Connect with us

Sách hay

Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII

Được phát hành

,

Ấn phẩm được thực hiện để giúp các cấp, các ngành cùng toàn thể cán bộ, đảng viên và Nhân dân học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Phần thứ nhất trong chuyên đề “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”.

Lễ thượng cờ trên đỉnh Fansipan. Ảnh: Việt Linh.

I. Những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước pháp quyền.

1. Sự hình thành và phát triển tư tưởng, quan điểm về nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại

Nhà nước pháp quyền được thể hiện trên hai phương diện: (1) Tư tưởng, lý thuyết, quan điểm; (2) Tổ chức quyền lực nhà nước với những mô hình đa dạng, phong phú và có lịch sử lâu đời. Các tư tưởng, lý thuyết, quan điểm và mô hình đó đều hướng vào một ý niệm chung về cách thức tổ chức đời sống chính trị – xã hội theo các yêu cầu bảo đảm dân chủ, công bằng, vì con người trên cơ sở pháp luật; xác lập nguyên tắc thượng tôn pháp luật trong mối quan hệ pháp luật – quyền lực nhà nước – quyền con người.

Advertisement

Thượng tôn pháp luật với tính chất là hạt nhân của tư tưởng pháp quyền ra đời sớm nhất ở nhà nước Hy Lạp cổ đại. Ở phương Đông, trước hết là trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, tư tưởng dùng pháp luật để trị quốc cũng đã hình thành, phát triển và có những thời điểm đã trở thành quốc sách cai trị của các vương triều. Tư tưởng La Mã cổ đại đã coi pháp luật là hạt nhân của Nhà nước. Vì vậy, ở đó đã sớm hình thành một nền pháp luật trên cơ sở những nền văn hóa phát triển của các đế chế La Mã và Byzantine, với những chế định pháp luật, hệ thống tố tụng phát triển làm công cụ quản lý xã hội và thúc đẩy vai trò của người dân trong đời sống chính trị.

Thời kỳ trung đại kéo dài hàng nghìn năm ở phương Đông và hàng trăm năm ở phương Tây, dưới ách thống trị của các chế độ chuyên chế vương quyền và thần quyền đầy bạo lực và cuồng tín tôn giáo đã làm cho những tư tưởng pháp quyền có được từ thời cổ đại bị đẩy lùi đáng kể, dẫn đến tình trạng kém phát triển kéo dài. Thời kỳ này, pháp quyền không chỉ là tư tưởng, quan điểm, học thuyết mà đã trở thành hiện thực chính trị – pháp lý với sự ra đời của bản Đại hiến chương về các quyền tự do năm 1215 của nước Anh, còn gọi là Hiến chương Magna Carta.

Trong thời kỳ cận đại, khi mà các yếu tố của chủ nghĩa tư bản đã hình thành và phát triển đòi hỏi một trật tự pháp lý mới phù hợp với thế giới quan của giai cấp tư sản mà theo Ph. Ăngghen là thế giới quan pháp lý. Vì thế, các giá trị tư tưởng pháp quyền ra đời từ thời kỳ cổ đại và trung đại được phục hưng và phát triển. Nhà nước được coi là khế ước của xã hội dựa trên nhu cầu bảo đảm và bảo vệ quyền con người; kiểm soát và cân bằng quyền lực để kiểm soát quyền lực. Các giá trị của pháp luật như công bằng, lẽ phải, gắn với các giá trị đạo đức đã từng bước được khẳng định trong các học thuyết chính trị – pháp lý của lịch sử tư tưởng cận đại.

Trong thời kỳ hiện đại, đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới thứ hai, vấn đề nhà nước pháp quyền tiếp tục được đặt ra trong những điều kiện mới, nhấn mạnh nhiều hơn đến bảo đảm, bảo vệ quyền con người, chủ nghĩa Hiến pháp và tất cả được đặt trong tổng thể của vấn đề quản trị tốt. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, sau đó là hai bản công ước quan trọng về quyền con người đã được Liên hợp quốc ban hành vào năm 1966 là: Công ước về các quyền dân sự và chính trị; Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã khẳng định giá trị phổ quát, ý nghĩa toàn cầu của quyền con người và trách nhiệm của các quốc gia trong việc thúc đẩy quyền con người.

Ngày nay, pháp quyền đã trở thành một trong những nguyên tắc phổ biến của quản trị nhà nước dân chủ dựa trên cơ sở thượng tôn hiến pháp và pháp luật, vì con người và bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Các tư tưởng, quan điểm về nhà nước pháp quyền được phổ biến, phát triển trong các cộng đồng quốc tế và ở các quốc gia.

Advertisement

2. Các nguyên tắc pháp quyền và đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền

Các nguyên tắc pháp quyền

Nguyên tắc pháp quyền theo cách tiếp cận tổng quát là nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo về tính tối thượng của pháp luật trong đời sống nhà nước và xã hội. Theo cách tiếp cận các yếu tố cấu thành pháp quyền, các nguyên tắc pháp quyền cơ bản trong quản lý nhà nước, tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước gồm: (1) Pháp luật phải rõ ràng, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận; được tôn trọng và thực hiện nghiêm minh, công bằng, bình đẳng, nhất quán; (2) Quyền lực nhà nước được tổ chức và vận hành trong giới hạn, bị kiểm soát, ràng buộc bởi hiến pháp và pháp luật; (3) Quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ.

