Connect with us

Tác giả

‘Viết để lập danh, kiếm tiền sẽ chỉ thấy bẽ bàng mà thôi’

Được phát hành

,

Nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang thực hiện cuốn “Cả cuộc đời dành cho việc này” xuất phát từ tình quý trọng những người dành cả đời mình cho nghệ thuật, chứ không màng danh lợi.

Tập phỏng vấn chân dung Cả cuộc đời dành cho việc này của nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang do NXB Văn hóa – Văn nghệ ấn hành. 8 nhân vật được giới thiệu trong cuốn sách lần này là 8 gương mặt văn nghệ sĩ đương đại nổi tiếng của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Họ có cùng một điểm chung đó là đam mê nghệ thuật và dành cả cuộc đời để theo đuổi đam mê đó.

Chúng tôi có dịp trò chuyện với nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang để hiểu thêm về cuốn sách cũng như các nhân vật được giới thiệu lần này.

Gặp 18 văn nghệ sĩ, 10 người từ chối

– Trước “Cả cuộc đời dành cho việc này”, chị từng xuất bản “Đi về không điểm đến”, cũng là một tập chân dung văn nghệ sĩ với nhiều nhân vật. Vì sao cuốn sách thứ hai của chị, lại chỉ giới thiệu có 8 gương mặt thôi?

– Đi về không điểm đến là tập hợp các bài viết của tôi về tác giả – tác phẩm hoạt động trong lĩnh vực văn chương. Cách viết trong cuốn ấy, là đọc tác phẩm, để tìm kiếm con người bên trong của tác giả. Nhiều nhà văn, nhà thơ có mặt trong cuốn sách đó tôi chưa từng gặp ngoài đời, thậm chí còn không liên lạc hay trò chuyện. Để có mỗi bài viết, tôi đối mặt với tác phẩm, để nhìn vào tác giả.

Nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang.

Nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang.

Cả cuộc đời dành cho việc này là một đề tài tôi quan tâm, đó là khảo sát cuộc đời, tư tưởng cá nhân từ những người hoạt động nghệ thuật tích cực, trong nhiều lĩnh vực, đang làm việc hàng ngày và không ngừng ra tác phẩm, với từng lứa tuổi khác nhau, để từ đó có được thông tin về cuộc đời làm nghệ thuật, tư tưởng dẫn dắt, trong bối cảnh xã hội – nghệ thuật xác định.

Mỗi nhân vật, bằng trải nghiệm cá nhân của mình, đã cho chúng ta thấy được diễn biến cả một quá trình lịch sử đất nước, từ những năm 30 của thế kỷ trước tới nay. Tôi chọn các nhân vật, cũng bắt đầu từ tiêu chí đó. Và quả thực, những văn nghệ sĩ trí thức không những có thành tựu, mà còn là người tiêu biểu, tác phẩm đã được phổ biến trên thế giới, thì cũng không dễ dàng tiếp cận, chưa nói tới việc “tự sự” về cuộc đời. Nên có được 8 nhân vật, tôi mất đến 8 năm theo đuổi.

– So với một cuốn sách tập hợp nhiều nhân vật, với 8 nhân vật lần này, liệu công việc của chị có nhàn nhã hơn?

– Như tôi đã nói, Đi về không điểm đến dù số lượng nhân vật nhiều, nhưng tôi chỉ cần có tác phẩm, là đã có thể viết thành bài rồi. Nhưng với việc phỏng vấn 8 nhân vật để ra được đề tài chung mà tôi mong muốn, thì cần tiếp xúc với các nhân vật. Từ họa sĩ Trịnh Cung, nhà nghiên cứu Nguyễn Quân, họa sĩ Nguyễn Thanh Bình, nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng, nghệ sĩ Trần Trọng Vũ, nhà văn Nguyễn Bình Phương, nhà văn Thuận, đến đạo diễn Nguyễn Hoàng Điệp là những người rất bận rộn và cũng không quan tâm đến việc xuất hiện trên báo chí, thậm chí, họ tiếp xúc với nhà báo rất e dè, hạn chế, có lúc còn tỏ ra khó khăn.

