Connect with us

Tác giả

Cố họa sĩ Thang Trần Phềnh – tài hoa và độc đáo

Published

on

Vào đầu thế kỷ XX khi nền mỹ thuật Việt Nam còn sơ khai, họa sĩ Thang Trần Phềnh đã nổi danh bậc nhất, với nhiều giải thưởng và những lời tán dương.

Vừa qua, tại nhà triển lãm trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam (42 Yết Kiêu – Hà Nội) đã diễn ra triển lãm bộ sưu tập các tác phẩm của cố họa sĩ Thang Trần Phềnh (1895 – 1972) của nhà sưu tập Lê Quang Tuyến và ra mắt cuốn sách Thang Trần Phềnh – Hồi ký và tác phẩm.

Nổi danh từ khi chưa vào học tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, họa sĩ Thang Trần Phềnh được xem là một trong những viên gạch đầu tiên tạo nền móng cho “ngôi nhà mỹ thuật Việt Nam” cận đại. Đồng thời, ông cũng đóng vai trò là “người khai mở” và có đóng góp lớn cho mỹ thuật sân khấu Việt Nam.

Triển lãm các tác phẩm của cố họa sĩ Thang Trần Phềnh đã trưng bày trên 70 bức vẽ gồm các thể loại: tranh tả cảnh sinh hoạt, tranh phong cảnh, ký họa, phác thảo trang phục nhân vật sân khấu, trang trí bối cảnh vở diễn bằng nhiều chất liệu khác nhau, chủ yếu là kích cỡ nhỏ.

Advertisement

Tại triển lãm, nhà nghiên cứu mỹ thuật sân khấu Đoàn Thị Tình – một trong số ít các học trò ở mảng trang trí mỹ thuật sân khấu, người có thời gian gần gũi với ông trong những năm tháng cuối đời – chia sẻ:

“Dưới con mắt quan sát hiện thực sâu sắc của họa sĩ, từ đối tượng ngoại cảnh đi vào nội tâm bằng trình độ kỹ xảo tinh tế, làm chủ chất liệu họa phẩm trong hệ thống nhịp điệu sắc màu đỏ, nâu mặn mòi trong trẻo đã đưa ta trở về quá khứ với những hình ảnh sinh hoạt thanh bình chốn bên sông, xóm nhỏ, chợ quê, góc hè nơi phố thị…

Đặc biệt, ở mảng trang phục của con người thể hiện trong từng bức vẽ đã phác họa lên một phần sử liệu phong phú, chính xác về đặc trưng hình dáng, màu sắc đến tính chất vật thể, hoàn cảnh, cách mang vận của chủ nhân đương thời. Với những gam màu trầm ấm, lặng lẽ mà nhẹ nhàng tươi sáng, gợi mỹ cảm bởi nét duyên dáng, tỉ mỉ, chân thực, càng xem càng thu hút, gần gũi, mang lại những rung động về cảm xúc chất hồn quê, sắc tộc Việt Nam…”.

Thang Tran Phenh anh 1

Chân dung cố họa sĩ Thang Trần Phềnh thời là sinh viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và khi ngoài 70 tuổi.

Còn nhớ, cuốn sách đầu tiên về Thang Trần Phềnh có tên Thang Trần Phềnh (1895 – 1972) của tác giả Ngô Kim Khôi – cháu ngoại của họa sĩ Nguyễn Nam Sơn ra đời năm 2018 đã thực sự góp phần quan trọng trong việc “giải mã” cuộc đời nghệ thuật tài hoa, độc đáo và lặng lẽ của cố họa sĩ Thang Trần Phềnh. Cuốn sách Thang Trần Phềnh – Hồi ký và tác phẩm vừa được Nhà xuất bản Thế giới ấn hành đã cho công bố hơn 20 trang ghi chép của họa sĩ Thang Trần Phềnh, được xem như một “hồi ký ngắn gọn” của ông về con đường và những năm tháng hoạt động nghệ thuật của ông (hồi ký đề ngày kết thúc ghi chép là 25/7/1967).

Theo đó, Thang Trần Phềnh (tức Trần Văn Bình, tự Đạt Siêu) có bố đẻ là ông Thang Thọ Ký người lai Trung Quốc, mẹ là Lê Thị Ngát người Việt Nam. Lúc còn nhỏ cậu bé Phềnh học với thầy đồ nho, lớn lên học chữ Pháp, đến năm 1910 vào học Trường Bưởi. Vốn yêu thích và có năng khiếu vẽ bẩm sinh, nên cậu sớm được cha mua giấy bút cho tự tập vẽ.

Advertisement

Trong những trang viết của mình, cố họa sĩ Thang Trần Phềnh tự thuật rằng, cuối năm 1910 cũng là lần đầu tiên trong đời vẽ một bức tranh thuốc nước lên giấy khổ 30x60cm đặt tên là “Chùa Trấn Quốc trong buổi hoàng hôn” bày ở Đấu xảo Mỹ thuật năm 1911 và được một người Pháp tên là Georges Bois mua ngay trong ngày khai mạc. Về sau, người này còn tìm đến nhà riêng đặt mua thêm 2 bức nữa.

Việc bán được tranh khiến cậu bé Trần Phềnh có thêm động lực để vẽ, trong nhiều năm liền tranh của cậu luôn được bày và đoạt giải trong các cuộc Đấu xảo Mỹ thuật và từng được ông Vũ Đình Long dành nhiều lời ca ngợi trong bài “Khảo về thủy họa” đăng trên “Nam Phong tạp chí” số 77.

Trong suốt những năm tháng hoa niên đó, Trần Phềnh đã tự học, tự mày mò để vẽ tranh lụa, tranh sơn dầu, tranh màu nước với bút pháp mới mẻ và đã nhận được rất nhiều lời tán thưởng của các họa sĩ cùng thời. Năm 1923, Thang Trần Phềnh đoạt giải nhất Triển lãm Mỹ thuật của Hội Khai trí Tiến Đức của người Việt Nam mở ra lần thứ nhất với 2 bức tranh lịch sử bằng sơn dầu là Hai Bà Trưng (khổ 0,9 x 1,2 m) và Phạm Ngũ Lão (khổ 70 x 94 cm).

