Connect with us

Tác giả

Nghiên cứu mới về chủ quyền và lợi ích quốc gia

Published

on

Cuốn sách đem đến nhiều diễn giải, nhận thức khoa học mới về ý thức chủ quyền và lợi ích quốc gia.

Ý thức về chủ quyền và lợi ích quốc gia của một số nhà cải cách ở khu vực Đông Á nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX của tác giả Nguyễn Tiến Dũng là cuốn sách chuyên khảo được đề cử trao giải tại Giải thưởng Sách quốc gia lần thứ tư, năm 2021.

Những chia sẻ của tác giả sẽ cho chúng ta biết quá trình thực hiện, cũng như nội dung cốt lõi của cuốn sách này.

Một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu lịch sử

– Cuốn “Ý thức về chủ quyền và lợi ích quốc gia của một số nhà cải cách ở khu vực Đông Á nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX” được thực hiện thế nào, thưa ông?

Advertisement

– Như tôi chia sẻ trong phần Mở đầu của cuốn sách, công trình này vốn là luận án tiến sĩ ngành Lịch sử được tôi thực hiện tại ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội).

Ý tưởng cuốn sách được hình thành vào mùa thu năm 2012, khi tôi và thầy hướng dẫn lựa chọn hướng tiếp cận mới cho luận án tiến sĩ của mình.

Đến tháng 7/2017, nội dung cơ bản của cuốn sách được hoàn thành khi tôi bảo vệ xong luận án. Tuy nhiên, tôi chưa xuất bản ngay vì muốn bổ sung, gia cố thêm, để có một ấn bản hoàn chỉnh hơn.

Trong quá trình nghiên cứu một năm tại ĐH Zielona Góra, Ba Lan (10/2017-10/2018), tôi có khoảng thời gian quý giá để nhìn lại công trình của mình, gia cố nội dung cốt lõi, bổ sung tài liệu tham khảo, cước chú… Đến đầu năm 2020, tôi quyết định xuất bản cuốn sách.

Chu quyen va loi ich quoc gia anh 1

Sách Ý thức về chủ quyền và lợi ích quốc gia của một số nhà cải cách ở khu vực Đông Á nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Ảnh: Việt Linh.

– Điều khiến ông cảm thấy thử thách nhất khi thực hiện cuốn sách này là gì?

Advertisement

– Thông thường, khi đề cập một vấn đề lịch sử, giới sử học chúng tôi thường trình bày nguyên nhân, bối cảnh, diễn biến rồi rút ra ý nghĩa/bài học kinh nghiệm.

Trong công trình của mình, tôi đã cố gắng triển khai cách tiếp cận khác, đó là dùng lý thuyết về chủ quyền và lợi ích quốc gia để tiếp cận và phân tích ý thức/tư tưởng của các nhà cải cách ở Đông Á cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đây là cái mới nhưng cũng là khó khăn của tôi.

Ở thời điểm tôi bắt đầu làm đề tài này năm 2012, lý thuyết về “chủ quyền” và “lợi ích quốc gia” chưa được đề cập nhiều trong các nghiên cứu ở Việt Nam. Cũng may là trong thời gian này, tôi có một chuyến thực tập ngắn hạn ở ĐH Quốc gia Singapore và được GS William Callahan – chuyên gia hàng đầu về quan hệ quốc tế – hướng dẫn tìm hiểu/tiếp cận những lý thuyết này.

Bạn thấy đó, sách của tôi có khoảng 30 trang lý thuyết về chủ quyền và lợi ích quốc gia, nhưng để thực hiện nó, tôi phải mất rất nhiều thời gian sưu tập tư liệu, đọc và hiểu.

– Trong chương 2 của cuốn sách, ông đã tập trung trình bày lý thuyết về chủ quyền và lợi ích quốc gia. Xin ông cho biết 2 phạm trù này gắn bó với nhau như thế nào?

Advertisement

– Tôi rất chia sẻ với quan điểm của PGS.TS.NGƯT Nguyễn Thừa Hỷ trong Lời tựa 1 của cuốn sách. Ông cho rằng chủ quyền và lợi ích quốc gia là hai khái niệm khó tách rời và ông đã dùng từ rất hay là “quyền lợi quốc gia”.