Ngoài ra, các học thuyết, tư tưởng, quan điểm về nhà nước pháp quyền dưới ảnh hưởng của chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội cụ thể của từng giai đoạn lịch sử và từng quốc gia, khu vực còn đưa ra những yêu cầu, giá trị đặc trưng về nguyên tắc pháp quyền, như thượng tôn hiến pháp, dân chủ, chủ quyền nhân dân, bảo vệ công lý, phân quyền, độc lập của tòa án, sự tham gia của giá trị đạo đức… nhưng nhìn chung đều thống nhất và phù hợp với các nguyên tắc pháp quyền cơ bản nêu trên

Các đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền

Advertisement

Dưới đây là những đặc trưng đã được thừa nhận rộng rãi:

(1) Khẳng định chủ quyền của Nhân dân và vai trò chủ thể của Nhân dân đối với quyền lực nhà nước. Nhân dân là nguồn gốc của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước thông qua các hình thức dân chủ, là nguồn gốc chính danh và hợp pháp của quyền lực nhà nước.

(2) Đề cao vai trò của hiến pháp và pháp luật trong hoạt động quyền lực và trong đời sống xã hội, bảo đảm thượng tôn hiến pháp.

Nhà nước phải đặt mình dưới hiến pháp và pháp luật, chịu sự ràng buộc của hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp được coi là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của nền dân chủ và chế độ pháp quyền, thể hiện ý chí, lợi ích của Nhân dân, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tôn trọng, thực hiện, bảo vệ sự tôn nghiêm của hiến pháp được coi là quyền và trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi thiết chế nhà nước, tổ chức và công dân. Giám sát tính hợp hiến trong các hoạt động quyền lực nhà nước và bảo vệ sự tôn nghiêm của hiến pháp là để bảo đảm, bảo vệ sự toàn vẹn của chế độ nhà nước, chế độ chính trị và chế độ xã hội.

(3) Tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, các giá trị công bằng, công lý.

Advertisement

Yêu cầu về tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người được hình thành trong bước chuyển lịch sử từ “con người – thần dân” sang “con người – công dân” trong nhà nước với các nội dung như quyền được sống, được tự do mưu cầu hạnh phúc, được bình đẳng, có đủ cơ hội để phát triển mọi khả năng của mình, được pháp luật bảo đảm và bảo vệ. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, các công ước quốc tế của Liên hợp quốc năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị và về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đều hướng trách nhiệm của nhà nước vào việc tạo lập môi trường đầy đủ và thuận lợi nhất cho việc thực hiện trên thực tế quyền con người, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, ngăn chặn các hành vi xâm phạm hoặc hạn chế bất hợp pháp quyền con người, đề cao công bằng và bình đẳng, chống mọi biểu hiện phân biệt đối xử về quyền và sự bất công dựa trên chủng tộc, tôn giáo, giới tính. Quyền con người là giá trị gắn liền với pháp quyền, là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của nhà nước pháp quyền. Quyền con người được công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ theo hiến pháp và pháp luật. Mọi cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân đều phải tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người. Tư tưởng đề cao các giá trị công bằng, công lý, quyền con người thể hiện tập trung ở chỗ, công bằng, công lý, quyền con người là các giá trị cao cả của xã hội, gắn liền với pháp quyền; hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội phải dựa trên pháp luật; pháp luật phải công bằng, hợp lý và có mục tiêu trọng tâm là bảo vệ quyền con người; nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người; tư pháp có sứ mệnh, trọng trách bảo vệ công lý, quyền con người; tư tưởng công bằng, bảo vệ công lý, quyền con người là nền tảng của việc xây dựng tố tụng tư pháp.

(4) Hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, thống nhất, đồng bộ, minh bạch, dễ tiếp cận và được thực hiện nghiêm minh, nhất quán, hiệu quả.

Bảo đảm dân chủ, công bằng, nhân đạo, thống nhất là mục tiêu của điều chỉnh pháp luật, là yêu cầu đối với quá trình kiến tạo pháp luật, đồng thời là cơ sở để bảo vệ công lý và quyền con người trong nhà nước pháp quyền. Tính minh bạch đòi hỏi pháp luật phải dễ hiểu, được công bố rộng rãi, giúp định hướng hành vi phù hợp pháp luật, bảo đảm tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người khác, đồng thời quy trình lập pháp, thủ tục hành chính và thủ tục tư pháp phải công khai, rõ ràng. Yêu cầu về thủ tục công bằng và chặt chẽ là sự biểu hiện rõ nét nhất nội hàm của nhà nước pháp quyền, giúp người dân biết rõ quyền và nghĩa vụ của mình để có hành vi phù hợp với pháp luật. Tính dễ tiếp cận là đòi hỏi pháp luật thực sự hướng đến con người trong thực tế, liên quan đến các vấn đề lớn như giải thích pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, dịch vụ tư vấn pháp luật và luật sư, trợ giúp pháp lý cho các đối tượng chính sách xã hội. Tính đầy đủ, kịp thời là yêu cầu xuất phát từ việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân, không tạo ra những khoảng trống, bất cập trong hệ thống pháp luật có thể hạn chế hoặc phương hại đến việc thực hiện các lợi ích chính đáng hợp hiến, hợp pháp của người dân và xã hội. Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật phải được thực hiện nghiêm minh, nhất quán và hiệu quả để bảo đảm vai trò, hiệu lực của pháp luật và ý thức thượng tôn pháp luật.