Thang Tran Phenh anh 2

Một tác phẩm tranh màu nước của họa sĩ Thang Trần Phềnh sáng tác trong thời kỳ đi tản cư (1948).

Có thể nói, vào đầu thế kỷ XX khi nền mỹ thuật Việt Nam còn sơ khai, họa sĩ Thang Trần Phềnh đã nổi danh bậc nhất, với nhiều giải thưởng và những lời tán dương. Năm 1925 khi Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thành lập và chiêu sinh khóa đầu, ông và Tô Ngọc Vân đã đăng ký dự tuyển nhưng cả 2 đều… trượt. Việc một họa sĩ đã có danh tiếng như Trần Phềnh thi rớt kỳ tuyển sinh là một sự kiện gây chấn động dư luận thời bấy giờ. Nhưng đến kỳ tuyển sinh thứ 2 (năm 1926), cả ông và Tô Ngọc Vân đều đã đỗ và học chung khóa với những nhân vật nổi tiếng trong giới hội họa sau này như Vũ Cao Đàm, An Sơn Đỗ Đức Thuận.

Theo một số tài liệu đã được công bố, khá nhiều tác phẩm của Thang Trần Phềnh sau đó đã được gửi sang triển lãm và bán ở châu Âu. Hiện nay, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đang trưng bày 2 tác phẩm nổi tiếng của ông là Phạm Ngũ Lão (sơn dầu, 1923) và Chân dung phụ nữ Lào (sơn dầu, 1927). Ngoài ra, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cũng là nơi lưu giữ khoảng 60 bức vẽ tĩnh vật, ký họa bằng mực nho, mực nước (phần lớn khổ 13x18cm), chủ yếu được sáng tác trong giai đoạn từ 1947 đến 1955.

Advertisement

Nhà nghiên cứu mỹ thuật Quang Việt cho rằng: “Nếu không kể trường hợp của họa sĩ Lê Văn Miến thì có nhiều lý do để cho rằng ở nước ta, Thang Trần Phềnh là họa sĩ đầu tiên vẽ tranh bằng chất liệu sơn dầu châu Âu và sớm giành được sự công nhận rộng rãi, thậm chí là sự công nhận của cả giới trí thức, giới tinh hoa đương thời. Trong thời gian học Trường Mỹ thuật, ông cũng là một trong số ít họa sĩ Việt Nam đầu tiên vẽ tranh lụa và thể hiện tác phẩm trang trí bằng chất liệu sơn mài, cũng như đã tham gia nhiều triển lãm quan trọng trong và ngoài nước…”.

Tuy nhiên, sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, dường như họa sĩ Thang Trần Phềnh đã chọn đi một lối riêng mình, đó chính là con đường gắn bó với mỹ thuật sân khấu. Cũng theo những trang tự thuật của ông, năm 1912 khi được xem trang trí tranh cảnh của một đoàn Tân kịch Trung Quốc sang diễn ở Quảng Đông hội quán Hàng Buồm, ông đã có ấn tượng mạnh mẽ đến nỗi về nhà nghiền ngẫm vẽ ra một bức sơn dầu lên vải dày thành một bức phông 2,4 x 3 m, “vẽ một con đường đi vào trong vườn, một bên có nhà lá, một bên có rào cây, gần đó có vườn cây thấp, xa xa có viễn cảnh”.

Có lẽ đây chính là tác phẩm mỹ thuật trang trí sân khấu đầu tay của ông, đánh dấu sự “chạm ngõ” và lựa chọn con đường dấn thân của ông với mỹ thuật sân khấu sau này. Ông cũng chính là viên gạch đầu tiên cho nền mỹ thuật sân khấu thuần Việt sơ khai của nước nhà.

Những năm sau đó, Trần Phềnh vừa vẽ tranh chơi bán, vừa vẽ bối cảnh cho các sân khấu như Sán Nhiên Đài, rạp Quảng Lạc, Nhà hát Lớn Hà Nội – Hải Phòng, Kinh Kỳ hí viện, rạp Kim Chung… Đến năm 1932, Thang Trần Phềnh lập ra Đoàn ca kịch Đồng Ấu lấy tên là “Ban hát Mỹ thuật Đồng Ấu” (gọi tắt là ban hát Trần Phềnh). Sau một thời gian tập luyện, ban hát đã đi biểu diễn lưu động khắp nơi trong suốt hơn 10 năm (từ 1932 đến 1943) với 7 vở diễn nổi danh một thời như: Tam hoàng tử tranh hôn, Thất hiền quyến, Tống tửu Đơn Hùng Tín, Đức mẫu Thượng Ngàn, Đức mẫu Thoải, Kiều, Lã Bố hí Điêu Thuyền.

Với nghệ thuật trang trí sân khấu, ông có rất nhiều sáng tạo, đặc biệt là phương pháp nhìn “tứ cố” để người xem cảm thấy như được hòa vào, chuyển động cùng không gian ước lệ của vở diễn. Ông đã biết cách sử dụng ánh sáng từ đèn chiếu để tạo ra những hiệu ứng tích cực và hiệu quả thẩm mĩ cao từ các bức vẽ trang trí. Kỳ tài này của Trần Phềnh đã được giới mộ điệu sân khấu khi đó tán thưởng, nể phục.

Advertisement

Ghi nhận công lao to lớn của họa sĩ Thang Trần Phềnh với mỹ thuật sân khấu nước nhà, nhà nghiên cứu mỹ thuật sân khấu Đoàn Thị Tình nhận định: “Ở vai trò người mở đầu cho bộ môn nghệ thuật này và hoạt động trong đó suốt gần 50 năm, Thang Trần Phềnh vừa phải sáng tạo ra ngôn ngữ mà cũng vừa phải sáng tạo ra tác phẩm, từ phông màn, trang phục, hóa trang đến đạo cụ, ánh sáng.

