Connect with us

Sách hay

Kinh tế học – Khái lược những tư tưởng lớn

Được phát hành

,

Mỗi người khi muốn đặt chân vào thị trường nhất định phải dành thời gian tìm hiểu, nắm được tiến trình phát triển, quy luật vận hành để có bước tiến phù hợp, phòng trừ rủi ro.

Kinh tế học – Khái lược những tư tưởng lớn là công trình của các học giả trên thế giới, đang làm việc hoặc giảng dạy ở một số trường đại học danh tiếng. Như cấu trúc của các quyển sách còn lại trong Bộ sách Khái lược những tư tưởng lớn (Big Idea Simply Explained)” do Đông A mua bản quyền và phát hành vào năm 2019, các tác giả đưa ra sơ đồ tóm lược và giới thiệu bối cảnh, cha đẻ học thuyết, người ảnh hưởng.

Sách gồm các phần chi tiết sau:

Phần 1: Bình minh của thương mại (400 TCN-1770) bắt đầu từ các quan niệm của Plato về nhà nước lý tưởng vào khoảng năm 380 TCN đến khi Quesnay đưa ra “biểu kinh tế” nằm trong hệ kinh tế vi mô. Các nhà Triết gia Hy Lạp đã góp phần vào định hình nền kinh tế vào giai đoạn sơ khai.

Các vấn đề đưa ra bàn luận xoay quanh quyền sở hữu tài sản hay tuần hoàn kinh tế cùng một số học thuyết nổi bật:

“Tài sản nên là tư hữu” từ góc nhìn Xã hội và nền kinh tế cho rằng ‘Không có khái niệm tư sản là không thể tư lợi – khi đó chẳng có lý do gì để gia nhập thị trường’. Các nước tư hữu rất coi trọng tài sản cá nhân. John Locke (1689) cho rằng “thứ mình tạo ra bằng sức lao động của bản thân đương nhiên là của mình”.

kinh te hoc anh 1
Bìa sách Kinh tế học – Khái lược những tư tưởng lớn.

Từ góc nhìn Kinh tế học vĩ mô, “Tiền gây ra lạm phát” chỉ ra rằng khối tài sản của quý tộc, vua chúa châu Âu không ngừng tăng lên vào thế kỷ 16. Lạm phát từ đó cũng được hình thành khi tiền tệ lưu thông không đổi, nhiều người không mua được nhiều hàng hóa trong khi tiền nhiều, làm cho giá cả sản phẩm leo thang. Jean Bodin (1530-1596) là người dành nhiều công sức để tìm hiểu quá trình chuyển đổi của tiền tệ. Vấn đề đặt ra: “Tại sao giá một cốc cà phê ở khu giàu lại cao hơn ở khu nghèo?”.

Các vấn đề cần được giải đáp: Thế nào là giá công bằng? Có tiền xu thì việc gì phải trao đổi hàng; Có thể đo lường nền kinh tế; Cá nhân chẳng phải trả tiền đèn đường… cùng với các câu hỏi khác.

Phần 2: Kỷ nguyên lý trí (1770-1820) mở ra cùng các quan niệm của Annee – Robert Jaceques Turgot gắn liền với việc miễn thuế cho thương mại và công nghiệp. Kết thúc kỷ nguyên lý trí là cuộc khủng hoảng tài chính do các bất ổn về văn hóa, chính trị, xã hội.

Góc nhìn Chính sách kinh tế đồng thời được quan tâm với suy nghĩ “Để thuế được công bằng và hiệu quả”, nhà nước cần làm những việc sau: “Phải đánh thuế chủ yếu vào những người có khả năng đóng thuế nhiều nhất/ Những người có điều kiện giống nhau phải chịu thuế như nhau/ Thuế phải đánh vào những người có khả năng được hưởng lợi từ thuế nhất…

Kỷ nguyên này còn xoay quanh nhiều vấn đề: Chia quy trình sản xuất đinh ghim thành nhiều công đoạn sẽ thu được nhiều đinh hơn; Mãi nghèo do gia tăng dân số; Có cung ắt có cầu…

Phần 3: Cách mạng công nghiệp và kinh tế (1820-1929) là bước ngoặt quan trọng của nền kinh tế thế giới với các quan niệm về kinh tế học như “hàm số và xác suất” của Antoine Cournot, “bong bóng kinh tế” của Charles Mackay, “kinh tế học tự do” của John Stuart Mill, “tuyên ngôn Đảng Cộng sản” của Karl Marx… Các học thuyết của Karl Marx chi phối tiến trình phát triển kinh tế từ đây về sau.