(5) Phân quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước.

Bản chất của quyền lực nhà nước là thống nhất, được phân chia thành những nhánh quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Thống nhất là mặt bản chất của quyền lực nhà nước, phân quyền luôn được hiểu là cơ chế có tính chất tổ chức pháp lý để bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước.

Advertisement

Kinh nghiệm tổ chức quyền lực trong nhà nước pháp quyền tại các quốc gia trên thế giới cho thấy, cơ chế phân quyền, ngoài các đặc trưng phổ biến nêu trên, còn có nhiều biến thể mang dấu ấn và đặc thù quốc gia, dân tộc, văn hóa, chính trị, đặc điểm của hệ thống pháp luật.

(6) Độc lập xét xử của tòa án.

Độc lập xét xử của tòa án được hiểu ở hai mức độ: Sự độc lập giữa các tòa án bên trong hệ thống của mình; Sự độc lập của các thẩm phán khi xét xử. Độc lập xét xử của tòa án là điều kiện để thực hiện chức năng quan trọng của nhà nước – chức năng thực hiện pháp luật công bằng, nghiêm minh, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân, duy trì và bảo vệ công lý.

Tính phổ biến và tính đặc thù của nhà nước pháp quyền

Tính phổ biến của nhà nước pháp quyền trước hết thể hiện đây là giá trị, tinh hoa của nhân loại, được hình thành, phát triển trong lịch sử lâu dài, được kiểm nghiệm và thể nghiệm trong thực tiễn tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước. Tính phổ biến của nhà nước pháp quyền thể hiện qua việc được ghi nhận trong hiến pháp của các quốc gia trên thế giới: Trong số 125 hiến pháp của các nước đã có 96 hiến pháp ghi nhận về nhà nước pháp quyền.

Advertisement

Tính đặc thù xuất phát từ trình độ phát triển kinh tế – xã hội; đặc điểm văn hóa, trong đó có văn hóa chính trị và văn hóa pháp lý; truyền thống tổ chức đời sống các cộng đồng dân cư, tính chất và đặc điểm của hệ thống pháp luật…

Khi áp dụng mô hình nhà nước pháp quyền, các quốc gia đều căn cứ trước hết từ những giá trị chung trên cơ sở kết hợp với đặc thù quốc gia, dân tộc. Sự kết hợp đó không cản trở lẫn nhau, trong đó yếu tố không thể thiếu trong nhà nước pháp quyền là những yếu tố mang tính phổ biến, được đặt trong mối liên hệ thống nhất và hài hòa với các yếu tố có tính đặc thù quốc gia.

Nguồn: https://zingnews.vn/van-de-ly-luan-co-ban-ve-nha-nuoc-phap-quyen-post1382331.html

Advertisement
Tiếp tục đọc
Quảng cáo
Nhấn vào đây để bình luận

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Sách hay

Thần Tài là ai và nguồn gốc ngày vía Thần Tài

Được phát hành

,

Bởi

Thần Tài được hội nhập vào hệ thống thần bản gia – tức các thần linh bảo hộ cho gia đình, mang lại tiền tài, sự giàu có.

Ngay via Than Tai anh 1

Chế tác hình mèo cho ngày vía Thần Tài tại một tiệm vàng. Ảnh: Trương Hiếu.

Trong cuốn Thần đất – Ông địa & Thần Tài, dựa vào thư tịch, hệ thống tượng thờ, truyện kể dân gian, nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng cho biết tập tục thờ Thần Tài ra đời và phổ biến rộng rãi với sự phát triển của lực lượng doanh thương.

Vị thần biểu trưng cho tiền tài, sự giàu có

Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, sẽ rất khó xác định việc thờ tự Thần Tài ở ta có từ bao giờ, nhất là khi Thần Tài được hội nhập vào hệ thống thần bản gia – tức các thần linh bảo hộ cho gia đình (trong cơ cấu thần linh trong gia đình có thể chia ra: Tổ tiên gia chủ; Các thần độ mạng cho vợ chồng gia chủ; Các thần tổ nghiệp; Các đối tượng thờ cúng có từ tôn giáo; Các vị thần bản gia). Các thần bản gia gồm có Táo Quân, Thổ thần, Ngũ tự và Thần Tài.

Cũng theo tác giả, ở ta tín ngưỡng thờ Thần Đất, Thổ Địa có từ lâu và việc thờ tự vị thần này dựa vào hai tín lý cơ bản: Một là vị phúc thần bảo vệ cộng đồng dân cư; hai là vị thần ban sung túc, thịnh vượng.

