Connect with us

Tác giả

Nhà văn Bảo Ninh yêu thích tác phẩm nào của Hungary?

Bảo Ninh say mê tác phẩm của nhà văn đoạt giải Nobel 2002 Kertész Imre. Ông cũng yêu thích những tiểu thuyết như “Chiến tranh và chiến tranh”, “Những ngọn nến cháy tàn”.

Mới đây, tập truyện ngắn Trại bảy chú lùn của Bảo Ninh được xuất bản tại Hungary. Tác giả Nỗi buồn chiến tranh đã viết đôi lời gửi bạn đọc ở đất nước cách xa hàng chục nghìn dặm. Trong đó, ông tiết lộ về những tác phẩm văn chương Hungary mà mình yêu thích.

Van chuong Hungary anh 1

Trại bảy chú lùn bản tiếng Việt (phải) và bản tiếng Hungary. Ảnh: Thiên Ái.

Bảo Ninh tiếp xúc văn học Hungary lần đầu vào những năm cuối thập niên 1960. Khi ấy, ông được đọc “những bài thơ diễm lệ mà bi tráng, nóng bỏng lòng yêu nước và tinh thần yêu chuộng tự do của thi sĩ Petõfi Sándor”.

Sau khi kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước, nhất là từ sau đổi mới, văn chương có cơ hội hội nhập. Lượng tác phẩm văn học Hungary xuất bản ở nước ta ngày một nhiều hơn. Từ đó, Bảo Ninh đọc và “say mê các tác phẩm đầy lôi cuốn” như Không số phận, Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời của Kertész Imre; Những ngọn nến cháy tàn, Bốn mùa, trời và đất của Márai Sándor; Cánh cửa của Szabó Magda; Chiến tranh và chiến tranh của Lászlo Krasznahorkai.

Tác giả Nỗi buồn chiến tranh đánh giá các tác phẩm trên đều chuyển ngữ trực tiếp từ ngôn ngữ Hungary và đều là những bản được dịch rất hay ra ngôn ngữ Việt Nam.

Ông cũng khái quát điểm chung trong những tác phẩm mình đã đọc. Điểm gặp của những tác phẩm ấy là “nỗi khổ đau và sự quật cường, âm hưởng bi thương và giai điệu anh hùng hòa nhập làm một”.

Trong bức thư gửi bạn đọc Hungary, nhà văn Bảo Ninh cũng cảm ơn dịch giả Gabor Péte – người chuyển ngữ Trại bảy chú lùn. Ông cũng bày tỏ niềm hy vọng văn chương hai đất nước Việt Nam và Hungary sẽ vượt qua được khoảng cách ngôn ngữ, địa lý để gặp gỡ nhau.

Van chuong Hungary anh 2

Một số tác phẩm văn học Hungary mà Bảo Ninh yêu thích. Ảnh: YN.

Trại bảy chú lùn là tập truyện ngắn, gồm những câu chuyện về xung đột trong chiến tranh và ký ức của người trong cuộc, ưu tư của người cựu binh, cái nhìn của chính họ về cuộc chiến.

Sách được phát hành tại Hungary bởi NXB AB Art. Dịch giả Gabor Pap, một nhà nghiên cứu văn hóa người Hungary hâm mộ tác giả Bảo Ninh từ lâu, đã dịch tác phẩm.

Theo thông tin từ nhà thơ Kiều Bích Hậu – đại diện Ban đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam – tập truyện được đón nhận ở Hungary. Bà Kiều Bích Hậu dẫn lời nhà thơ Sándor Halmosi – biên tập viên nhà xuất bản AB Art – rằng tập sách của Bảo Ninh được phát hành rộng rãi tại Hungary, bạn đọc đón nhận nhiệt tình.

Nguồn: https://zingnews.vn/nha-van-bao-ninh-yeu-thich-tac-pham-nao-cua-hungary-post1155271.html

Tác giả

Trải nghiệm đáng nhớ của đạo diễn Xuân Phượng

“Gánh gánh… gồng gồng…” dẫn dắt người đọc vào cuộc đời của đạo diễn Xuân Phượng qua từng giai đoạn của lịch sử.