Nhắc đến “quyền lợi quốc gia”, trước hết phải đề cập 4 phạm trù: Nhà nước, lãnh thổ, dân tộc và nhân dân. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò điều hành, quản lý cộng đồng dân tộc – xã hội và cá thể con người, tương ứng với đó là 3 nhánh quyền lực gồm quốc quyền, dân quyền và nhân quyền.

Trong sự gắn bó mật thiết giữa chủ quyền và lợi ích quốc gia, nếu không có một Nhà nước độc lập, chắc chắn sẽ không có chủ quyền thực sự (quyền lực tuyệt đối mà một Nhà nước nắm giữ là lãnh thổ và nhân dân) và không duy trì được chức năng quan trọng nhất của nó là bảo vệ lợi ích quốc gia (lợi ích thiết yếu cốt lõi của một đất nước, bao gồm lợi ích chính trị, kinh tế, an ninh, văn hóa).

Ý thức về chủ quyền và lợi ích quốc gia của bốn bộ óc tinh hoa

– Trong cuốn sách, ông nêu sự hình thành ý thức về chủ quyền và lợi ích quốc gia ở các nước khu vực Đông Á trong thế kỷ XIX. Đâu là cơ sở cho sự hình thành đó?

– Theo tôi, có hai phương diện tác động, chi phối ý thức chủ quyền và lợi ích quốc gia của các nhà cải cách thời kỳ này. Đó là nhân tố bên ngoài và nhân tố nội tại bên trong.

Advertisement

Nhân tố bên ngoài chính là áp lực bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây đè nặng lên số phận của các quốc gia Đông Á. Thứ hai là quá trình du nhập, khả năng tiếp nhận văn minh phương Tây của các quốc gia Đông Á nói chung và các nhà cải cách thời kỳ này nói riêng.

Nhân tố bên trong chính là nền tảng chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa ở mỗi nước. Trong đó, tôi đặc biệt nhấn mạnh đến truyền thống văn hóa và đặc tính xã hội. Hai yếu tố này định hướng nên tư duy, vạch định mô hình phát triển của mỗi nhà cải cách ở từng nước.

Chu quyen va loi ich quoc gia anh 2

TS Nguyễn Tiến Dũng – giảng viên ĐH Văn hóa Hà Nội. Ảnh: Minh Châu.

– Ông đã chọn bốn nhân vật là Lý Hồng Chương (Trung Quốc), vua Mongkut (Thái Lan), Nguyễn Trường Tộ (Việt Nam) và Fukuzawa Yukichi (Nhật Bản) để phân tích về ý thức chủ quyền và lợi ích quốc gia ở khu vực Đông Á. Sự tương đồng và khác biệt giữa bốn nhân vật này là gì?

– Đứng trước áp lực bành trướng của thực dân phương Tây, tất cả nhà cải cách thời kỳ này đều cho rằng chủ quyền và lợi ích quốc gia là quan trọng tối thượng.

Tuy nhiên, sự khác biệt giữa họ chính là khả năng tiếp nhận văn minh phương Tây cũng như nền tảng chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và đặc tính xã hội riêng của từng nước.

Advertisement

Fukuzawa Yukichi (1835-1901) là một samurai cấp trung ở Nhật Bản. Ông mang trong mình những đặc tính của tầng lớp này, đó là tinh thần xả thân, tính quyết liệt và tư duy lý tính. Nhờ đó, ông tiếp cận văn minh phương Tây một cách triệt để. Ý thức của ông về chủ quyền và lợi ích quốc gia cũng rất mạch lạc, rõ ràng và gần gũi với thế giới quan phương Tây.

Lý Hồng Chương (1832-1901) lại có sự giằng xé giữa sự trung thành với triều đình và một quý tộc mang gốc Hán, hay lợi ích của giai cấp và lợi ích của triều đình. Ý thức về chủ quyền và lợi ích quốc gia của Lý Hồng Chương thiếu tính triệt để.

Mongkut (1804-1868) vốn là hoàng tử, một trí thức Phật giáo. Ông đi tu 27 năm trước khi lên làm vua. Mongkut rất năng động, chủ động tiếp cận văn minh phương Tây, học tiếng Anh, Latin, thực hiện các biện pháp cải cách đất nước. Mongkut cũng rất mềm dẻo, linh hoạt trong ý thức về chủ quyền và lợi ích quốc gia.