Advertisement

Mãi cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chúng ta mới thấy Thần Tài được thờ tự và non nửa thế kỷ sau trở thành một gia thần phổ biến với mọi nhà. Điều này khá hợp lý vì trong giai đoạn lịch sử này, kinh tế hàng hóa phát triển và phong trào tranh thương đã được đẩy lên bởi lớp điền chủ tư sản Việt, nghề nghiệp doanh thương không còn bị đánh giá thấp như ở thời phong kiến trước đó.

Ngay via Than Tai anh 2

Tượng Thổ Địa – Thần Tài. Nguồn: Sách Thần Đất – Ông Địa & Thần Tài.

Tuy nhiên, sự phân biệt giữa Thần Đất (Thổ thần) và Tài thần ở thời kỳ này vẫn còn chưa thực sự rõ rệt. Trong cuốn Đại Nam quấc âm tự vị (xuất bản năm 1895), tác giả Huỳnh Tịnh Của đã cắt nghĩa Thổ thần và Tài thần đều là “Thần đất, thần giữ tiền bạc”.

Hiện tượng này có thể xuất phát từ tín lý cổ xưa về Thần Đất có hai công năng: Một là bảo vệ cho một diện tích đất đai nào đó (nền nhà, vuông vườn, xóm ấp…); hai là nguyên lý sinh sản (hoa màu, nông sản…) của đất theo tín lý phồn thực. Nói cách khác Thổ Địa cũng làm cho gia chủ phát đạt, giàu có (được mùa, bội thu…). Đó là tín lý của thời kỳ “dĩ nông vi bản” – coi nông nghiệp là sản xuất chính yếu, coi thương nghiệp là thứ yếu.

Tuy nhiên, trong thực tế, Thần Tài không thay thế được thần Đất mà hai vị thần này được chấp nhận cộng tồn bên nhau, được thờ chung trong một khám thờ đặt sát đất, quay mặt ra theo hướng cửa chính của ngôi chùa, am, miếu hay ngôi nhà…

Thổ Địa (ông Địa) với hình tướng hỗn dung, mang thuộc tính sinh sản của đất, hàm chứa tính phồn thực, là nền tảng cơ bản của tín ngưỡng Thần Tài (với việc am hiểu địa bàn thần quản lý, ông Địa trở thành tiếp dẫn viên: “Môn khẩu Thổ Địa tiếp dẫn thần Tài”).

Advertisement

Còn Thần Tài, một vị thần ý niệm, biểu trưng cho tiền tài, sự giàu có, tức không có thần tích, thần phả gì, mang hình tướng của Phúc Đức Chánh Thần của người Hoa, chỉ khác là một tay vuốt râu và tay kia cầm xâu tiền điếu (hay thoi vàng xuồng). Đây là hình tướng phổ biến nhất. Kế đó là loại Thần Tài tay ôm bó bông lúa, tay vuốt râu. Cá biệt cũng có loại Thần Tài giống ông Thọ (trong bộ Tam Đa) với cái đầu hói đặc trưng, tay cầm quạt ba tiêu, cổ đeo xâu tiền điếu quanh bụng, dài quá rốn…

Ngay via Than Tai anh 3

Thần Tài: 1. Dạng ôm bó lúa; 2. Dạng xách xâu tiền điếu. Nguồn: Sách Thần Đất – Ông Địa & Thần Tài.

Gốc gác ngày vía Thần Tài

Theo tín niệm của dân gian, ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch hàng năm là ngày vía Thần Tài. Trong ngày này, ngoài việc thực hiện các tập tục thờ cúng, người ta thường đi mua vàng với mong ước một năm mới làm ăn phát tài.

Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch vốn không phải ngày vía Thần Tài mà là ngày vía đất. Vì Thần Tài và Thổ Địa có nhiều nhân duyên với nhau, được thờ chung một khám thờ, không tách rời nhau, nên người ta đã lấy ngày này là vía Thần Tài.

Theo nhà nghiên cứu, việc chọn ngày mùng 10 âm lịch làm ngày cúng Thổ địa có lẽ bắt nguồn từ một quan niệm về sự sinh thành trời đất và các loài vật mà Đông Phương Sóc đưa ra vào đời nhà Hán.

Theo quan niệm này, khởi thủy những ngày đầu tháng Dần (tháng giêng) thì: ngày mùng 1 sinh ra giống gà; ngày mùng 2 sinh thêm giống chó; ngày mùng 3 sinh thêm giống lợn; ngày mùng 4 sinh thêm dê; ngày mùng 5 sinh thêm trâu; ngày mùng 6 sinh thêm ngựa; ngày mùng 7 sinh ra loài người; ngày mùng 8 sinh ra ngũ cốc; ngày mùng 9 sinh ra trời; ngày mùng 10 sinh ra đất.

Advertisement
Ngay via Than Tai anh 4

Cuốn Thần đất – Ông địa & Thần Tài. Ảnh: Sachkhaitri.

Từ tín lý này, người ta tạo ra các tập tục lễ thức: Tháng giêng là tháng Dần nên Tết đều dán “bùa nêu – ông Cọp”. Ngày mùng 7 là ngày “nhân nhật” nên có lễ khai hạ, mùng 9 sinh ra trời là ngày vía Ngọc hoàng và mùng 10 là sinh ra đất, cúng đất, gọi là vía đất.