Năm nay, giải Văn xuôi Giải thưởng văn học Hội Nhà văn 2020 được trao cho hồi ký Gánh gánh… gồng gồng… của đạo diễn Xuân Phượng.

“Đó là một cuốn sách ấn tượng, […] câu chuyện của một con người đã nói lên lịch sử của cả đất nước từ sau khi chúng ta giành được độc lập”, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nói trên VOV.

Dao dien Xuan Phuong anh 1

Đạo diễn Xuân Phượng. Ảnh: Q.M.

Theo cách mạng khi mới 16 tuổi

Đạo diễn Xuân Phượng tên thật Nguyễn Thị Xuân Phượng, sinh năm 1929 tại Huế trong một gia đình hoàng tộc. Hồi nhỏ, bà sống cùng gia đình ở Đà Lạt. Cha bà là Thanh tra Học chính kiêm hiệu trưởng trường tiểu học duy nhất tại Đà Lạt khi đó.

Tháng 6/1945, bà quyết định đi theo kháng chiến khi mới 16 tuổi.

Trong thời gian ở chiến khu Việt Bắc cho đến khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, bà đã trải qua nhiều nghề, trước khi chuyển qua học và làm phim tài liệu chiến trường.

Hồi ký Gánh gánh… gồng gồng… được đạo diễn Xuân Phượng viết lại từ cuốn hồi ký Áo dài (viết bằng tiếng Pháp) của bà. Năm 2001, tác phẩm này được nhà xuất bản Plon in ấn và phát hành tại Paris. Sau đó, nó được dịch ra tiếng Anh, tiếng Ba Lan.

Sau 19 năm, đạo diễn Xuân Phượng viết lại tập hồi ký bằng tiếng Việt và xem đó như một món quà tinh thần gửi đến những người thân mến quanh bà.

Cuốn hồi ký được Nhà xuất bản Văn Hóa – Văn Nghệ TP.HCM ấn hành vào tháng 9 và tái bản lần 1 vào đầu tháng 11 với tên gọi Gánh gánh… gồng gồng...

Trong lời mở đầu cuốn sách, đạo diễn Xuân Phượng đã kể lại khoảnh khắc bà rời xa gia đình thân yêu của mình đi theo cách mạng khi mới 16 tuổi và khoảnh khắc gặp lại mẹ mình vào tháng 7/1989 tại sân bay Charles de Gaulle Paris sau 43 năm xa cách. Những cảm xúc của buổi gặp này đã làm cho bà nảy sinh ý định kể lại cuộc đời mình.

Với hơn 300 trang sách, Gánh gánh… gồng gồng… dẫn dắt người đọc vào những cuộc đời của đạo diễn Xuân Phượng qua từng giai đoạn thăng trầm của lịch sử của đất nước.

Bắt đầu từ một cô bé học tại trường Couvent Des Oiseaux (Nữ tu viện của những loài chim) – ngôi trường do Nam Phương Hoàng hậu tài trợ, đến rời bỏ gia đình thân yêu của mình, bà đi theo cách mạng khi mới 16 tuổi.

Khi từ Huế ra chiến khu Việt Bắc, đạo diễn Xuân Phượng kết hôn với chàng bộ đội pháo binh Tôn Thất Hoàng. Họ có với nhau ba người con trai.

Cũng trong thời gian này, bà hoạt động và kinh qua nhiều nhiệm vụ từ Quân y vụ liên khu 4 đến chế tạo thuốc nổ Nha Nghiên cứu Kỹ thuật Yên Sơn chi nhánh Liên khu 4 thuộc Nha Nghiên cứu Kỹ thuật Bộ Quốc phòng Việt Bắc và làm việc ở tòa soạn báo Công tác thóc gạo.

Năm 1961, bà tốt nghiệp tại trường Y tế Giảng Võ và được cử về làm trưởng phòng khám Nhi khu Y tế Ba Đình, thuộc Ủy ban liên lạc văn hóa với nước ngoài. Bà làm công tác này cho đến khi làm phiên dịch cho đạo diễn Joris Ivens, sau đó học nghề và trở thành nữ đạo diễn phim tài liệu duy nhất của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Từ khi về hưu (năm 1989), đạo diễn Xuân Phượng trở thành một nhà sưu tập tranh tầm cỡ. Bà là chủ sở hữu phòng tranh Lotus (Phòng tranh tư nhân do bà lập ra năm 1991).