Léon Walras (1834 – 1910) nhìn từ góc nhìn Thị trường và doanh nghiệp thì “Hệ thống kinh tế gồm nhiều thị trường tự do thì ổn định cân bằng kinh tế” do thiếu hụt cung khi cầu quá nhiều: Thiếu hụt cung trong một khu vực kinh tế sẽ tạo ra dư cung ở nơi khác; Nơi nào bị thiếu hụt thì giá cả sẽ tăng; Nơi nào bị dư thừa giá cả sẽ giảm; Khi giá tăng, cầu sẽ giảm và cung sẽ tăng, loại bỏ sự thiếu hụt/ Khi giá giảm, cầu sẽ tăng và cung sẽ giảm, loại bỏ sự dư thừa; Về tổng thể, nền kinh tế có khuynh hướng cân bằng khi được tự do vận hành.

Các quan niệm: Sự điên cuồng của đám đông; Viên Chocolate cuối không ngon bằng viên đầu; Doanh nghiệp là bên chấp nhận giá chứ không phải bên định giá; Tiêu dùng để được chú ý… chỉ ra nhiều học thuyết ảnh hưởng đến quá trình đi lên của nền kinh tế.

Phần 4: Chiến tranh và suy thoái (1929-1945) mở ra một thời kỳ mới cho nền kinh tế thế giới. Bất ổn xã hội và chính trị đã làm cho nhiều nền kinh tế suy sụp, đồng thời tạo nên một thế hệ doanh nhân mới bắt kịp thời thế và xu hướng thị trường. Kinh tế học có thêm hướng tiếp cận mới.

Tiếp sau đó, từ góc nhìn thị trường và doanh nghiệp, các nhà kinh tế học đưa ra quan điểm về việc doanh nghiệp tìm cách bán sản phẩm cho mỗi người mỗi giá với cùng một sản phẩm, cụ thể như sau: doanh nghiệp muốn bán tối đa hóa lợi nhuận; họ thường giảm giá để thu hút người mua nhưng lại bỏ qua những người sẵn sàng chi một số tiền lớn để mua sản phẩm. Nổi bật với quan niệm này là nhà kinh tế học Jules Dupuit (Pháp), sau này có Joan Robinson (Anh), người được mệnh danh là nhà kinh tế học vĩ đại nhất thế kỷ 20.

Một số quan niệm nổi bật trong giai đoạn này có thể kể đến là: Thất nghiệp không phải là một lựa chọn; Kinh tế gắn liền với văn hóa; Chúng ta muốn duy trì một xã hội tự do…

Phần 5: Kinh tế học thời hậu chiến (1945-1970) là giai đoạn hồi phục kinh tế và bắt đầu xu hướng mới trên thị trường cùng các nhà kinh tế học nổi tiếng như Konrad Adenauer, Milton Friedman, Jonh Nash… và quá trình hợp tác phát triển kinh tế quốc tế. Kinh tế học giai đoạn này nằm trong tổng thể các lĩnh vực của đời sống để đánh giá an sinh quốc gia.

Từ góc nhìn Kinh tế học toàn cầu, các quốc gia hợp tác với nhau khi có nguy cơ suy thoái và chiến tranh. Bản vị vàng chi phối hệ thống quy đổi tiền tệ từ tiền giấy ra vàng bắt đầu được sử dụng ở Anh vào năm 1821, áp dụng trên thế giới vào năm 1871. Giai đoạn này gắn liền với Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) gây nhiều tranh cãi trên thế giới đến hiện nay.

“Người ta dàn trải chi tiêu cho cả đời” từ góc nhìn ra quyết định. Góc nhìn này gắn liền với nhà kinh tế học Franco Modigliani – “nhà kinh tế học vĩ mô vĩ đại nhất lúc sinh thời”. Phân tích cho thấy các hộ gia đình trích một phần thu nhập cho chi tiêu gia đình, sau đó tiết kiệm khi còn trẻ và sống an nhàn khi về nhà từ số tiền tiết kiệm đó.