Cũng theo nhà nghiên cứu, vía đất gắn với tập tục động thổ sau những ngày đầu năm: tức sau lễ này thì việc cày bừa, giã gạo, bổ củi, đốn cây mới được phép tiến hành. Đối tượng của cuộc lễ này không chỉ là thần bản gia Thổ Địa mà là đất, nói chung là “cúng đất đai” và nói chỉ định hơn là Địa Kỳ, Hậu Thổ, một nghi lễ được tiến hành sau ngày vía Trời, Thiên Hoàng (ngày 9/1).

Lệ cúng đất sẽ diễn ra vào ngày mùng 10 cả 5 tháng đầu năm bắt nguồn từ quan niệm cho rằng ngày 10 tháng giêng là ngày vía sinh, tức cúng mừng sinh nhật đất và cho đến tháng 5 có ngày Địa Lạp tức ngày giỗ kỵ của đất, có nghĩa là ngày địa chết.

Ngoài lý giải trên còn có quan niệm các ngày mùng 10 âm lịch của 5 tháng đầu năm là ngày vía (ngày sinh) của các thần “Ngũ phương ngũ thổ” tức các Thổ Thần ở bốn phương và trung ương. Và mỗi ngày mùng 10 của 5 tháng đầu năm là ngày vía của một trong năm vị Thổ Thần đó.

Ngoài ra cũng có ý kiến cho rằng ngày mùng 2 và 16 hàng tháng âm lịch là lệ cúng thông thường của 5 thần Ngũ Phương và lệ cúng Thần Tài cũng được tích hợp chung vào đó.

Advertisement

Nguồn: https://zingnews.vn/than-tai-la-ai-va-nguon-goc-ngay-via-than-tai-post1397608.html

Tiếp tục đọc

Sách hay

50 năm Hiệp định Paris – Mốc son lịch sử

Được phát hành

,

Bởi

Sách trình bày bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và những bài học lớn từ Hiệp định Paris.

Theo bà Nguyễn Thị Bình, Nguyên phó Chủ tịch nước, cho rằng Hiệp định Paris là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, dẫn đến đại thắng mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước.

Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Lễ ký kết Hiệp định Paris, ngày 27/01/1973
Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam.

Bài phỏng vấn nhân kỷ niệm 50 năm Hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2023), in trong sách 50 năm Hiệp định Paris – Mốc son lịch sử.

– Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/1/1973 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, dẫn đến đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Với vai trò của người trong cuộc, xin bà chia sẻ về những dấu ấn nổi bật trong quá trình đàm phán?

Advertisement

– Trước hết cần khẳng định rằng Hiệp định Paris là thành quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ, lâu dài trong lịch sử ngoại giao Việt Nam với 4 năm, 8 tháng, 14 ngày. Trong gần 5 năm đàm phán đó, đoàn đàm phán của Việt Nam đã không bỏ lỡ bất kỳ một cơ hội nào để có thể đi đến một ký kết nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh đang diễn ra khốc liệt trên đất nước ta. Nhưng để chấm dứt chiến tranh không chỉ tùy thuộc ở ta, mà còn tùy thuộc vào đối phương, đặc biệt là cuộc chiến đấu trên chiến trường.

Trong suốt quá trình đàm phán, Bác Hồ và các đồng chí trong Bộ Chính trị đã có chủ trương rất đúng về ngoại giao. Trước hết là đã đánh giá được tình hình không chỉ trên chiến trường, về quân sự, chính trị, mà đánh giá cả tình hình thế giới. Từ đó, thấy rằng, trong ba năm đầu, từ năm 1969 đến năm 1971, trên chiến trường có sự giằng co giữa ta và địch; về mặt chính trị khi đó chúng ta mạnh hơn, nhưng về mặt quân sự thì ta với địch ở thế giằng co. Đến năm 1972, chúng ta ở thế chủ động trên chiến trường, mở nhiều chiến dịch trên khắp chiến trường miền Nam, đặc biệt ở Quảng Trị.

Ngược lại, Mỹ đàm phán muốn rút quân, nhưng phải rút trên thế mạnh. Do đó, Mỹ vẫn có nhiều hoạt động phá hoại miền Bắc, đánh phá miền Nam; ngăn chặn viện trợ của miền Bắc cho miền Nam, bắn phá tuyến đường Trường Sơn. Đỉnh điểm là đêm 18/12/1972, Tổng thống Mỹ Nixon đã ra lệnh ném bom hủy diệt Hà Nội và Hải Phòng bằng máy bay B.52. Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm được ví là “Trận Điện Biên Phủ trên không” kết thúc bằng việc 34 pháo đài bay B.52 và hơn 40 máy bay chiến đấu khác của Mỹ bị bắn rơi. Thất bại của Mỹ trên chiến trường miền Nam cùng với thất bại của không quân chiến lược Mỹ trên bầu trời Hà Nội, đã đẩy Mỹ vào thế thua không thể gắng gượng nổi về mặt quân sự.