Các ghi chép, nghiên cứu phác thảo sân khấu của ông, đặc biệt cho các vở diễn cổ hoặc có đề tài cổ còn giữ được đến ngày nay là một nguồn tư liệu, một cái vốn quý báu để lại cho hậu thế. Không chỉ có giá trị về mặt nghệ thuật, nhất là nghệ thuật trang trí sân khấu mà còn có nhiều giá trị trên phương diện sử học, dân tộc học, xã hội học, phong tục học thấm đẫm tinh thần và thẩm mỹ Việt Nam…”.

Nguồn: https://zingnews.vn/co-hoa-si-thang-tran-phenh-tai-hoa-va-doc-dao-post1351728.html

Advertisement

Tác giả

Tiếng nói của những phụ nữ mưu cầu tự do và bình đẳng

Published

on

By

Theo dịch giả Bảo Chân, Annie Ernaux mổ xẻ, phân tích, đào sâu vào ký ức của chính bản thân, khiến độc giả suy nghĩ lại những quan niệm xã hội trói buộc giới nữ ở xã hội Pháp xưa.

van hoc duoc dai anh 1

Sách Hồi ức thiếu nữ. Ảnh: Nhã Nam.

Bảo Chân là người đã thực hiện chuyển ngữ tác phẩm Hồi ức thiếu nữ của nhà văn đoạt Nobel Văn chương năm nay – Annie Ernaux. Dịch giả Bảo Chân cho rằng Annie Ernaux là một trong những nhà văn quan trọng và nổi bật nhất trong nhiều thập kỷ qua và coi việc dịch tác phẩm của Ernaux là một vinh dự.

Ngay khi hay tin giải Nobel Văn chương năm nay gọi tên Annie Ernaux, Zing đã có những trao đổi với nữ dịch giả về ý nghĩa của giải thưởng Nobel năm nay cùng giá trị và tầm ảnh hưởng của văn Ernaux trên thế giới.

Điều làm nên nhà văn nữ người Pháp đầu tiên đoạt giải Nobel văn chương

– Khi biết tin Annie Ernaux được Nobel vinh danh, bà cảm thấy thế nào?

Advertisement

– Tôi thật sự vui mừng ngay khi nhận được tin mặc dù tôi không thấy bất ngờ với việc trao giải năm nay cho Annie Ernaux. Tôi vui mừng cho tác giả vì toàn bộ tác phẩm và quá trình sáng tác của bà xứng đáng được công nhận trên bình diện quốc tế. Tôi vui mừng cho văn chương Pháp vừa có nhà văn nữ đầu tiên trong lịch sử văn học Pháp đoạt giải Nobel văn chương; điều này thật sự có ý nghĩa với văn học đương đại Pháp bởi Annie Ernaux là một trong những nhà văn quan trọng và nổi bật nhất trong nhiều thập kỷ qua.

– Bà nhận định thế nào về quyết định này của Viện Hàn lâm Thụy Điển?

– Theo tôi, đây là một quyết định hoàn toàn chuẩn xác và không gây bất ngờ cho văn giới châu Âu. Cái tên Annie Ernaux đã nhiều lần lọt vào vào danh sách những nhà văn có cơ hội cao được trao giải ở những năm trước. Và quan trọng hơn cả chính là sự sáng suốt và kiên định của Viện Hàn Lâm Thụy Điện khi quyết định trao giải năm nay cho Annie Ernaux. Đây chính là sự công nhận xứng đáng cho sự sáng tạo và sự dấn thân của tác giả trong sự nghiệp viết văn hơn 50 năm qua của bà.

van hoc duoc dai anh 2

Dịch giả Bảo Chân cho rằng dịch Annie Ernaux là một vinh dự. Ảnh: NVCC.

– Điều gì khiến bà quyết định dịch “Hồi ức thiếu nữ”?

– Phải nói rằng Hồi ức thiếu nữ đến với tôi như một cái duyên. Tôi bắt đầu đọc Annie Ernaux đã nhiều năm trước và rất yêu thích tác phẩm của bà và tôi đã luôn mong muốn được dịch Annie Ernaux. Vào năm 2017, khi biên tập viên liên hệ và mời tôi dịch cuốn Mémoire de fille (tên gốc của Hồi ức thiếu nữ), tôi thật sự cảm thấy như duyên lành đang đến với mình, và tôi đã nhận lời ngay không cần suy nghĩ. Quả thật, đối với dịch giả như tôi dịch Annie Ernaux là một vinh dự.

Advertisement

– Bà nhận xét thế nào về tác phẩm này nói riêng và chất văn của tác giả Annie Ernaux nói chung?

Hồi ức thiếu nữ là cuốn tiểu thuyết tự truyện qua đó nhà văn mổ xẻ, phân tích, đào sâu vào ký ức của chính bản thân để kể lại thời thiếu nữ, kể về mối quan hệ yêu đương đầu đời và những hệ quả về thể chất và tâm lý mà cô gái trẻ ấy chịu ảnh hưởng nhiều năm về sau.

Câu chuyện về quá trình trưởng thành của cô gái 17-18 tuổi trong một xã hội phương Tây này khiến độc giả suy nghĩ lại những quan niệm xã hội trói buộc giới nữ ở xã hội Pháp những năm 1958 (quan niệm về trinh tiết, tương quan quyền lực giữa hai giới nam nữ).

Trong tác phẩm này, Annie Ernaux vẫn có lối viết rất chân thật có phần trần trụi, cách tiếp cận các sự kiện và bối cảnh xã hội rất trực diện như trong mỗi tác phẩm của mình, thế nhưng đọc tiểu thuyết này của bà khiến mỗi độc giả có nhiều cảm xúc riêng và nhìn thấy chính bản thân họ trong đó.

van hoc duoc dai anh 3

Nhà văn Annie Ernaux. Tranh minh họa: Tatjana Prenzel/nybooks.