Trường hợp của Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) cũng có những giằng xé của một trí thức uyên thâm Nho học nhưng xuất thân từ Công giáo. Những biện pháp của ông đề xuất lên triều đình rất phù hợp nhưng bị nghi kỵ. Mặt khác, ý thức của ông về chủ quyền và lợi ích quốc gia không vượt quá được hệ tư tưởng phong kiến.

– Trước làn sóng xâm lược của nước phương Tây, các nhà cải cách phương Đông đã thay đổi từ quan niệm truyền thống “phụng sự cho đất nước là phụng sự cho triều đình”, sang tư tưởng “đất nước là của nhân dân”. Sự vận động và chuyển biến trong tư tưởng đó diễn ra như thế nào và nó có tác động gì đối với thế hệ tiếp ngay sau đó?

Advertisement

– Ý thức về chủ quyền hay lợi ích quốc gia của các nhà cải cách ra đời khi nó chịu sự tác động, o ép của thực dân phương Tây. Tuy nhiên, tùy thuộc điều kiện mỗi nước, nó vận động và chuyển biến khác nhau.

Mongkut là vua nên ông ta đại diện cho chính thể quân chủ. Nguyễn Trường Tộ và Lý Hồng Chương, dù có tư tưởng cải cách, vẫn đặt cược vào triều đình và không vượt qua được tư tưởng trung quân ái quốc. Còn Fukuzawa Yukichi vẫn chủ trương duy trì Thiên hoàng trong quản trị đất nước.

So với bốn nhà cải cách Đông Á trên, những nhà cải cách tiếp theo có sự chuyển động và biến đổi. Có nghĩa là sức ép của phương Tây càng lớn, việc tiếp cận văn minh phương Tây càng sâu rộng, ý thức về chủ quyền và lợi ích quốc gia về sau càng triệt để, càng gần gũi hơn với quan điểm thế giới quan của phương Tây.

– Cuốn sách này có giá trị tham khảo gì trong quan hệ đối ngoại cũng như trong xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội đất nước hiện nay?

– Chúng ta đang sống trong thời kỳ công nghệ 4.0, xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ. Xu hướng này cho chúng ta rất nhiều cơ hội, rút ngắn khoảng cách, con đường đi, nhanh chóng tiếp thu văn minh để có thể hiện đại hóa đất nước. Nhưng nó cũng đặt ra cho chúng ta rất nhiều thách thức.

Advertisement

Tiếp cận ở góc độ quan hệ quốc tế, khi hội nhập quốc tế, mỗi quốc gia phải có trách nhiệm quốc tế của mình, đồng nghĩa với việc không thể hành động hoàn toàn và tuyệt đối theo ý kiến chủ quan.

Cho nên, trong bối cảnh như vậy, việc xác định chủ quyền và lợi ích quốc gia là rất quan trọng và chúng ta phải xác định được đâu là giá trị cốt lõi, giá trị thiết yếu, vĩnh hằng, thiêng liêng của dân tộc, quốc gia mình. Với việc xác định đó, trong từng điều kiện cụ thể, chúng ta phải có những biện pháp, ứng phó linh hoạt trong đối ngoại.

Thứ hai, tiếp cận từ góc độ nhân dân, chúng ta cần phải nâng cao ý thức, tinh thần, trách nhiệm của mỗi công dân trong bối cảnh toàn cầu hóa. Điều này góp phần nâng cao tiềm lực của dân tộc. Đây là bệ đỡ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia.

Nguồn: https://zingnews.vn/nghien-cuu-moi-ve-chu-quyen-va-loi-ich-quoc-gia-post1273907.html

Advertisement

Tác giả

Nhà văn và chữ tình gởi lại

Published

on

By

Với giọng kể chân thực, nhà văn Trình Quang Phú đã dựng lên nhiều chân dung văn nghệ sĩ, mỗi câu chuyện, cảm xúc của ông đều được hun đúc, xâu chuỗi từ những năm tháng chiến tranh cho tới thời bình.

Hồn thơ nó ngấm trên đường hành quân, xúc cảm, rung động với thực tế, đêm dừng chân tôi viết một mạch, sáng ra đọc cho mọi người nghe, được hoan nghênh. Nghĩ sao viết vậy thôi.

Nhà thơ Quang Dũng.

Những năm 1970, tôi thường đến Nhà xuất bản Văn học ở 49 Trần Hưng Đạo, trước hết tôi là cộng tác viên, sau đó vì tôi có người bạn từ thời học sinh miền Nam là nhà văn Hoàng Lại Giang đang là biên tập viên ở đây.