Dao dien Xuan Phuong anh 2

Sách Gánh gánh… gồng gồng… Ảnh: Q.M.

Bước ngoặt trở thành đạo diễn phim tài liệu

Trong cuộc đời mình, đạo diễn Xuân Phượng được chứng kiến rất nhiều sự kiện mang tính bước ngoặt của lịch Việt Nam trong thế kỷ 20.

Bà đã chứng kiến vua Bảo Đại trao ấn kiếm cho đại diện chính quyền cách mạng tại cửa Ngọ Môn vào tháng 9/1945. Bà cũng chứng kiến giới chóp bu chính quyền Việt Nam cộng hòa lầm lũi rời khỏi Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975.

Trong Gánh gánh… gồng gồng… đạo diễn Xuân Phượng cũng nhắc lại những kỷ niệm của người phụ nữ bình thường nhưng có những trải nghiệm đáng nhớ như việc bà đã đỡ đẻ, đón đứa trẻ chào đời trong địa đạo Vĩnh Linh năm 1967.

Ca đỡ đẻ này đã trở thành kỷ niệm đáng nhớ nhất của nữ phiên dịch Xuân Phượng khi bà theo phụ việc cho đạo diễn Hà Lan- Joris Ivens.

Trong tác phẩm của mình, nữ đạo diễn còn kể về buổi gặp với đạo diễn người Hà Lan đã mở đầu cho hành trình làm bộ phim Vĩ tuyến 17 – Chiến tranh nhân dân, và cũng mở đầu cho bước ngoặt trở thành đạo diễn phim tài liệu của đạo diễn Xuân Phượng.

Chia sẻ về cuốn sách này, NSND, đạo diễn Nguyễn Hữu Phần cho biết: “Bằng giọng kể đơn giản, chân thực, ở bất cứ đoạn nào của cuộc đời chị cũng có sự độ lượng, không oán trách, than vãn mà luôn thể hiện tấm lòng nhân ái, sự trân trọng những con người, những tình cảm đẹp đẽ trong các mối quan hệ với gia đình, đồng nghiệp, bạn bè mình”.

Còn NSND, nhà quay phim Nguyễn Hữu Tuấn thì cho rằng; “Có một cảm giác đặc biệt khi đọc Gánh gánh… gồng gồng… là thấy trước mắt không phải là những dòng chữ, mà là lời nói, là hơi thở, là máu và nước mắt của chị đang chảy”.

Nguồn: https://zingnews.vn/trai-nghiem-dang-nho-cua-dao-dien-xuan-phuong-post1157748.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Sông Đáy

Nguyễn Quang Thiều là tác giả đương đại tiêu biểu. Ông sáng tác thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, vẽ tranh, làm báo, viết kịch bản… Ở lĩnh vực nào, ông cũng cho thấy tư chất nghệ sĩ.

Sông Đáy chảy vào đời tôi.

Như mẹ tôi gánh nặng rẽ vào ngõ sau mỗi buổi chiều đi làm về vất vả.

Tôi dụi mặt vào lưng người đẫm mồ hôi mát một mảnh sông đêm.

Năm tháng sống xa quê tôi như người bước hụt.

Cơn mơ vang lên tiếng cá quẫy tuột câu như một tiếng nấc.

Âm thầm vỡ trong tôi, âm thầm vỡ cuối nguồn.

Tỏa mát xuống cơn đau tôi là tóc mẹ bến mòn đứng đợi.

Một cây ngô cuối vụ khô gầy.

Suốt đời buồn trong tiếng lá reo.

Dong song tuoi tho anh 1

Tranh của Nguyễn Quang Thiều. Nguồn ảnh: FBNV.

Những chiều xa quê tôi mong dòng sông dâng lên ngang trời cho tôi được nhìn thấy.

Cho đôi mắt nhớ thương của tôi như hai hốc đất ven bờ, nơi những chú bống đến làm tổ được giàn dụa nước mưa sông.