Những cuốn sách Annie Ernaux viết thường không dày, chỉ độ trên dưới 100 hoặc 200 trang. Văn phong của bà không phải là thứ văn của sự cầu kỳ hay hoa mỹ, không phải là giọng văn giàu cảm xúc.

Advertisement

Văn của Annie trung tính, có phần dửng dưng vì bà không hề sử dụng ẩn dụ hay hình ảnh, không để cảm xúc cá nhân xen vào văn phong của mình, vì thế cho dù chất liệu cho các tác phẩm bà viết đều lấy từ cuộc đời cá nhân tác giả, nhưng Annie Ernaux không hề viết nên những câu chuyện để tự luyến chính mình. Nét độc đáo trong văn của Annie Ernaux là bà viết về chính cuộc đời mình mà không hề rơi vào lối văn tự sự về cá nhân.

Mỗi một câu chuyện bà kể đều đi từ việc đào bới gốc rễ trong ký ức riêng nhưng kể lại được cả một thời đại, một thế hệ, tầng lớp xã hội. Đây chính là điểm độc đáo trong lối viết của Annie Ernaux. Các nhà phê bình văn học Pháp cũng như phương Tây đều cho rằng Annie Ernaux chính là người đã khai sinh ra thể loại văn học đương đại – tiểu thuyết hồi ký, sự đóng góp và sáng tạo cho văn học này, hẳn nhiên, là một trong những lý do khiến Viện Hàn Lâm Thụy Điển quyết định trao giải Nobel văn học 2022 cho bà.

Những câu chuyện cuộc sống thường nhật ẩn chứa giá trị nhân văn

– Bà đánh giá vị trí của Ernaux thế nào trong dòng chảy văn học?

– Không thể tranh cãi, vị trí của Annie Ernaux là chính yếu trong dòng chảy văn học đương đại Pháp và phương Tây. Tôi hy vọng với giải Nobel, văn chương của bà sẽ vươn đến những khu vực rộng lớn hơn trên thế giới.

Tác phẩm của Annie Ernaux được xem là đại diện cho tiếng nói của những người phụ nữ mưu cầu tự do và bình đẳng nhưng bị xã hội lãng quên.

Bảo Chân.

Advertisement

Annie là một nữ văn sĩ quan trọng của văn học Pháp và các nền văn học châu Âu như Đức, Bỉ, Tây Ban Nha… trong bối cảnh xã hội phương Tây hiện nay. Tôi thấy không ngoa khi đánh giá bà là một trong những tác giả chính yếu trong dòng chảy văn học vì sự sáng tạo trong lối viết và sự dấn thân trong các phong trào tư tưởng đấu tranh cho quyền bình đẳng và tự do của nữ giới. Ở Pháp, tác phẩm của Annie Ernaux được xem là đại diện cho tiếng nói của những người phụ nữ mưu cầu tự do và bình đẳng nhưng bị xã hội lãng quên.

– Sắp tới, bà có mong muốn được dịch tác phẩm khác của Ernaux?

– Tất nhiên, tôi rất mong muốn và sẵn lòng dịch bất cứ tác phẩm nào của Annie Ernaux sang tiếng Việt. Tôi không có sự chọn lựa ưu tiên của cá nhân. Tôi nghĩ rằng tất cả tác phẩm của bà xứng đáng được độc giả Việt Nam đón nhận, bởi vì mỗi cuốn sách của bà đều mang theo sự độc đáo và sáng tạo riêng.

– Bà nghĩ văn Ernaux có yếu tố nào dễ tiếp cận với độc giả Việt?

– Theo tôi, độc giả Việt Nam sẽ dễ cảm nhận và đồng cảm với lối viết chân thật; cách kể chuyện không cầu kỳ nhưng gợi cảm xúc trực tiếp cho người đọc. Những câu chuyện bà kể là những câu chuyện cuộc sống thường nhật và chuyện thân phận người phụ nữ. Đó là những câu chuyện mang nhiều giá trị nhân văn nên độc giả Việt hoàn toàn có thể thấu hiểu. Bằng chứng là các bản dịch của hai tác phẩm của bà đã được dịch và xuất bản ở Việt Nam đều được công chúng đón nhận và dành nhiều lời khen.

Advertisement

– Theo bà, giải Nobel Văn chương có ảnh hưởng thế nào tới việc kinh doanh sách ở Việt Nam?

– Cũng như đối với bất kỳ tác phẩm nào ở mọi quốc gia, một giải thưởng văn chương danh giá như giải Nobel sẽ khiến nhiều độc giả quan tâm nhiều hơn đến tác giả đoạt giải và các tác phẩm của họ. Điều này sẽ kích thích nhu cầu tìm đọc tác phẩm tăng lên, các cuốn sách đã phát hành sẽ bán chạy hơn. Thực tế là nhiều đầu sách phải tái bản để đáp ứng nhu cầu đọc của độc giả tăng mạnh sau giải thưởng.

– Ngoài Annie Ernaux, có tác giả nào khác mà bà nghĩ xứng đáng được Nobel vinh danh?

– Đây là một câu hỏi lớn, vượt ra ngoài tầm đánh giá của cá nhân tôi. Viện hàn lâm Thụy Điển có những tiêu chí xét giải dành cho Nobel văn học và theo quan sát cá nhân tôi họ có sự kiên định và thống nhất trong cách chọn tác giả để vinh danh qua nhiều năm mà không bị ảnh hưởng bởi dư luận.

Tôi nghĩ rằng văn học Pháp hay văn học các nước trên thế giới đều còn có một số nhà văn lớn khác xứng đáng được Nobel vinh danh. Tôi là một người dịch, một người đọc tôi có những tác giả lớn yêu thích của mình, những độc giả khác có những tác giả lớn yêu thích của họ, và trên thực tế thì ai cũng mong ước tác giả lớn của mình được vinh danh ở giả Nobel. Vậy nên tôi nghĩ chúng ta cứ dành sự hồi hộp thú vị này cho dịp tháng 10 hàng năm khi đón đợi một cái tên được vinh danh, đây cũng là điều làm nên sự quyến rũ của giải thưởng danh giá này.