Trong khi đó, có một thuận lợi cho ta, đó là dư luận quốc tế, đặc biệt là phong trào phản chiến ở Mỹ, đã tạo áp lực cho Tổng thống Richard Nixon, đặt chính quyền Nixon vào thế phải chấm dứt chiến tranh.

Mặt khác, từ ba năm trước đó, chúng ta đã nêu ra hai yêu sách để đấu tranh với Mỹ, đó là: Mỹ rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam; xóa bỏ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Phải giải quyết hai vấn đề đó mới chấm dứt được chiến tranh. Tuy nhiên, trong tình hình chiến trường và quốc tế như vậy, trên bàn hội nghị, chúng ta chỉ tập trung vào việc Mỹ rút quân, còn vấn đề chính trị miền Nam thì do các bên Việt Nam tự giải quyết. Đây là lựa chọn khôn ngoan.

Advertisement

Vì thế, sau đó Nixon mới chịu đi vào đàm phán thực chất. Và cuối cùng, ngày 22/01/1973 tại Trung tâm các Hội nghị quốc tế Kléber, đúng 12 giờ 30 phút (giờ Paris), Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Cố vấn cấp cao Kissinger ký tắt. Ngày 27/01/973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký chính thức giữa Bộ trưởng Ngoại giao các bên.

Với Hiệp định này, Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, rút khỏi Việt Nam và Đông Dương, chấm dứt dính líu quân sự, tạo thuận lợi cho cách mạng phát triển; chính quyền và quân đội Sài Gòn mất chỗ dựa về quân sự, bị suy yếu và lún sâu vào khủng hoảng chính trị. Đây là điều kiện thuận lợi cho ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào”, giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975.

– Thắng lợi của Việt Nam tại cuộc đàm phán Paris là minh chứng tập trung nhất về sự đúng đắn, tài tình của đường lối, sách lược của nền ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Xin bà chia sẻ về nhận định này?

– Đàm phán Hiệp định Paris có thể nói là cuộc đàm phán dài nhất để chấm dứt một cuộc chiến tranh cũng dài nhất trong thế kỷ XX. Là cuộc đối thoại giữa hai thế lực đối đầu trên chiến trường, một bên là lực lượng xâm lược của một đế quốc đầu sỏ và bè lũ tay sai, có thế mạnh vượt trội về quân sự và kinh tế; một bên là lực lượng chống xâm lược và bảo vệ Tổ quốc, yếu về quân sự và kinh tế nhưng lại có sức mạnh của chính nghĩa. Và đây còn là tâm điểm cuộc đối chọi giữa hai nền ngoại giao, một bên là nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường đã tồn tại trên 200 năm, với một bên là nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ.

Như chúng ta biết, nước Mỹ có nền ngoại giao lâu năm, bộ máy ngoại giao lớn, quan hệ quốc tế rộng và có kinh nghiệm xử lý các vấn đề quốc tế với nhiều đối tượng khác. Các nhà đàm phán Mỹ như Harriman, Cabot Lodge, Henry Kissinger là những nhà ngoại giao sắc sảo, nhiều thủ thuật. Hơn nữa, đàm phán là thương lượng giữa hai hay nhiều bên bình đẳng. Bởi vậy, trong quá trình đàm phán với Mỹ, giữ được thế chủ động, kiên trì mục tiêu đề ra là mối quan tâm lớn của ta trong nghệ thuật đàm phán. Để tranh thủ thế chủ động trong đàm phán, ta vận dụng tư tưởng đánh lâu dài, không chịu sức ép nào, kiên trì đấu tranh, lại biết xoáy vào thế yếu của đối phương là Mỹ bị sa lầy ở Việt Nam và lại chịu nhiều sức ép… nên phải tìm cách kết thúc sớm chiến tranh, để tranh thủ thế chủ động trong đàm phán.

Advertisement

Sự phối hợp giữa đàm phán với chiến tranh quân sự đưa đến thành công rõ rệt nhất là góp phần giành thắng lợi từng bước, buộc địch phải xuống thang từng bước, làm thay đổi dần so sánh lực lượng và thế trận trên chiến trường. Từ năm 1969, bước vào Hội nghị bốn bên, chúng ta thực hiện Chỉ thị của Trung ương là: “Đẩy địch xuống thang một bước trên chiến trường chính, ép Mỹ đơn phương rút một bộ phận quân Mỹ”.

Sức mạnh tổng hợp của ta cùng phong trào phản chiến đang dâng cao ở Mỹ đã buộc chính quyền Mỹ phải rút trên 400.000 quân Mỹ trong 3 năm, tạo thuận lợi quan trọng cho chiến trường. Mỹ rút quân hòng chuyển sức ép sang phía ta, nhưng đàm phán đã góp phần tiếp tục tạo sức ép đòi Mỹ rút nhanh, rút hết. Đàm phán hỗ trợ đấu tranh quân sự đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Nixon, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris rút hết quân Mỹ. Đây là bước “xuống thang” lớn nhất của Mỹ, là thắng lợi cao nhất của ta trong đàm phán phối hợp với chiến trường.