***

Sông Đáy ơi! chiều nay tôi trở lại.

Những cánh buồm cổ tích đã bay xa về một niềm tức tưởi.

Em đã mang đôi môi màu dâu chín sang đò một ngày sông vắng nước.

Tôi chỉ gặp những bẹ ngô trắng trên bãi.

Tôi nhớ áo em tuột rơi trên bến kín một trăng xưa.

***

Sông Đáy ơi, sông Đáy ơi… chiều nay tôi trở lại.

Mẹ tôi đã già như cát bên bờ.

Ôi mùi cát khô, mùi tóc mẹ tôi.

Tôi quì xuống vốc cát ấp vào mặt.

Tôi khóc.

Cát từ mặt tôi chảy xuống dòng dòng.

Lời bình của TS Nguyễn Thanh Tâm

Sông Đáy là bài thơ ở chặng đầu trên hành trình thơ của Nguyễn Quang Thiều. Tuy nhiên, nếu đặt vào tổng thể sáng tác từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, đến nay, chúng ta vẫn nhận ra những dấu vết rồi sẽ bồi tụ nên “châu thổ” thi ca Nguyễn Quang Thiều.

Ám ảnh sông nước, hình bóng một vùng cố thổ thương yêu trong ký ức, tiếng cá quẫy, mảnh trời quê, lưng áo mẹ, bãi ngô buồn, bến trăng xưa, mùi cát già, dòng nước mắt muộn mằn tức tưởi… tất cả làm nên một nguồn bi cảm thống thiết trong thơ Nguyễn Quang Thiều.

Không chỉ ở bài Sông Đáy, mà nhiều bài khác, tập khác, nguồn bi cảm thống thiết đó duy trì trạng thái trữ tình, điệu tâm hồn và cảm xúc của Nguyễn Quang Thiều. Bao giờ cũng thế, đọc anh, người ta thấy thương cùng với biết bao bộn bề ngẫm ngợi, suy tư và khắc khoải.

Nguồn: https://zingnews.vn/song-day-post1157587.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Linh Nham đêm

Không gian thơ của Nguyễn Bình Phương mang dấu ấn vùng Thái Nguyên. Khoảng trời Linh Nham, dòng Linh Nham, ngọn Linh Sơn, nghĩa địa Tuyệt Sơn… đi vào tác phẩm của anh đầy ám ảnh.

Ai rót rượu vào trăng

Sương như mắt thiếu phụ về dĩ vãng

Đêm

Lang thang lang thang lang thang

***

Ngực đồi già lau lách cỏ hoang

Nghe trong đất lời tiên tri huyền bí

Chẳng biết dữ hay lành

Những vì sao âm ỉ

Linh Nham anh 1

Tranh Mountain lake night của David Bigelow. Nguồn ảnh: fineart.

Ai rót rượu vào trăng

Lênh láng quá làm sao chịu nổi

Em thành kỷ niệm rồi

Cái buồn không nắm được

Cái buồn tan lễnh loãng quanh mình

***

Thân suối mềm rung rinh

Vục tay vớt

Chạm bóng gầy chới với

Lành lạnh câu thơ rơi

Lời bình của TS Nguyễn Thanh Tâm:

Dù Nguyễn Bình Phương có bảo rằng đây là một bài thơ đã cũ, thì tôi vẫn muốn đọc lại. Thơ hay có bao giờ cũ. Linh Nham đêm, đó là một khoảnh khắc hay là một ám ảnh trong cõi siêu hình của Nguyễn Bình Phương? Chính xác thì đó là khoảnh khắc nỗi ám ảnh siêu hình kia hiện ra với dáng vẻ đơn độc và có phần kỳ bí.

Đọc thơ, tiểu thuyết, tạp văn của Nguyễn Bình Phương đã nhiều, tôi cảm nhận mỗi chữ, mỗi câu đều được viết ra một cách rất chậm rãi, khó khăn. Đó là sự khó khăn trong tư duy lựa chọn, nhằm kiếm tìm một hình thức biểu đạt đầy đủ, cô đọng nhất về mọi sắc thái.