Advertisement

Dịch giả Bảo Chân sinh năm 1978, hiện giảng dạy tại Khoa Tiếng Pháp, Trường Đại Học Sư Phạm TP HCM. Ngoài tác phẩm Hồi ức thiếu nữ, bà còn thực hiện chuyển ngữ nhiều tác phẩm đặc sắc khác như: Chuyện Sarah, Ngọc phương Nam, Đừng tự dối mình, Đêm, Làm sao nói về những cuốn sách chưa đọc

Nguồn: https://zingnews.vn/tieng-noi-cua-nhung-phu-nu-muu-cau-tu-do-va-binh-dang-post1363239.html

Continue Reading

Tác giả

Tìm căn cước của người đô thị từ những cửa ô

Published

on

By

Theo nhà văn Nguyễn Trương Quý, lịch sử làm nên căn cước con người. Trong du khảo “Triệu dấu chân qua những cửa ô”, anh tiếp tục nhìn về những dấu tích xưa, kể chuyện thành phố.

Nhà văn Nguyễn Trương Quý. Ảnh: NVCC.

Nguyễn Trương Quý là cây bút nổi tiếng với nhiều tác phẩm tản văn, du khảo đặc sắc về Hà Nội. Thành phố nơi tác giả sống trở thành nguồn cảm hứng bất tận, thành chủ thể văn hóa, một “nàng thơ” để nhà văn hướng ngòi bút của mình tới. Nhà văn từng nói, những tác phẩm khắc họa Hà Nội vẫn phản chiếu một cảm hứng đô thị lãng mạn, nối dài một mỹ cảm đã làm nên một hình tượng Hà Nội có phần kinh điển.

Tháng 10 này, Nguyễn Trương Quý lại tiếp nối dòng mỹ cảm, vẽ chi tiết thêm qua Triệu dấu chân qua những cửa ô. Từ những lối nhập thành, nhà văn tìm hiểu những câu chuyện của đời phố, những chuyến tàu xe theo dọc dài lịch sử cận và hiện đại chở những nhân vật văn hóa ấn tượng.

Nhà văn Nguyễn Trương Quý trao đổi về những ý niệm về một thành phố.

Advertisement

Nhà văn nào cũng cần có một siêu độc giả

– Là một nhà văn với sức viết dồi dào, anh có thể chia sẻ điều gì về thói quen viết của mình, đặc biệt là, trải nghiệm viết “Triệu dấu chân qua những cửa ô”?

– Tôi hay viết nhiều cuốn một lúc vì tôi đôi khi có nhiều ý tưởng, phải tìm cách tóm lấy để triển khai luôn, cái nào hơi bế tắc thì để lại. Nói chung là bên cạnh cảm hứng thì viết văn cũng cần có quy tắc, thậm chí nhiều là đằng khác.

Cuốn Triệu dấu chân qua những cửa ô tôi viết tiếp mạch của cuốn Hà Nội bảo thế là thường, nhưng đi sâu hơn về mặt ngữ liệu văn hóa và những mối liên thông văn hóa trong 100 năm trở lại đây. Tôi lần theo một kiểu bản đồ giấy can, chồng các niên đại lên nhau, so sánh xem ở Hà Nội đã có cái gì mới, đã có cái gì mất đi.

Tôi nghĩ cuốn này sẽ “thiên vị” những độc giả có một phông nền về hệ thống các sản phẩm văn hóa quá khứ, có trường nhìn gần gũi với tác giả hơn những cuốn tản văn khác của tôi.

viet ve Ha Noi anh 1

Sách Triệu dấu chân qua những cửa ô chụp trước một cửa ô Hà Nội. Ảnh: NVCC.

– Quá trình viết du khảo có khác gì so với viết tản văn không?

Advertisement

– Du khảo sẽ gần với nghiên cứu khoa học xã hội hơn, đòi hỏi người viết tìm hiểu ngữ liệu, khai thác tư liệu, tàng thư nhiều hơn. Tôi thường xuyên phải lui tới thư viện để tìm kiếm nguồn xác nhận thông tin. Ngoài ra, tôi cũng phải chọn cách tiếp cận khoa học hơn, sử dụng nhiều kỹ thuật, chú ý đến cấu trúc hơn. Cuốn sách mới của tôi tập trung viết về những nơi chốn, địa điểm ở Hà Nội, sự dịch chuyển đóng vai trò lớn, vì thế tôi lấy tên thể loại là du khảo.

Tản văn thì thoải mái hơn. Tản văn thiên về việc sử dụng cách viết nặng tính văn chương để tung hứng, thời lượng cũng có thể ngắn hơn.

Tôi cho là du khảo đòi hỏi một sự đầu tư dài hơi hơn, yêu cầu người viết ngay từ lúc bắt tay thực hiện đã phải tư duy về cấu trúc của một cuốn sách hoàn thiện.

– Sau nhiều tác phẩm đã xuất bản, anh rút ra được điều gì trong nghiệp viết?

– Tôi nghĩ để viết du khảo, người viết phải có sự tích lũy kiến thức lớn, qua việc học, việc đọc và trải nghiệm. Từ đó, ta mới có cơ sở để mổ xẻ vấn đề, soi xét và so sánh, lấy nhãn quan tiến bộ của thời hiện đại làm lăng kính.

Advertisement

Bên cạnh đó, viết cần có kỷ luật. Viết phải cân bằng giữa đáp ứng thời sự và đáp ứng chất lượng. Sau một thời gian, tôi nhận ra những bài tôi viết nhanh, viết vội cho kịp thời điểm, đôi khi các vấn đề bàn tới trong đó cũng chưa ngấm, chưa chín.

Với kinh nghiệm làm biên tập 11 năm, tôi thấy rằng tập hợp các bài đã đăng là chưa đủ. Đến lúc ra sách là câu chuyện văn chương rồi chứ không còn là câu chuyện của báo nữa. Tác giả và biên tập phải cùng sắp xếp, tái cấu trúc để tìm ra một cái mạch hấp dẫn và làm việc về ngôn ngữ dưới góc độ văn chương.