Phỏng vấn về tác phẩm, họ không muốn nói, thì về đời tư, lại càng chẳng muốn kể. Cuộc đời họ lúc nào đó cần tâm sự, thì có lẽ, chỉ có thể là người thân thiết đáng tin cậy.

Ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên, tôi không lấy việc tác nghiệp báo chí ra để kết thân, mà là đơn giản cảm thấy hợp thấy quý mến. Tính cách của tôi là yêu – ghét rõ ràng. Ai mà tôi không ưa, tôi không nhìn mặt, chứ đừng nói tới mở miệng trò chuyện. Còn ai mà tôi quý mến, thì sẽ chủ động tìm đến. Nên tôi tới với nhân vật của mình, là từ tình cảm chân thành. Chơi lâu, quen lâu, hiểu tính cách nhau, thì dần không còn khó khăn khi đề đạt nguyện vọng để được giúp đỡ.

Tôi làm đề tài này, xuất phát từ tình quý trọng những người đã dành cả cuộc đời mình cho nghệ thuật.

– Chị dành ra 8 năm để hoàn thành tập sách này. Khó khăn về thời gian với chị là đương nhiên rồi, nhưng với các nhân vật, lẽ nào họ cũng “chiều” theo thời gian của chị?

– Dĩ nhiên là tôi “chiều” theo các nhân vật của mình. Như với họa sĩ Trịnh Cung, thì tôi phải chờ mỗi lần anh từ Mỹ trở về để có cuộc hẹn. nghệ sĩ Trần Trọng Vũ và nhà văn Thuận, cũng chờ khi anh chị về Việt Nam từ Pháp. Còn với đạo diễn Nguyễn Hoàng Điệp, gần như phải “thúc ép” cô ấy trả lời, có khi ngay giữa đêm, lúc Điệp đang rao bán tinh dầu, hay ngồi trước chồng giò chả, bánh chưng để chuẩn bị giao hàng mồng Một, ngày Rằm…

Còn với nhà nghiên cứu Nguyễn Quân và nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng, thì tôi chơi thân với hai chú từ khi còn đang là sinh viên đại học, hai chú cũng coi tôi như con cháu, nên thời gian gặp các chú, trò chuyện và phỏng vấn được thuận lợi hơn. Hai chú thương “con nhỏ” viết văn sống đời vất vả, lại ưa chuyện bao đồng này, nên sẵn lòng giúp đỡ.

Nhà văn Nguyễn Bình Phương, anh ấy rất ít khi xuất hiện nơi đông người, thậm chí tiểu thuyết mới ra mắt, anh còn không tới dự. Anh cũng từ chối phỏng vấn báo chí rất nhiều lần. Nhưng với tôi, anh Phương có nói, anh coi tôi như em, mà khi nói chuyện trò, cũng là với tư cách đồng nghiệp, câu hỏi của tôi cũng tương đối dễ để mở lòng. Tất nhiên nhiều lúc anh Phương bận, thì tôi chỉ có thể chờ đợi.

Còn với họa sĩ Nguyễn Thanh Bình, gần như tôi cứ phải hỏi đi hỏi lại anh ấy nhiều lần, lựa lúc anh ấy dễ tính… vì hỏi gì thì anh ấy cũng đáp quá ngắn gọn: “Có”. “Không”.

Sách Cả cuộc đời dành cho việc này mới phát hành.

Tôi sinh ra là để viết văn

– Trong 8 nhân vật được giới thiệu trong sách, cuộc đời của ai khiến chị ấn tượng nhất?

– Đó là nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng. Tôi và chú, như hai người bạn vong niên, chuyện gì cũng có thể tâm sự. Nhưng tôi không biết gì về cuộc đời riêng của chú, cho đến khi có được bài phỏng vấn dài này. Chú có tuổi thơ từng sống trong nhà xác, và không có thịt để ăn…. Điều đó đủ làm tôi thương chú lắm, nhưng từ những khó khăn như thế, chú lại không coi là trọng, kể cả thị phi lòng người, chú cũng chẳng bận lòng, mà điều chú quan tâm, là làm những gì tốt nhất, như chú mong muốn.