Có thể nói, ta giành được thế chủ động trong đàm phán vì đã chủ động trong điều hành cục diện cuộc chiến, ta biết phát động và biết kết thúc đấu tranh theo mưu lược của ta. Mặt khác, đi vào đàm phán, ta nắm chắc chiến trường, nội bộ Mỹ và xu thế quốc tế để tính toán cung cách và bước đi chặt chẽ, giữ vững quyền chủ động trong quá trình thương lượng.

Chúng ta phối hợp chặt chẽ giữa ngoại giao – đàm phán với đấu tranh quân sự là có sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lấy tình thế và yêu cầu của chiến trường làm cơ sở, kết hợp xem xét tình hình và dư luận quốc tế cùng tình hình nội bộ Mỹ để quyết định bước đi và biện pháp ngoại giao tối ưu nhất. Và nhờ đó, chúng ta đã giành được thắng lợi bằng việc ký kết Hiệp định Paris, tạo điều kiện thuận lợi tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

– Với vai trò là Trưởng đoàn đàm phán, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị bốn bên tại Paris, bà nổi tiếng với phong cách ngoại giao bản lĩnh và khéo léo, được giới truyền thông đặt cho biệt hiệu “Madame Bình”. Bà có thể bình luận thêm về nhận định này?

Advertisement

– Năm 1968, tôi đảm nhận vai trò Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, là người phụ nữ duy nhất đại diện cho Việt Nam tham gia Hội nghị bốn bên về hòa bình tại Paris từ năm 1968 đến năm 1973 và cùng ký tên vào bản Hiệp định ngày 27/01/1973. Đó là cả một khoảng thời gian khó khăn, áp lực, căng thẳng đối với cá nhân tôi và các thành viên tham gia đoàn đàm phán. Song, đó cũng là khoảng thời gian mà tôi học hỏi, tích lũy được nhiều bài học về công tác ngoại giao, mà tôi cho rằng những bài học đó cho đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị.

Trước hết, đó là bài học phải giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, phải xuất phát từ lợi ích quốc gia, phải biết rõ lực lượng mình như thế nào, đối phương ra sao để quyết định từng bước đi và luôn luôn có sự kết hợp giữa chiến trường và trên mặt trận ngoại giao – bài học về độc lập, tự chủ.

Thứ hai, là phải kiên định đối với lập trường, nguyên tắc và mục tiêu chiến lược của mình, nhưng trong sách lược phải biết mềm dẻo.

Thứ ba, là biết kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế nhưng phải dựa vào sức mình là chính. Những bài học lớn mang tính nguyên tắc này chúng ta có thể vận dụng trong việc xây dựng đường lối đối ngoại của ta trong giai đoạn hiện nay cũng như mai sau.

Còn đi vào cụ thể, chúng ta sẽ có được những bài học cụ thể, ví dụ khi đi vào đấu tranh trong từng phiên họp, trên các vấn đề lớn, ta cũng phải biết cách gạt các mũi tấn công, các đòn gây sức ép của đối phương bằng những lý lẽ, lập luận sắc bén, các cách ứng xử quyết liệt. Thực tế, trong quá trình đàm phán, không phiên họp nào mà phía Mỹ không đề cập vấn đề “rút quân miền Bắc”; họ xoáy vào vấn đề này nhằm đánh lừa dư luận, gây khó khăn cho ta. Ta một mặt khẳng định: “Thực hiện quyền dân tộc tự vệ thiêng liêng, mọi người Việt Nam đều có quyền chiến đấu trên bất kỳ mảnh đất nào của Tổ quốc mình”.

Advertisement

Mặt khác, ta đưa ra phương thức “Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do các bên Việt Nam giải quyết”. Lập trường này đã được đưa thành một điều khoản (Điều 13) của Hiệp định Paris. Hay như trên vừa nói, thời Nixon, Mỹ mấy lần cho ném bom lại một số nơi ở miền Bắc để gây sức ép, khiến không khí đàm phán căng thẳng. Đoàn đàm phán ta đến phiên họp đọc bản tuyên bố lên án Mỹ rồi bỏ họp mà không để đối phương kịp phản ứng. Chủ động bỏ họp như vậy cũng là một cách tấn công gây tác động mạnh trong dư luận.

Hoặc trong tiến trình đàm phán, chúng ta cũng cần khôn khéo trong việc trả lời phỏng vấn của báo chí nước ngoài. Tôi còn nhớ trong một buổi trả lời phỏng vấn, có nhà báo hỏi: “Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?”. Tôi đã cương quyết, khéo léo trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”. Có nhà báo lại hỏi: “Vùng giải phóng ở đâu?”. Tôi trả lời: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?”…

Việc trả lời những câu hỏi của báo chí cũng chính là một kênh thể hiện quan điểm, lập trường của phía ta trong tiến trình đám phán đi đến ký kết Hiệp định, cũng như chủ trương, đường lối cách mạng của Đảng và nhân dân ta trong cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đó là những chi tiết rất nhỏ, nhưng những người làm công tác ngoại giao cần phải đặc biệt chú trọng.