Một điều nữa tôi nhận ra từ quá trình làm nghề của mình đó là không nên thời trang hóa việc viết. Tôi thấy nhiều bạn trẻ đến với việc viết màu mè cứ như vào showbiz nhưng chưa định hình được sẽ đi đến đâu trong lao động câu chữ lẫn ý tưởng. Thời trang hóa việc viết làm cho nhiều người ảo tưởng về nghề. Chọn theo nghiệp văn chương thực ra khiến ta phải trả giá nhiều hơn. Chả phải riêng Việt Nam mà trên thế giới cũng vậy.

Có những bạn lại coi việc viết quá đao to búa lớn, tôi nghĩ nhà văn vừa phải nhẹ nhõm khinh khoái để viết tự nhiên, vừa phải chăm chỉ cần mẫn đủ độ, chứ cứ cắm đầu vào viết cũng chẳng nên. Tôi đã có giai đoạn như vậy, nhưng rồi nhận ra đấy không phải chìa khóa giải quyết.

Người cầm bút cũng không nên trông đợi quá mức vào sự ghi nhận của một đoàn thể, một sự ghi nhận quan phương nào đó.

Advertisement

Thay vì thế, nhà văn nên có một vài siêu bạn đọc thì hơn. Một người bạn tâm giao, một người có trình độ, kinh nghiệm và có cách thúc đẩy được mình.

– Siêu bạn đọc của anh là ai?

– Tôi có vài người bạn mà tôi gọi là siêu bạn đọc, thường là những người bạn đang giảng dạy, đang viết, đang phê bình văn học hay làm biên tập viên. Những người có thời gian để đọc cho mình, vô tư vì mình mà đọc. Chứ ở nước ngoài muốn có người đọc cho mình có khi còn mất phí ấy. Siêu bạn đọc của tôi là những người thân tình, đọc với tinh thần tỉnh táo, người mà mình không ngại sự phản biện từ họ.

Tôi nghĩ một trong số những người đọc quan trọng là biên tập viên. Họ giúp đỡ mình rất nhiều trong việc hoàn thiện sách. Những biên tập viên tốt đưa ra được những nhận xét rất xác đáng. Với kỹ năng, tầm nhìn của họ, họ đứng ở vị trí cầu nối giữa tác giả và người đọc. Họ hình dung ra hình dáng cuốn sách, gỡ rối giúp tác giả, đôi khi có những gợi ý, khích lệ làm sáng ý của tác giả hơn.

“Lịch sử làm nên căn cước của chúng ta hiện nay”

– Sau mỗi cuốn sách, cái nhìn của anh về Hà Nội có thay đổi không?

Advertisement

– Tất nhiên, mỗi cuốn sách là một cuộc hành trình, một khóa học giúp mình chắc chắn hơn một số điều, dè chừng, nghi ngờ một số điều. Cái nhìn của tôi về Hà Nội bây giờ khác nhiều với hồi tôi 18. Nhưng cũng có một số cảm quan tôi vẫn giữ.

Cái tôi thích nhất là sau khi tìm hiểu xong một điều, tôi cảm thấy vẫn còn cái khác mình có thể tìm hiểu thêm.

Khi tôi nghiên cứu về các nơi chốn ở Hà Nội cho cuốn sách này, tôi sử dụng một tấm bản đồ thành phố năm 1925, đánh dấu các địa điểm nổi bật liên quan các câu chuyện rồi lần theo.

Thường thì những giai đoạn viết của tôi gắn với một vấn đề đang nổi cộm trong thế giới hiện tại. Khi viết Triệu dấu chân qua những cửa ô, mình nghĩ tới chuyển động của người Hà Nội, hồi xưa người ta đi thế nào, khác bây giờ ra sao, tập quán văn hóa đã ghi lại những gì? Tôi phải tìm cách xác định số liệu như là tàu chạy từ bao giờ, giá vé hồi ấy là bao nhiêu. Thậm chí có thông tin rút ra từ bài ca dao được hát dạng xẩm tàu điện.

viet ve Ha Noi anh 2

Nhà văn Nguyễn Trương Quý. Ảnh: NVCC.

– Với những địa điểm thay đổi tại Hà Nội, anh có cảm thấy tiếc nuối giá trị xưa?

Advertisement

– Tùy địa điểm, nếu địa điểm có giá trị về mặt độc bản, về cảnh quan, kiến trúc, không gian gắn với văn hóa thì tôi sẽ thấy tiếc, tôi nghĩ giữ lại những địa điểm ấy sẽ làm cho đô thị có chiều sâu. Người ta đổ xô đi Paris, đi xem tháp Eiffel, xếp hàng vào bảo tàng Louvre… đó là những địa danh có vẻ đẹp vĩnh hằng, mang biểu tượng của một nét văn hóa vĩnh cửu. Đó là lý do người ta vẫn hoài niệm, lưu luyến những giá trị xưa cũ. Tôi nghĩ cái gì đến sau cũng nên tôn trọng cái trước.

Tuy nhiên, tôi cũng tránh hoài cổ quá mức, tránh tụng ca một chiều quá bảo thủ. Mình nên nhìn thấy cơ chế vận hành của sự phát triển và tôn trọng điều đấy. Cái gì bất hợp lý thì chỉ ra, cái gì thay đổi tốt thì ủng hộ.

– Anh nghĩ việc hiểu về quá khứ Hà Nội có ý nghĩa gì đối với người ở Hà Nội bây giờ?