Đồng thời, tình thầy trò của chú Nguyễn Quân và chú Thượng, làm tôi vô cùng ngưỡng mộ. Tôi quen thân với chú Nguyễn Quân và chú Thượng nhiều năm, và tôi thấy bản thân may mắn khi được tiếp xúc với hai nhà văn hóa tài hoa đó. Không chỉ từ sự tận tâm làm việc, tư duy đầy sáng tạo, mà nhân cách của hai chú, cách cư xử đối đãi của hai chú… là tấm gương để tôi học tập.

– Nhà báo Vũ Lâm nói chị có tật “say người”. Điều gì ở 8 nhân vật trong “Cả cuộc đời dành cho việc này” khiến chị say họ?

– Đó là sự hi sinh một cách hồn nhiên cho công việc đang theo đuổi. Đó là những vượt khó khăn đời sống cá nhân để không ngừng cống hiến cho hệ thống tư tưởng đã xác định. Mà có lẽ, những người càng thành công như 8 nhân vật trong cuốn sách, thì lại càng vui vẻ dễ gần giản dị và vô cùng khiêm tốn.

Có lẽ cả 8 nhân vật đã đạt thành công trên con đường nghệ thuật khó ai có được, vì họ chỉ quan tâm thực chất đến công việc đang làm, không tuyên ngôn và cũng giữ cho bản thân tinh thần độc lập. Hơn tất cả, trong trái tim của cả 8 người đều đầy yêu thương, chân thành và rất từ bi.

Với Nguyễn Quỳnh Trang, viết là để rèn ý chí, tôi luyện khả năng, cống hiến tư tưởng, chứ không để lập danh, kiếm tiền.

Với Nguyễn Quỳnh Trang, viết là để rèn ý chí, tôi luyện khả năng, cống hiến tư tưởng, chứ không để lập danh, kiếm tiền.

– Điểm chung của 8 nhân vật của chị là “Cả cuộc đời dành cho việc này”. Còn chị, cả cuộc đời của chị dành cho việc viết ?

– Tôi cũng như các nhân vật của mình, trừ họa sĩ Nguyễn Thanh Bình, thì đều làm những việc khác để nuôi dưỡng con đường nghệ thuật của bản thân. Tôi có làm viết báo, hay kinh doanh, thì cũng chỉ để cho việc viết được thuận lợi. Tôi viết là bởi đó là công việc cuộc đời tôi lựa chọn, cũng trả giá nhiều để duy trì được. Viết là lúc mình phải rèn ý chí, tôi luyện khả năng của mình, là cống hiến tư tưởng của mình… chứ nghĩ tới viết để lập danh, để kiếm tiền… thì sẽ chỉ thấy bẽ bàng thôi…

– Đặt cho mình kế hoạch mỗi năm xuất bản một cuốn sách, chị phải dung hòa công việc và cuộc sống như thế nào để thực hiện kế hoạch này?

– Tôi là người khá nghiêm túc khi thực hiện các kế hoạch của bản thân. Và luôn dung hòa mọi việc. Khi biết khi mình sinh ra để làm việc gì, thì tức khắc sẽ tập trung vào nó, các công việc khác, cũng xoay quanh việc chính ấy. Nên vì thế, tôi vẫn lo được tài chính kinh tế đảm bảo cuộc sống gia đình, chăm sóc các con hàng ngày, mà cũng đều đặn ra sách được.

Tôi sinh ra là để viết văn. Và nếu có ngừng lại, thì cũng là để dấn thân sâu hơn vào đời, học hỏi trải nghiệm, và rồi để viết. Việc làm báo, viết phê bình, hay phỏng vấn, viết chân dung nhân vật… là việc tôi cần làm vì trách nhiệm ngoài bản thân – chứ không phải cho chính mình.