Phần 6: Kinh tế học hiện đại (1970 đến hiện nay) là giai đoạn năng động của thị trường gắn liền với sự biến động của chính trị – xã hội. Những vấn đề được đưa ra bàn luận gắn liền lý thuyết hành vi. Đây cũng là giai đoạn Tâm lý học và Kinh tế học có vai trò mật thiết với nhau. Tâm lý học tập trung vào phân tích hành vi con người.

Những chủ đề bàn luận xoay quanh vấn đề sau: Có thể đầu tư mà không gặp rủi ro; Giá cả có nói lên tất cả; Kinh tế vẫn hỗn loạn kể cả khi cá nhân đang ổn định; Máy tính cũng tạo ra một cuộc cách mạng trong kinh tế cũng giống như động cơ hơi nước…

Không còn là nền kinh tế phục vụ các nước phương Tây, “Các nhà nước ở Đông Á dẫn dắt thị trường” trong một khoảng thời gian dài. Từ góc nhìn Tăng trưởng và phát triển, những ngành công nghiệp mới tập trung phát triển ở châu Á đồng thời nhận được sự ủng hộ phát triển kinh tế từ nhà nước, dần dà tạo nên bước phát triển mạnh mẽ trên thị trường.

Nguồn: https://zingnews.vn/kinh-te-hoc-khai-luoc-nhung-tu-tuong-lon-post1443368.html

Sách hay

Nghệ thuật tranh kiếng trong ‘Nhà gia tiên’

Được phát hành

,

Bởi

Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Thanh Bình, nghệ thuật tranh kiếng gắn liền với văn hóa thờ tự và nhiều khía cạnh khác trong đời sống và sinh hoạt của nhiều gia đình Nam bộ.

Phim điện ảnh Nhà gia tiên do Huỳnh Lập đạo diễn gần cán mốc 200 tỷ, gây sốt phòng vé thời gian qua tuy nội dung còn gây tranh cãi song được đánh giá cao ở phần tái dựng bối cảnh. Trong đó, chi tiết nhân vật chính Mỹ Tiên (Phương Mỹ Chi) được ông mình, một người coi sóc đền miếu (nghệ sĩ Trung Dân đóng) kể về nghệ thuật làm tranh kiếng để lại ấn tượng.

Để tái hiện nghệ thuật dân gian này trên màn ảnh rộng, đoàn phim đã mời một nghệ nhân từ Long An thực hiện các tác phẩm tranh kiếng, cũng như đến làng nghề Bà Vệ (An Giang) tìm kiếm, phục chế những bức tranh cũ mục nát, bị vứt bỏ.

Chia sẻ với Tri Thức – Znews, Thạc sĩ Văn hóa học, nhà nghiên cứu Huỳnh Thanh Bình, tác giả cuốn sách Tranh dân gian Nam Bộ cho rằng việc tranh kiếng xuất hiện trong phim là một yếu tố không quá bất ngờ. “Bộ phim kể về câu chuyện diễn ra trong một không gian truyền thống với những nội dung phong hóa xưa… mà tranh kiếng là loại công nghệ phẩm ‘trang trí’ không chỉ ở những không gian thờ tự mà cả các không gian sinh hoạt trong nhiều gia đình Nam Bộ”, bà nói.

Sự ra đời và phát triển của tranh kiếng Nam Bộ

Theo nhà nghiên cứu, tranh kiếng có mặt ở cung đình Huế từ thời Minh Mạng – Thiệu Trị, song đó là các sản phẩm mỹ nghệ nhập khẩu. Mãi đầu thế kỷ XX, các di dân Quảng Đông đến lập nghiệp ở vùng Chợ Lớn, mới bắt đầu mở các tiệm kiếng, buôn bán các loại kiếng tráng thủy để soi mặt, lộng khuôn hình, tủ, khung cửa chớp, cửa gió… và các loại tranh kiếng: các bức đại tự và các bức thư họa dùng trong việc khánh chúc tân gia, khai trương, mừng thọ… Tranh kiếng Nam bộ ra đời từ đây.