Linh Nham đêm hiện ra với khí hậu huyền bí. Sự huyền bí mà chẳng biết dữ hay lành, làm con người hoang mang. Rõ ràng, hạt nhân của bài thơ là một cảm nhận mơ hồ về điều gì đó sắp xảy ra hoặc đang âm thầm diễn ra. Dù có bảo rằng, chẳng biết lành hay dữ, nhưng sao cứ thấy lo lắng và hơi sợ. Những hình ảnh mang sắc thái điềm triệu đưa người đọc vào thế giới của linh thị – Lành lạnh câu thơ rơi!

Nguồn: https://zingnews.vn/linh-nham-dem-post1157244.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Nhớ

Hàm Anh tên thật là Phan Thanh Thủy, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Chị đã xuất bản hai tập thơ là “Màu tự nhiên” (2008) và “Gọi tháng ba” (2016).

Em nhớ anh

như nhớ linh hồn mình một hôm vắng nắng bỏ chơi xa…

để lại thân xác này ngơ ngác!

***

Em kêu anh

như tiếng con nai tác vọng qua triền đồi mơ…

***

Em tha thiết anh, tha thiết, tha thiết

như xóm nhỏ vườn chiều chân núi tỏa hương

mưa…

Lời bình của TS Nguyễn Thanh Tâm

Thơ Hàm Anh có xu hướng tối giản. Lựa chọn sự tối giản, trong thơ cũng như trong đời sống, không có nghĩa là người ta làm ít đi, mà chú ý vào cái quan trọng nhất.

Bài thơ Nhớ của Hàm Anh biểu hiện những đặc tính cho thấy tâm thế lựa chọn sự tối giản của tác giả. Phong cách tối giản này, nếu phải gọi tên, có thể hiện hình vào ba trạng thái – hình tượng: Em nhớ – em kêu tên – em chờ đợi.

Tứ thơ gọn và chắc bởi Hàm Anh xoáy sâu vào hạt nhân của ý tình là nhớ. Nỗi nhớ người yêu như nhớ linh hồn mình. Sự hòa hợp và gặp nhau của hai linh hồn đồng điệu là hiện hữu thoáng chốc của bản nguyên mà ta đã xa rời. Tình yêu khiến cho con người ta tìm được sự đồng nhất – hợp nhất trong chính họ. Người yêu chẳng gì khác hơn chính là linh hồn của họ.

Nhịp thơ chầm chậm như sương mưa. Giọng thơ da diết như tiếng gọi bạn tình qua triền đồi mơ. Điệu thơ tâm tình thủ thỉ, mơ màng bình yên nhưng ẩn chứa những nhục cảm gọi mời, trông đợi kín đáo bởi em chẳng quen sự ồn ào bày tỏ.

Lời thơ kiệm mà gợi cảm, giàu nhạc tính với những từ ngữ có độ mở, vang và ngân rung (anh – xa – ngơ ngác – mơ – tha thiết – tỏa hương – mưa).

Tất cả yếu tố ấy tạo nên chất thơ đầy lắng đọng của Nhớ.

Nguồn: https://zingnews.vn/nho-post1157092.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

‘Nhạc lá’ – sức mạnh kỳ diệu của thiên nhiên

“Nhạc lá” của nhà văn Bùi Minh Quốc tái hiện bức tranh thiên nhiên tươi đẹp nhằm truyền tải thông điệp về sự kết nối đặc biệt giữa con người với thiên nhiên.

Nhạc lá xoay quanh câu chuyện của bé Loan từ khi em còn là đứa trẻ cho đến lúc trưởng thành với nhiều biến cố đau thương trong đời.

Vì sự ngay thẳng trong công việc, ba mẹ của em đã bị hãm hại. Ba mất đi mang theo nỗi oan ức, mẹ bị tai nạn nằm liệt giường. Gánh nặng gia đình đặt hết lên đôi vai bé nhỏ của Loan từ khi em lên mười tuổi.

Nhac la anh 1
Sách Nhạc lá. Ảnh: NXB Kim Đồng.

Trong những ngày tháng khó khăn đó, Loan thường vào rừng để tìm kiếm sự an ủi. Cuộc gặp gỡ với họa sĩ Phan Thạch cũng là bước ngoặt thay đổi cuộc đời Loan.