Nguồn: Thành Vinh (Zing)

Tiếp tục đọc
Nhấn vào đây để bình luận

You must be logged in to post a comment Login

Leave a Reply

Tác giả – Tác phẩm Văn 12

Tác giả Hồ Chí Minh

Được phát hành

,

Bởi

Tìm hiểu tác giả Hồ Chí Minh gồm các nội dung tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, phong cách văn học và đóng góp cho nền văn học

1. Tiểu sử

– Hồ Chí Minh (19/05/1889 – 02/09/1969) tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung.

– Quê quán: Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An.

– Gia đình: nhà Nho nghèo, cha là Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là Hoàng Thị Loan.

– Quá trình hoạt động cách mạng:

+ Năm 1911, ra đi tìm đường cứu nước.

+ Hoạt động cách mạng ở nhiều nước: Pháp, Trung Quốc, Thái Lan…

+ Ngày 3-2-1930, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.

+ Năm 1941, trở về nước, lãnh đạo phong trào CM trong nước.

+ Tháng 8-1942, sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ của quốc tế, bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam đến tháng 9-1943.

+ Ra tù, Người trở về nước, lãnh đạo phong trào CM, tiến tới tổng khởi nghĩa tháng 8-1945.

+ Ngày 2-9-1945, đọc bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước VNDCCH, giữ chức vụ Chủ tịch nước.

+ Lãnh đạo nhân dân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ.

=> Là vị lãnh tụ tài ba, vĩ đại, danh nhân văn hóa thế giới. 

 


2. Sự nghiệp văn học

a. Quan điểm sáng tác:

– Coi văn học là một vũ khí chiến đấu phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.

– Luôn chú trọng tính chân thực và tính dân tộc.

– Luôn chú ý đến mục đích và đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm.

b. Di sản văn học:

– Văn chính luận:

+ Tác phẩm chính: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966)…

– Truyện và kí:

+ Tác phẩm chính: Pari (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Con người biết mùi hun khói (1922), Vi hành (1923), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925), Nhật kí chìm tàu (1931), Vừa đi đường vừa kể chuyện (1963)…

– Thơ ca:

+ Tác phẩm chính: Nhật kí trong tù (viết trong thời gian bị giam cầm trong nhà lao Tưởng Giới Thạch từ 1942-1943), chùm thơ viết ở Việt Bắc từ 1941-1945.

=> Di sản văn học lớn lao về tầm vóc, phong phú về thể loại và đa dạng về phong cách.

c. Phong cách nghệ thuật:

– Thống nhất:

+ Về mục đích sáng tác, quan điểm sáng tác, nguyên tắc sáng tác.

+ Về cách viết ngắn gọn.

– Đa dạng:

+ Văn chính luận: ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục, giàu tính luận chiến, kết hợp nhuần nhuyễn mạch luận lí với mạch cảm xúc, giọng điệu uyển chuyển.

+ Truyện và kí hiện đại, giàu tính chiến đấu, nghệ thuật trào phúng sắc bén, nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng thâm thúy, sâu cay.

+ Thơ ca: thơ tuyên truyền cách mạng mộc mạc, giản dị, dễ nhớ, dễ thuộc; thơ nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển với yếu tố hiện đại, cô đọng, súc tích. 

Tiếp tục đọc

Tác giả – Tác phẩm Văn 12

Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh

Được phát hành

,

Bởi

Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh bao gồm tóm tắt nội dung chính, lập dàn ý phân tích, bố cục, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật cùng hoàn cảnh sáng tác, ra đời của tác phẩm và tiểu sử, quan điểm cùng sự nghiệp sáng tác phong cách nghệ thuật giúp các em học tốt môn văn 12

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

  • I. Tác gia
  • II. Tác phẩm
  • Nhận định

I. Tác gia

1. Tiểu sử 

– Hồ Chí Minh (19/05/1889 – 02/09/1969) tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung.

– Quê quán: Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An.

– Sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo, yêu nước

– Người là một vị lãnh tụ tài ba, vĩ đại, người đã đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi cảnh nô lệ, lầm than.