Đến những năm 1920, nghề vẽ tranh kiếng chuyển địa bàn về Lái Thiêu (Thủ Dầu Một). Sau đó, khoảng những năm 1940-1950, nghề làm tranh kiếng lan tỏa khắp lục tỉnh Nam Kỳ, trụ lại ở Mỹ Tho, Cai Lậy, Gò Công (Tiền Giang ngày nay), Chợ Mới (An Giang), Chợ Trạm (Long An), Tây Ninh… và thâm nhập vào cộng đồng Khmer tạo nên dòng tranh kiếng Khmer Nam bộ ở Trà Vinh và Sóc Trăng…

Tranh kiếng Nam bộ chiếm tỷ lệ lớn là tranh thờ: Trước nhất là tranh thờ Tổ tiên với loại tranh Đại tự, Cửu huyền thất tổ, Sơn thủy (biểu đạt ý nghĩa hiếu đạo của câu ca dao nổi tiếng: Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra), Lão mai (nhằm biểu ý “Cây có cội”), Tre tàn măng mọc (động viên nỗ lực vươn lên của thế hệ hậu bối). Đặc biệt là tranh chân dung của tổ tiên quá vãng.

Thứ hai là tranh thờ các đối tượng thuộc tín ngưỡng dân gian như tranh Ông Địa, Ông Táo, các thần độ mạng… Thứ ba là tranh thờ của các tôn giáo: tranh thờ của Phật giáo như Phật, Bồ Tát, Tổ sư…; tranh thờ của Đạo giáo như Lão Tử cưỡi trâu, Bát Tiên…, tranh thờ của tín đồ Công giáo; tranh “Thiên nhãn” của đạo Cao Đài… Riêng tranh thờ của cộng đồng Khmer Nam bộ cũng như của cộng đồng người Hoa tạo thành một dòng độc đáo có đặc trưng về đề tài cũng như kỹ pháp tạo hình.

Ngoài ra, tranh kiếng trang trí nội ngoại thất, tranh khánh chúc và đặc biệt là loại tranh trang trí xe bán mì, hủ tíu.

“Tranh kiếng là loại tranh vẽ ngược và tô vẽ ở phía sau mặt kiếng, nên tinh hoa nhất trong nghệ thuật này là tài năng vẽ tranh, vờn màu, sắp xếp bố cục chính phụ sao cho có được một bức tranh đúng với mục đích sử dụng của nó và đẹp mắt về mặt mỹ thuật”, tác giả Huỳnh Thanh Bình chia sẻ. Thách thức lớn nhất của người nghệ nhân tranh kiếng là phải tạo nên những mẫu tranh đáp ứng được đa dạng yêu cầu về đề tài, về chủng loại; và cần sở đắc một vốn liếng chữ Hán để thể hiện thành những câu đối, những đại tự, những tấm hoành, tấm biển tương thích cho từng nội dung tranh.

Ở Nam bộ, hầu như tranh kiếng có mặt ở mọi gia đình, thậm chí nơi đình, đền, chùa, miếu. Việc sử dụng tranh kiếng cho nhu cầu thờ tự, trang trí hoặc chúc tụng… đã trở thành tập quán. Chính vì vậy, tranh kiếng chiếm một vị trí quan trọng trong văn hóa vùng đất này.

Nghệ thuật gắn liền với văn hóa thờ tự

Thờ tự tổ tiên là tập tục quan trọng trong đời sống văn hóa của xứ ta. Nơi thờ tự tổ tiên theo truyền thống là không gian tâm linh chiếm vị trí trung tâm trong mỗi ngôi nhà. Theo đó, việc trang nghiêm nơi thờ tự tổ tiên luôn được coi trọng. Theo tác giả sách Tranh dân gian Nam Bộ, từ cuối thế kỷ 19 đến nay, theo sự phát triển của tranh kiếng, các bộ tranh thờ tổ tiên vẽ trên kiếng ra đời và dần dần thay thế loại tranh thờ tổ tiên ở dạng bích họa hoặc tranh thờ cẩn ốc xà cừ hay các bức chạm gỗ sơn son thiếp vàng hay sơn then thiếp vàng.

“Từ bấy đến nay, tranh thờ tổ tiên vẽ trên kiếng đã không ngừng canh cải, tạo tác nên nhiều loại khác nhau”, bà Huỳnh Thanh Bình cho hay. Có loại chỉ là những bức đại tự, có loại chỉ là “bài vị” với dòng chữ Cửu Huyền thất tổ, đặc biệt là những bộ tranh vẽ cảnh sơn thủy hoặc có loại phát triển từ bộ tranh Tứ thời Mai-Lan-Cúc-Trúc

nha gia tien anh 4

Nhà nghiên cứu, tác giả Huỳnh Thanh Bình với tác phẩm Tranh dân gian Nam Bộ. Ảnh: Quỳnh My.