– Nếu như không có quá khứ, chúng ta sẽ có điểm gì khác với những xã hội lân cận? Khó đấy, nhất là vào thời buổi giờ chúng ta đều mặc áo, đi giày nhãn hiệu phổ thông, đi chơi trung tâm thương mại. Nhưng ta đi ra những địa điểm có dấu ấn hàng trăm năm như Bờ Hồ, khu phố cổ hay hồ Tây, ta thấy bản sắc riêng nằm ở chính những dấu vết của thời gian. Đâu phải ngẫu nhiên mà người nước ngoài sang Việt Nam đi uống cà phê trứng, trà đá vỉa hè hay trải nghiệm những thứ có một câu chuyện lâu đời để thưởng thức? Lịch sử làm nên căn cước của chúng ta bây giờ. Không có quá khứ, ta không có bản sắc.

Khảo cứu về những nét xa xưa như vậy hé lộ chân dung của một đô thị đã vận hành thế nào. Hãy cứ nhìn những khu đô thị mới, sẽ thấy người ta khát khao những giá trị văn hóa cổ truyền đến nhường nào.

Nguyễn Trương Quý

Advertisement

Khảo cứu về những nét xa xưa như vậy hé lộ chân dung của một đô thị đã vận hành thế nào. Hãy cứ nhìn những khu đô thị mới, sẽ thấy người ta khát khao những giá trị văn hóa cổ truyền đến nhường nào. Các quán phở, quán cà phê ngày nay vẫn nhiều quán cố sao chép lại những hình bóng xưa, những đặc tính “gia truyền”. Người ta sẵn có một cái ẩn ức muốn tái tạo giá trị đã được thừa nhận.

Từ đó việc khảo cứu những nét xưa, chúng ta cũng rút ra kinh nghiệm về quản lý đô thị, quản lý văn hóa, để biết cách tạo sức hấp dẫn cho đời sống.

Với Triệu dấu chân qua những cửa ô, tôi không chạy theo mô tả hoặc liệt kê hiện tượng, mà tôi tập trung vào việc chỉ ra cách các hiện tượng ấy tái sinh thế nào trong nhịp sống. Văn hóa luôn có sự biến đổi, lộ trình luôn có điểm lặp, tựa như một vòng xoáy trôn ốc nhưng mở rộng ra.

Nhà văn Nguyễn Trương Quý sinh ra và sống tại Hà Nội. Anh tốt nghiệp kiến trúc, hiện viết văn, vẽ tranh, làm đồ họa và làm truyền thông. Anh đã cho xuất bản nhiều tác phẩm: Tự nhiên như người Hà Nội (2004); Ăn phở rất khó thấy ngon (2008); Hà Nội là Hà Nội (2010); Xe máy tiếu ngạo (2011); Còn ai hát về Hà Nội (2013); Dưới cột đèn rót một ấm trà (2013); Mỗi góc phố một người đang sống (2015); Lê la quà vặt & Ăn quà xuyên Việt (cùng Đặng Hồng Quân, 2016); Một thời Hà Nội hát – Tim cũng không ngờ làm nên lời ca (2018); Kể chuyện Tết Nguyên đán (cùng Kim Duẩn, 2019); Hà Nội bảo thế là thường (2020). Năm 2019, nhà văn đoạt Giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội.

Nguồn: https://zingnews.vn/tim-can-cuoc-cua-nguoi-do-thi-tu-nhung-cua-o-post1362667.html

Advertisement

Continue Reading

Tác giả

Điều khiến Annie Ernaux được trao giải Nobel Văn chương 

Published

on

By

Giải Nobel Văn chương 2022 đã gọi tên Annie Ernaux. Có điều gì đặc biệt trong văn nghiệp của bà khiến Viện Hàn lâm Thụy Điển quyết định trao giải thưởng cao quý này?

Nhà văn Annie Ernaux. Ảnh: Nobelprize.

Annie Ernaux sinh năm 1940, bà lớn lên ở một thị trấn nhỏ thuộc tỉnh Normandy, tại đây cha mẹ bà kinh doanh cửa hàng tạp hóa kết hợp với bán cà phê.

Trong suốt sự nghiệp văn chương, Ernaux luôn kiên trì khảo sát cuộc sống ở nhiều góc độ khác nhau, ở những thái cực có sự khác biệt sâu sắc liên quan đến vấn đề giới tính, ngôn ngữ và tầng lớp xã hội. Hành trình văn chương của bà là một con đường dài với nhiều gian truân.

Nỗ lực làm mới thể loại tự truyện

Những tác phẩm tự truyện của Ernaux kể về xuất thân nông thôn của bà trong giai đoạn đầu có thể xem là một nỗ lực nhằm mở rộng biên giới văn chương ra ngoài lĩnh vực hư cấu theo nghĩa hẹp.

Advertisement

Mặc dù bà có phong cách viết cổ điển với những nét đặc trưng riêng, Ernaux lại tự nhận rằng bản thân bà cảm thấy mình giống một “nhà dân tộc học” hơn là một người viết tiểu thuyết hư cấu. Bà thường nhắc đến tiểu thuyết Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust, nhưng điều đáng chú ý không kém là nhà xã hội học Pierre Bourdieu cũng có ảnh hưởng sâu sắc đối với bà.

Tham vọng xé toạc bức màn hư cấu đã khiến Ernaux ý thức đến việc tìm phương pháp tái tạo quá khứ nhưng đồng thời, bà cũng nỗ lực viết một kiểu văn xuôi dạng “nguyên sơ” dưới hình thức nhật ký, ghi lại những sự kiện thuần túy bên ngoài. Có thể thấy rõ điều này trong những tác phẩm như Journal du dehors (Ghi chép những sự kiện bên ngoài, 1993) hoặc La vie extérieure: 1993-1999(Cuộc sống bên ngoài: 1993-1999, 2000).

Annie Ernaux anh 1

Bìa sách Một chỗ trong đời. Ảnh: N.N.

Ở tác phẩm đầu tay của Annie Ernaux là Les armoires vides (Những chiếc tủ trống, 1974), người đọc đã có thể thấy rõ thiên hướng tự truyện của bà khi bà tự vấn lại việc mình xuất thân từ vùng Normandy.