– Được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới.

2. Sự nghiệp văn học

a. Quan điểm sáng tác:

– Coi văn học là một vũ khí chiến đấu phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.

– Luôn chú trọng tính chân thực và tính dân tộc.

– Luôn chú ý đến mục đích và đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm.

b. Tác phẩm chính

Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925), Nhật kí trong tù,…

c. Phong cách nghệ thuật:

– Thống nhất:

+ Về mục đích sáng tác, quan điểm sáng tác, nguyên tắc sáng tác.

+ Về cách viết ngắn gọn.

– Đa dạng:

+ Văn chính luận: ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục, giàu tính luận chiến, kết hợp nhuần nhuyễn mạch luận lí với mạch cảm xúc, giọng điệu uyển chuyển.

+ Truyện và kí hiện đại, giàu tính chiến đấu, nghệ thuật trào phúng sắc bén, nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng thâm thúy, sâu cay.

+ Thơ ca: thơ tuyên truyền cách mạng mộc mạc, giản dị, dễ nhớ, dễ thuộc; thơ nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển với yếu tố hiện đại, cô đọng, súc tích.

II. Tác phẩm

1. Tìm hiểu chung:

a. Hoàn cảnh ra đời :

– Thế giới:

+ Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc.

+ Nhật đầu hàng Đồng minh.

– Trong nước: Cả nước giành chính quyền thắng lợi.

+ 26 – 8 – 1945: Hồ chủ tịch về tới Hà Nội.

+ 28 -8 1945: Bác soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập tại tầng 2, căn nhà số 48, phố Hàng Ngang, Hà Nội.

+ 2 – 9 – 1945: đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

b. Mục đích sáng tác:

– Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc trước quốc dân và thế giới.

– Tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến; khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và bày tỏ quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc.

c. Bố cục:

– Đoạn 1: Từ đầu… “không ai chối cãi được” => Nêu nguyên lí chung của bản tuyên ngôn độc lập.

– Đoạn 2: Từ “Thế mà” …. “phải được độc lập” => Tố cáo tội ác của thực dân Pháp, khẳng định thực tế lịch sử nhân dân ta đấu tranh giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

– Đoạn 3: (Còn lại) => Lời tuyên bố độc lập và ý chí bảo vệ nền độc lập.

d. Nội dung chính:

     Vạch trần tội ác của thực dân Pháp cướp nước ta; tuyên bố nền độc lập dân tộc; khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và thể hiện ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc.

2. Tìm hiểu chi tiết:

a. Cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn độc lập.

– Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mĩ và Pháp làm cơ sở pháp lí cho tuyên ngôn độc lập của Việt Nam:

=> Ý nghĩa:

+ Tôn trọng những tuyên ngôn bất hủ của người Mĩ và Pháp vì những điều được nêu là chân lí của nhân loại.

+ Dùng cách lập luận “gậy ông đập lưng ông” để buộc tội Pháp và ngăn chặn âm mưu tái xâm lược của chúng.

+ Thể hiện quyền tự hào dân tộc: đặt 3 cuộc cách mạng, 3 bản tuyên ngôn, 3 dân tộc ngang hàng nhau.

b. Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam:

* Tố cáo tội ác của Pháp:

+ Tố cáo tội ác tàn bạo của thực dân Pháp trên mọi mặt đời sống khi cai trị nước ta: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội (liệt kê hàng loạt dẫn chứng đanh thép, hùng hồn về tội ác của Pháp).

+ Giải thích rõ ràng, mạch lạc: từ mùa thu 1940 đến 9/3/1945, thực dân Pháp đã bán nước ta hai lần cho Nhật (khi thì quỳ gối đầu hàng khi thì bỏ chạy), vì vậy không còn bất kì quyền lợi cai trị nào ở nước ta.

* Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc:

Trình bày cuộc đấu tranh xương máu giành độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam:

+ Nhân dân Việt Nam đã nổi dậy giành chính quyền, lấy lại đất nước từ tay Nhật.