Cửu huyền thất tổ – bức tranh kiếng đầu tiên xuất hiện trong Nhà gia tiên – là một kiểu loại của bộ tranh thờ tổ tiên thuộc loại tranh đại tự, với dòng chữ “Cửu Huyền thất tổ”. Loại tranh này phổ biến ở miền Tây Nam Bộ, đặc biệt là các cộng đồng theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Phật giáo Hòa Hảo và cả cộng đồng tín đồ đạo Cao Đài Tây Ninh.

Ở loại tranh này thì mỗi bộ gồm năm tấm ghép lại: Tấm biển nằm trên cùng, ghi tên tộc họ: “Nguyễn phủ đường”, “Lê phủ đường”…, hay “Đức lưu phương” hoặc “Phước Lộc Thọ”. Bức chính nằm giữa tranh, ghi bốn chữ Cửu huyền thất tổ và được trang trí bằng đồ hình tứ linh.

Bao quanh tấm tranh chính là bốn tấm tranh khác: bức thượng thổ ở phía trên (vẽ hình cuốn thư, hay năm sản xuất); bức hạ thổ ghép dưới đáy (thường trang trí hoa-điểu hay mâm ngũ quả) và đôi liễn, đặt dọc hai bên tấm chính, nội dung tôn vinh công đức của cha mẹ, tổ tiên.

Ngoài ra còn có bộ tranh thờ tổ tiên ba bức hay giản tiện hơn, loại tranh kiếng thờ tổ tiên này được thu gọn thành một bức duy nhất, đơn giản với chữ “Cửu Huyền Thất Tổ” ở chính giữa; hai bên là hai câu đối:

“Tưởng nhớ Phật như ăn cơm bữa,

Vọng Cửu Huyền sớm tối mới mầu”.

Hay “Kính cửu huyền thiên niên bất tận

Trọng thất tổ nội ngoại tương đồng”.

Loại tranh thờ Cửu huyền thất tổ còn thấy trong bộ ba bức chín tròng với bức chính ở giữa từng chữ Cửu huyền thất tổ được thể hiện trong những ô tròn ở cả dạng thức Hán tự lẫn quốc ngữ trên nền sơn thủy hay dọc theo cội lão mai…

Ngày nay, tranh kiếng bị các loại tranh công nghiệp cạnh tranh. Song theo nhà nghiên cứu Huỳnh Thanh Bình, tranh kiếng vẽ thủ công vẫn được công chúng hâm mộ. Đây đó, nghề vẽ tranh kiếng vẫn còn tồn tại; thậm chí có nơi phát triển có quy mô hơn trước, và tiếp thu các kỹ thuật in lụa, in 3D…

Tác giả Huỳnh Thanh Bình sinh năm 1985, hiện công tác tại Bảo tàng TP.HCM. Bà từng xuất bản một số tác phẩm như Tranh kiếng Nam Bộ (2013); Biểu tượng thần thoại về chư thiên và linh vật Phật giáo (2018, Tái bản 2024); Tranh tường Khmer Nam Bộ (2020); Quy pháp đồ tượng Hindu và Phật giáo Ấn Độ (2021); Tranh dân gian Nam Bộ (2024).

Nguồn: https://znews.vn/nghe-thuat-tranh-kieng-trong-nha-gia-tien-post1535551.html

Tiếp tục đọc

Sách hay

Tăng cường trí nhớ, phòng bệnh Alzeimer

Được phát hành

,

Bởi

“Tăng cường trí nhớ, phòng bệnh Alzheimer” của Tiến sĩ Y khoa Richard Restak là một tác phẩm toàn diện, khám phá cách trí nhớ hoạt động và cách tối ưu hóa khả năng ghi nhớ.

Phát triển một trí nhớ siêu việt giúp tăng cường sự chú ý, tập trung, khả năng trừu tượng hóa, gọi tên, hình dung không gian, khả năng sử dụng lời nói, ngôn ngữ và tiếp thu từ.

Những lo lắng về trí nhớ phổ biến đến mức nào?

Có nhiều lý do để quan tâm đến trí nhớ của bạn. Hãy xem xét những điều này: phát triển một trí nhớ siêu việt giúp tăng cường sự chú ý, tập trung, khả năng trừu tượng hóa, gọi tên, hình dung không gian, khả năng sử dụng lời nói, ngôn ngữ và tiếp thu từ. Nói ngắn gọn, trí nhớ chính là chìa khóa cho việc tăng cường trí não.