Tình yêu nghệ thuật và yêu rừng của bác Phan Thạch đã truyền động lực cho cô bé. Em cũng được bác truyền dạy cho môn kèn lá. Chỉ với một chiếc lá trong rừng, em có thể thổi những bản nhạc đầy sắc màu, cảm xúc, giúp em giải tỏa những mệt mỏi.

Âm nhạc cũng đem đến những điều tốt đẹp cho cuộc sống nhiều nỗi mất mát của em. Chiếc kèn lá cũng là biểu tượng ẩn dụ cho âm thanh reo vui của thiên nhiên – âm thanh có thể chữa lành tâm hồn con người.

Với Nhạc lá, nhà văn Bùi Minh Quốc đã dựng nên hình ảnh đặc sắc về những con người yêu rừng, yêu thiên nhiên tha thiết. Đó là họa sĩ Phan Thạch, suốt đời chỉ say mê vẽ những bức tranh núi rừng. Ông sống trong một căn nhà nhỏ giữa rừng, tựa lưng vào cây cối mà nghỉ ngơi.

Loan là hình ảnh tiếp nối của ông, là cô bé có tâm hồn trong trẻo, mang tình yêu hồn nhiên với cây cối.

Mỗi khi buồn, em đều đi bộ mải miết trong rừng, thì thầm trò chuyện với cây cối như tri kỉ. Bởi vì tình yêu ấy, em có thể khiến những chiếc lá reo lên thứ âm nhạc tuyệt vời, lưu luyến trái tim người nghe.

Loan và bác Phan Thạch đều có kết nối đặc biệt với thiên nhiên, bởi vì họ thấu hiểu được việc cây cỏ cũng có linh hồn.

Câu chuyện về cuộc đời Loan, về tình yêu và sự gắn bó với thiên nhiên của em đã khơi dậy những cảm xúc mãnh liệt cho người đọc. Theo dấu chân Loan, ta có thể bước đi sâu vào những cánh rừng, lắng nghe tiếng chim hót, tiếng gió thổi, tiếng suối reo…

Loan luôn giữ cho mình trái tim đầy nỗ lực, tin tưởng. Trước sự ra đi của cha, bệnh tật của mẹ, em đã làm hết sức mình để chăm sóc mẹ, giúp mẹ từng bước khỏi bệnh. Đồng thời, em cũng luôn vui tươi chân thành, sống biết yêu thương và can đảm.

Chứng kiến hành trình trưởng thành của bé Loan, mỗi người cũng có thể tìm cho mình một nguồn động lực mạnh mẽ để sống, để vượt qua nghịch cảnh.

Câu chuyện cảm động được đặt trong bối cảnh thiên nhiên đẹp đẽ tạo nên sức hấp dẫn cho Nhạc lá. Người đọc có thể từng bước khám phá cuốn sách và nhẩn nha ngắm nhìn cây cối, từ đó biết trân trọng thiên nhiên, tìm thấy sự gắn kết với thiên nhiên.

Truyện dài Nhạc lá của nhà văn Bùi Minh Quốc mang đậm tính thời sự trong bối cảnh con người ngày càng chứng kiến nhiều cơn cuồng nộ của thiên nhiên do nạn phá rừng gây ra. Trong lần tái bản năm 2020, Nhạc lá còn có di cảo tranh minh họa đầy thanh thoát, phóng khoáng của cố nhạc sĩ tài hoa Nguyễn Trọng Tạo.

Nhà văn Bùi Minh Quốc sinh năm 1940 tại Hà Nội. Một số tác phẩm của nhà văn Bùi Minh Quốc là: Làng bên cầu, Đôi mắt nhìn tôi, Đốm lửa xanh, Chuyện của người khách lạ…

Ông đoạt giải A cuộc vận động sáng tác “Vì tương lai con em chúng ta” của Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Nhà văn Việt Nam (1980) với tác phẩm Hồi đó ở Sa Kỳ.

Nguồn: https://zingnews.vn/nhac-la-suc-manh-ky-dieu-cua-thien-nhien-post1156409.html

Tiếp tục đọc

Xu hướng