+ Quân và dân ta đã nhiều lần kêu gọi người Pháp cùng chống Nhật nhưng bị từ chối, khi Pháp thua chạy, đồng bào ta vẫn khoan hồng và giúp đỡ họ.

+ Dân ta đánh đổ các xiềng xích phong kiến, thực dân, phát xít.

+ Quân và dân ta tin tưởng vào sự công bằng của các nước Đồng Minh.

 => Khẳng định, đề cao tinh thần xả thân giữ nước, thành quả cách mạng của nhân dân ta. Chúng ta hoàn toàn xứng đáng với nền độc lập có được bởi chính máu xương của mình.

c. Giá trị nội dung:

– Là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta.

– Đánh dấu kỉ nguyên độc lập, tư do của nước Việt Nam mới.

d. Giá trị nghệ thuật:

– Là một áng văn chính luận mẫu mực.

– Lập luận chặt chẽ.

– Lý lẽ đanh thép.

– Ngôn ngữ hùng hồn.

– Dẫn chứng xác thực, lấy ra từ lịch sử cụ thể.

Nhận định

Một số nhận định về tác giả, tác phẩm

1. Có ý kiến đánh giá: “Tuyên ngôn độc lập một văn kiện có trị lịch sử to lớn, một bài văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn, đầy sức thuyết phục”.

2. Có ý kiến cho rằng: “Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là áng văn mẫu mực của văn xuôi chính luận Việt Nam”.  

3. Đồng chí Trường Chinh nhận xét: “Về văn phong, cách nói và cách viết của Hồ Chủ Tịch có những nét rất độc đáo: Nội dung khảng khái, thấm thía đi sâu vào tình cảm của con người, chinh phục cả trái tim và khối óc con người ta: Hình thức sinh động, giản dị, giàu tính dân tộc và tính nhân dân.”

Tiếp tục đọc

Tác giả – Tác phẩm Văn 12

Tác giả Phạm Văn Đồng

Được phát hành

,

Bởi

Tìm hiểu tác giả Phạm Văn Đồng gồm các nội dung tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, phong cách văn học và đóng góp cho nền văn học.

 1. Tiểu sử 

– Phạm Văn Đồng (1906 -2000)

– Ông sinh ra ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

– Tham gia cách mạng từ sớm và là nhà hoạt động cách mạng xuất sắc; là nhà giáo dục tâm huyết và một nhà văn hóa, văn nghệ lớn.

– Năm 1936, Phạm Văn Đồng ra tù, hoạt động ở Hà Nội.

 Năm 1940, ông bí mật sang Trung Quốc cùng với Võ Nguyên Giáp, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và được Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ về nước xây dựng căn cứ địa ở biên giới Việt – Trung.

– Năm 1945, tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, Phạm Văn Đồng được bầu vào Ủy ban Thường trực gồm 5 người thuộc Ủy ban Dân tộc giải phóng, chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám.

Phạm Văn Đồng là Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1976 cho đến khi nghỉ hưu năm 1987.

Trước đó ông từng giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1976.

Phạm Văn Đồng là vị Thủ tướng Việt Nam tại vị lâu nhất (1955–1987) và là học trò, cộng sự của Hồ Chí Minh.

=> Với bề dày hơn 70 năm hoạt động trong sự nghiệp Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó nhiều năm giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt, Phạm Văn Đồng được nhiều nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản và học giả trong nước, những người gần gũi với ông đánh giá là có nhiều đóng góp quan trọng trên nhiều lĩnh vực: chính trị, quân sự, văn học,…

 2. Sự nghiệp văn học

– Thể loại: Các tác phẩm nghị luận xuất sắc.

– Văn phong nghị luận của ông đầy nhiệt tình, lôi cuốn người đọc bằng những luận điểm mới mẻ, sâu sắc với lời văn trong sáng, nhiều hình ảnh.

– Tác phẩm chính: Hồ Chí Minh – Một con người, một dân tộc, một thời đại; Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc, Văn hóa đổi mới… 

Tiếp tục đọc

Xu hướng