Hội nghị Paris đã khép lại cách đây 50 năm với nhiều bài học kinh nghiệm và giá trị lịch sử to lớn; là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; tôi tin rằng, những người làm công tác ngoại giao hôm nay sẽ vận dụng và phát triển những bài học kinh nghiệm quý báu đó trong tiến trình đất nước hội nhập quốc tế, sánh vai với các cường quốc năm châu, ngày càng lớn mạnh, phồn vinh.

Nguồn: https://zingnews.vn/hiep-dinh-paris-la-thang-loi-co-y-nghia-chien-luoc-post1397029.html

Advertisement

Tiếp tục đọc

Sách hay

Ám ảnh đằng sau những chiếc điện thoại đắt tiền

Được phát hành

,

Bởi

“Cobalt Red” của Siddharth Kara đi sâu vào câu chuyện kinh hoàng của việc khai thác khoáng sản quý hiếm và nhiều người làm giàu trên sự đau khổ của đồng loại.

Hoạt động khai thác cobalt diễn ra trong điều kiện lao động nguy hiểm. Ảnh: New York Times.

Cobalt là một khoáng chất cần thiết để sản xuất pin của các thiết bị thông minh, xe điện và nhiều sản phẩm điện tử khác. Smartphone – vật dụng hầu như ai cũng có – chứa khoảng vài gram nguyên tố này.

Trong quyển Cobalt Red, tác giả Siddharth Kara chỉ ra góc khuất của quá trình khai thác khoáng sản quý hiếm. Rất có thể, để tạo nên chiếc điện thoại bạn đang cầm trên tay, những công nhân làm việc trong hầm mỏ tăm tối ở châu Phi đã bị bóc lột tàn nhẫn.

Gần một nửa trữ lượng cobalt của thế giới được tìm thấy ở Cộng hòa Dân chủ Congo, quốc gia hứng chịu xung đột kéo dài, bị biến thành địa điểm tranh giành ảnh hưởng chính trị và chiếm cứ nguồn tài nguyên chiến lược.

Advertisement

Sử dụng lao động vị thành niên xuất hiện tràn lan trong lĩnh vực khai thác mỏ tại Congo. Vào năm 2016, Tổ chức Ân xá Quốc tế và nhóm giám sát Afrewatch chỉ trích các công ty đa quốc gia như Apple và Samsung sử dụng nguồn cobalt khai thác thông qua bóc lột sức lao động.

Ngành công nghệ cam kết sẽ cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân tại các khu mỏ. Tuy nhiên, kể từ đó, nhu cầu cobalt ngày càng tăng cao. Việc này đã thôi thúc Siddharth Kara bắt tay vào điều tra.

Là giảng viên tại Kennedy School thuộc Đại học Harvard, Kara từng viết về nạn buôn bán tình dục và các hình thức khác của “nô lệ hiện đại”. Giống những quyển sách trước đó, thông qua Cobalt Red, tác giả muốn vạch trần sự thật về tình trạng bóc lột lao động đang diễn ra trong ngành công nghiệp khai khác mỏ.

Kara đưa độc giả “đi theo con đường duy nhất dẫn đến sự thật” tại khu mỏ Katanga, trung tâm khai thác cobalt tại thành phố Kolwezi (Congo).

khai thac mo cobalt anh 1

Bìa sách Cobalt Red. Ảnh: Barnes&Noble.

Kể từ khi bị vua Bỉ Leopold II chiếm giữ vào năm 1885, sông Congo và lưu vực đã cung cấp cho thế giới – đặc biệt là Mỹ – nhiều của cải: ngà voi, cao su, dầu cọ, kim cương, uranium. Tuy nhiên, ngày nay hơn 3/4 dân số Congo sống dưới mức nghèo khổ, trong khi rất ít người được tiếp cận với nước sạch và điện.

Advertisement

“Chưa bao giờ người dân Congo được hưởng lợi từ các mỏ của đất nước. Chúng tôi chỉ trở nên nghèo hơn”, một nhà lãnh đạo cộng đồng nói với Kara.

Từ năm 2018, tác giả đã thực hiện một số chuyến đi đến các khu vực khai thác mỏ của Congo, những địa điểm nằm trong phạm vi tranh giành gay gắt, đầy rẫy nguy hiểm. Tại đây, những người thợ mỏ làm việc cực nhọc trong các mỏ sâu và đường hầm lộ thiên. “Hơn 15.000 đàn ông và thiếu niên đang đập búa, xẻng và la hét bên trong miệng hố, hầu như không có chỗ để di chuyển hoặc thở”.

Những người thợ mỏ, hầu hết không có đồ bảo hộ, lao động giữa kim loại độc hại. Kara phỏng vấn một số người bị tàn tật suốt đời do tai nạn và chứng kiến ​​xác một cậu bé vị thành niên được đưa ra khỏi đường hầm vừa sập. Vụ việc khiến 63 người thiệt mạng.

Theo New York Times, điều đáng giá của Cobalt Red là tác giả đã đi sâu vào khám phá quá trình khai thác mỏ dựa trên lao động cưỡng bước, sau đó đưa sản phẩm thu được vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nguồn: https://zingnews.vn/am-anh-dang-sau-nhung-chiec-dien-thoai-dat-tien-post1397353.html

Advertisement

Tiếp tục đọc

Xu hướng