hơn các diễn viên hội đoàn tập múa, chỉ còn thiếu hai bím tóc ngắn vểnh ngang tai và trẻ đi dăm chục tuổi là gần bằng diễn viên kinh kịch Bắc Kinh nhảy một cái, xoạc chân một cái, cao giọng á a a trên sân khấu Hà Nội một thời.

Về với Hà Nội, cứ lần nào nhìn thấy những mảnh tam giác đỏ rực ấy chói lọi trong nắng sớm cũng giật mình.

[…]

Nguồn: https://znews.vn/mua-he-da-xa-post1455038.html

Advertisement

Tiếp tục đọc

Xu hướng