Ở Mỹ ngày nay, tất cả những người trên 50 tuổi đều đang sống trong nỗi sợ hãi mang tên Big A – bệnh Alzheimer. Các cuộc gặp gỡ nho nhỏ (bữa tối, tiệc cocktail, v.v.) mang bầu không khí như một phân đoạn từ chương trình đố vui hằng tuần “Chờ đã… Đừng nói là” của đài NPR. Đó là chương trình mà các khách mời sẽ ganh đua với nhau trong những cuộc thi căng thẳng để trở thành người đầu tiên nghĩ ra tên của những thứ như diễn viên đóng một vai nào đó trong loạt phim truyền hình ngắn mới nhất mà mọi người đang say mê theo dõi.

Gần như chắc chắn là ai đó sẽ lấy điện thoại di động ra để kiểm tra độ chính xác của người trả lời đầu tiên. Nhanh, nhanh hơn nữa, nhanh nhất kẻo người khác nghi ngờ bạn đang có những triệu chứng ban đầu của Big A.

Tri nho anh 1

Trí nhớ là một phần vô cùng quan trọng của con người. Ảnh: Nativespeaker.

Mặc dù bệnh Alzheimer không phổ biến như nhiều người vẫn lo sợ, nhưng người ta đang ngày càng bày tỏ lo lắng về chứng mất trí nhớ mà họ cảm nhận được với bạn bè của mình. Chúng cũng là những lời than thở phổ biến nhất mà những người trên 55 tuổi chia sẻ với bác sĩ của họ.

Những lo lắng về trí nhớ như vậy thường phi lý và khơi dậy sự lo lắng không cần thiết. Sự lo lắng phổ biến này đã góp phần tạo ra một mối quan ngại rộng rãi về trí nhớ và các dấu hiệu suy giảm trí nhớ. Một trong những lý do của sự hoảng loạn này là sự nhầm lẫn trong tư duy của nhiều người về cách chúng ta hình thành ký ức.

Hãy cố gắng nhớ lại một chuyện gì đó đã xảy ra với bạn vào đầu ngày hôm nay. Nó không nhất thiết phải là một chuyện đặc biệt – bất kỳ sự kiện thông thường nào cũng được. Giờ hãy xem ký ức đó đã hình thành như thế nào.

Theo yêu cầu của tôi, bạn đã truy xuất ký ức về một chuyện gì đó mà có lẽ bạn sẽ không nghĩ tới nếu tôi không thúc giục bạn nhớ lại nó và bạn không nỗ lực để truy xuất nó.

Về bản chất, trí nhớ là trải nghiệm lại một chuyện gì đó trong quá khứ dưới dạng một hồi ức. Về mặt hoạt động, ký ức là sản phẩm cuối cùng của những nỗ lực của chúng ta trong hiện tại nhằm truy xuất những thông tin được lưu trữ trong não mình.

Ký ức – tương tự những giấc mơ và hành động tưởng tượng – khác nhau tùy theo mỗi người. Ký ức của tôi khác biệt rõ rệt với ký ức của bạn vì chúng dựa trên trải nghiệm sống cá nhân của chúng ta.

Ký ức cũng khác với hình ảnh hoặc video về các sự kiện trong quá khứ. Mặc dù các phiên bản dựa trên công nghệ này của quá khứ có thể đóng vai trò là công cụ kích thích trí nhớ, nhưng bản thân chúng không phải là ký ức.

Nguồn: https://znews.vn/tai-sao-ban-nen-quan-tam-den-tri-nho-cua-minh-post1535566.html

Tiếp tục đọc

Sách hay

Vương miện xanh

Được phát hành

,

Bởi

Tập sách là hành trình từ hậu trường sân khấu các cuộc thi người đẹp, nơi người thắng cuộc được yêu quý nhưng cũng hứng chịu các phán xét khắt khe của công chúng, đến các dự án xanh của Hoa hậu Môi trường Thế giới Nguyễn Thanh Hà.

Hai năm nhìn lại, tôi tự hỏi về bản thân, về phiên bản khác của chính mình giữa có và không có vương miện, giữa những gì tôi đạt được và đánh mất.

Năm 2022, tôi bước lên bục cao sân khấu Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh đăng quang Hoa hậu Môi trường Việt Nam.