Tuy nhiên, cuốn sách thứ tư của bà là Một chỗ trong đời mới chính là tác phẩm gây được tiếng vang trong giới văn chương. Chỉ với một trăm trang ít ỏi, bà đã tạo được bức chân dung khách quan về cha mình và toàn bộ môi trường xã hội hình thành cơ bản con người ông.

Bức chân dung này đã cho thấy khuynh hướng tiết chế mà bà đang muốn theo đuổi và những tiêu chuẩn mỹ học làm tiền đề cho các tác phẩm sau này. Vì vậy, có thể xem Một chỗ trong đời là khởi đầu cho loạt tác phẩm văn xuôi tự truyện vượt ra khỏi khuôn khổ thế giới thuần túy tưởng tượng của tiểu thuyết. Và mặc dù trong tác phẩm vẫn có giọng văn tường thuật nhưng cách diễn đạt rất trung tính, cố gắng lược bỏ sự định danh hết mức có thể.

Advertisement

Hơn nữa, Ernaux còn lồng ghép những suy tư về chính lối viết của mình vào trong tác phẩm, bà tự tách lìa bản thân ra khỏi “vùng trời thơ mộng của ký ức” và chủ trương lối viết trung tính. Ý niệm về lối viết trung tính có mối liên hệ chặt chẽ đến phong trào tiểu thuyết mới của Pháp vào những năm 1950, đó là nỗ lực để hướng đến cái mà Roland Barthes gọi là “độ không của lối viết”.

Ngôn ngữ sắc như dao để nhìn thẳng về quá khứ không chút ngại ngùng

Bà từng phát biểu rằng viết là một hành động chính trị, giúp chúng ta mở to mắt chứng kiến những bất công của xã hội. Với mục đích này, bà đã sử dụng ngôn ngữ như một “con dao” để xé toạc những bức màn tưởng tượng.

Vài năm sau khi ra mắt Một chỗ trong đời, bà lại tiếp tục giới thiệu đến công chúng một bức chân dung cô đọng hơn, lần này là đến lượt mẹ bà. Tác phẩm có tiêu đề giản dị là Une femme (Chuyện một người phụ nữ, 1987).

Tác phẩm này giúp người đọc nhận ra rõ ràng những đặc tính trong văn phong của Ernaux: luôn có sự dịch chuyển giữa thể loại tiểu thuyết, xã hội học và lịch sử. Với độ khúc chiết cực kỳ cao, tác phẩm đã vẽ nên bức chân dung tinh tế về mẹ bà – người phụ nữ thậm chí còn mạnh mẽ hơn cả cha bà – dù phải trải qua nhiều lúc khó khăn, vẫn giữ được phẩm cách cao quý.

Annie Ernaux anh 2

Sách Hồi ức thiếu nữ. Ảnh: Hạnh Nguyễn.

Trong tác phẩm La honte (Ô nhục, 1996), Annie Ernaux tiếp tục thực hiện cách viết tái cấu trúc quá khứ. Lần này, bà quay lại hoàn thiện hơn bức chân dung về cha với nỗ lực diễn giải cơn thịnh nộ đột ngột của ông dành cho mẹ ở một thời điểm cụ thể trong quá khứ.

Advertisement

Ngay từ dòng đầu tiên, tác phẩm đã tạo ra sự chấn động: “Cha tôi đã cố giết mẹ tôi vào đầu giờ chiều một ngày chủ nhật tháng sáu”. Như mọi khi, Ernaux luôn tìm cách vượt qua khuôn khổ giới hạn cho phép. Trong quyển sách, chính bà cũng đã viết rằng: “Tôi luôn muốn viết một cuốn sách mà mình không biết phải nói gì sau khi nó đã kết thúc, một cuốn sách khiến tôi không thể chịu nổi ánh nhìn soi mói của người khác”.

Điều khiến cho một trải nghiệm trở nên quá sức chịu đựng chính là nỗi ô nhục bắt nguồn từ những điều kiện sống hèn mọn. Khi Annie Ernaux viết, câu hỏi về phẩm giá hoặc sự mất phẩm giá chính là cội nguồn gốc rễ. Văn chương cho bà một nơi ẩn náu để viết ra những điều khó nói khi tương tác trực tiếp với người khác.

Annie Ernaux luôn tìm cách vạch ra những chướng ngại vật cản trở góc nhìn sáng suốt. Theo quan điểm của bà, cơ chế của nỗi ô nhục đóng vai trò đặc biệt trong chuyện này. Ở tác phẩm Mémoire de fille (Hồi ức thiếu nữ, 2016), bà soi xét lại vấn đề này từ khía cạnh khác. Cuốn sách kể về giai đoạn khi bà còn là thiếu nữ cuối những năm 1950, bà đã bị mất trinh tiết vào một mùa hè ở miền quê Normandy.

Có một đoạn văn mang thông điệp quan trọng trong tác phẩm này như sau: “Khi bạn muốn làm rõ sự thật đang tồn tại… sẽ luôn có một điều bị mất đi: sự trống vắng cảm giác thấu hiểu về trải nghiệm của mình vào khoảnh khắc chính bạn đang tự trải nghiệm.” Chướng ngại này được bà gọi là “độ mờ của hiện tại”.

Annie Ernaux cho thấy rằng bà luôn tin vào sức mạnh của việc viết. Tác phẩm của bà thể hiện tinh thần quyết liệt, với ngôn ngữ giản dị, lối viết sáng rõ. Bằng lòng quả cảm bà và sự điềm tĩnh sắc bén, bà đã vạch ra nỗi thống khổ trong trải nghiệm về giai cấp, miêu tả nỗi ô nhục, hèn mọn, ghen tị và sự bất khả trong việc ta nhận ra bản chất của chính mình. Trong quá trình bền bỉ thực hiện công việc ấy, bà đã đạt được điều gì đó thật đáng ngưỡng mộ và có tính trường tồn.

Advertisement

Nguồn: https://zingnews.vn/dieu-khien-annie-ernaux-duoc-trao-giai-nobel-van-chuong-post1362791.html

Continue Reading

Xu hướng