Năm 2023, tôi tiếp tục trở thành người Việt Nam đầu tiên chinh phục vương miện Miss Eco International 2023 (Hoa hậu Môi trường Thế giới) tại Cairo, Ai Cập giữa những phấn khích và xúc động.

Chiếc vương miện đã thay đổi tôi. Từ một cô bé vô tư trong chiếc “tổ kén” gia đình nuôi dưỡng gần 20 năm qua, nay tôi bước ra thế giới rộng lớn và choáng ngợp với những điều không thể ngờ đến. Thế giới đã “dạy” tôi lớn lên, trước những vô lo, niềm vui, nỗi buồn, cảm xúc của tuổi vừa rời ghế nhà trường.

Nhiệm kỳ hoa hậu của tôi đã kết thúc, nhưng tôi vẫn tiếp tục sứ mệnh trên con đường đã chọn, đó là tình yêu, là trái tim, là thanh xuân, là giá trị sống.

Hai năm nhìn lại, tôi tự hỏi về bản thân, về phiên bản khác của chính mình giữa có và không có vương miện, giữa những gì tôi đạt được và đánh mất. Thế giới đó, có gì ở lại cùng tôi? Có gì đã khiến tôi dũng cảm đi tiếp trong khoảng thời gian đầy khó khăn đó?

Hoa hau anh 1

Hoa hậu môi trường thế giới 2023 Nguyễn Thanh Hà. Ảnh: Vietnam.vn.

Một mình trên sân khấu

Ngay khi vừa đạt cột mốc “đủ tuổi”, tôi lập tức đăng ký cuộc thi Hoa hậu Môi trường Việt Nam. Lúc ấy, tôi chỉ nghĩ rằng, phải thực hiện ước mơ của mình ngay khi có cơ hội. Ước mơ làm hoa hậu? Không hẳn! Đó là ước mơ được làm gì đó, thật cụ thể, thật thiết thực cho môi trường sống này, cho hành tinh này.

Nếu trở thành hoa hậu, tôi sẽ có ưu thế hơn, có thể xuất hiện trước nhiều người để bày tỏ những vấn đề về môi trường, đánh động sự quan tâm của nhiều người hơn. Nghĩ là làm, thật may mắn, tôi đã thành công và đăng quang khi lần đầu thử sức ở một đấu trường sắc đẹp mà mục tiêu không phải để trở thành người đẹp được ca ngợi hay được công nhận về nhan sắc. Tôi chỉ muốn nhắm tới sứ mệnh vì môi trường như chính danh hiệu mà cuộc thi đã trao.

Tôi bỗng nhớ đến câu nói trong Nhà Giả Kim: “Khi bạn thực sự mong muốn một điều gì, cả vũ trụ sẽ hợp lại giúp bạn đạt được nó”. Phải chăng, tôi thành công vì tôi khao khát điều đó mãnh liệt?

Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi đã nhiều lần tự đặt câu hỏi cho bản thân: Là một người trẻ lớn lên trong điều kiện sống đầy đủ, được ăn ngon mặc đẹp và có nhiều cơ hội học tập hơn thế hệ ông bà, ba mẹ ngày xưa, liệu tôi có thể làm ngơ trước những mối đe dọa đang rình rập môi trường sống của chúng ta như rác thải, ô nhiễm, hạn mặn, lũ lụt, phá rừng hay hiệu ứng nhà kính không? Chính vì vậy, tôi đã quyết định tham gia cuộc thi Hoa hậu Môi trường. Hai chữ “môi trường” trong danh hiệu chính là nguồn sức mạnh và động lực để tôi hành động.

Ban đầu, tôi cũng mang trong mình rất nhiều lo ngại: Liệu mình có đủ khả năng không? Liệu có thể vượt qua những thí sinh tài năng khác? Tuy nhiên, tôi nhận ra, niềm khao khát mạnh mẽ muốn thử thách bản thân và tìm kiếm những cơ hội mới để trưởng thành còn lớn hơn. Điều thôi thúc tôi tham gia không chỉ là mong muốn thể hiện bản thân, mà còn ở khát khao được lan tỏa những giá trị tích cực về bảo vệ môi trường đến cộng đồng.

Nguồn: https://znews.vn/chiec-vuong-mien-thay-doi-cuoc-doi-hoa-hau-moi-truong-the-gioi-post1535563.html

Tiếp tục đọc

Xu hướng