Một hôm, tôi và Lại Giang đang ngồi ở phòng khách thì một người to cao vạm vỡ, mặt có nét lai Tây bước vào. Bạn tôi giới thiệu đó là nhà thơ Quang Dũng. Ôi, cái tên Quang Dũng gắn với bài Tây Tiến. Tôi chào anh với sự khâm phục, mến mộ. Chúng tôi quen nhau từ đó, đến nay cũng đã 50 năm có hơn. Quang Dũng sống rất thân tình, chân thật, anh vẫn luôn có một nét buồn nếu không muốn nói nốt trầm hiện trong anh.

Advertisement

Nhà văn nhưng chỉ sống bằng đồng lương ít ỏi của một biên tập viên để nuôi 7 người con thì quả là rất khó khăn. Anh phải vẽ thêm bìa sách, minh họa cho các báo để có thêm đồng ra đồng vô. Anh sống rất tằn tiện và khó khổ. Biết vậy tôi và Lại Giang thường rủ anh uống bia tươi vỉa hè với lạc luộc (đậu phộng luộc).

Tôi nhớ lần đó, tôi nhận được nhuận bút có bài in chung trong tác phẩm “Đất và nước” của Nhà xuất bản Văn học, tôi rủ anh và Lại Giang đi ăn thịt cầy bảy món. Những ngày bao cấp ấy, mỗi cán bộ một tháng chỉ mua được ba trăm gơ-ram thịt (có tem phiếu), các hàng quán, món thịt nhiều đạm và dễ kiếm nhất là thịt cầy. Tôi định mời ra phố Huế, nhưng Quang Dũng gợi ý nên lên đê Yên Phụ, vì ở đó nhiều quán ngon và rẻ. Ba chúng tôi lóc cóc đạp xe lên phố đê. Thời tiết đầu đông se se lạnh, từng ngọn gió bấc khe khẽ luồn vào các ngách áo và ngắt véo thân thể. Lạnh và buốt. Đúng là cả dãy ven đê các quán thịt cầy san sát nhau chạy dài từ cuối chợ hoa, có đến vài cây số. Hôm ấy khi có chút rượu vào tôi mạo muội hỏi Quang Dũng một câu:

– Anh có viết được gì không?

– Làm viết sao được? Anh lắc đầu: Viết theo rung động của trái tim lúc này là có chuyện, tôi đã viết và đã đốt. Làm thơ mà không rung cảm thì không còn là thơ, nó chỉ là hô khẩu hiệu theo kiểu ghép vần.

Một dịp khác, theo đề nghị của bác Nguyễn Tạo một nhà cách mạng vào Đảng từ khi Đảng mới ra đời năm 1930, ngày đó bác là Tổng cục trưởng Lâm Nghiệp, trực thuộc Chính phủ ngang Bộ trưởng. Bác Tạo cũng là Nhà văn. Bác bảo tôi mời một số nhà Văn nhà Thơ cuối tuần vào thăm rừng Cúc Phương vừa được công nhận là vườn Quốc gia (National Park) và tôi đã tổ chức được ba, bốn chuyến cho nhà văn, nhà báo vào đây. Giữa đất Ninh Bình của mùa hè nóng rát nhưng vào giữa rừng Cúc Phương thì mát mẻ vô cùng. Quang Dũng đi trong nhóm nhà xuất bản. Anh thích thú. Có lẽ là dịp hiếm hoi tôi thấy anh vui.

Advertisement

Tối đến ngồi trong nhà sàn uống trà, nhấm rượu với cá suối khô, Quang Dũng thốt lên: “Lâu lắm giờ tôi mới được ở giữa rừng, nhớ ngày xưa quá”. Cái ngày xưa ấy là những năm kháng chiến chống Pháp, những năm trong đoàn quân “Tây Tiến” của anh, những năm anh làm Đại đội trưởng của Trung đoàn 52 Tây Tiến, những năm anh làm Trưởng ban tuyên huấn của Trung đoàn rồi Trưởng đoàn Văn nghệ Liên khu 3. Trong những năm tháng đó anh sáng tác thơ, viết kịch, viết truyện ngắn. Anh còn là họa sĩ vẽ tranh sơn dầu, sáng tác cả nhạc… quả là một văn nghệ sĩ đa tài. Quang Dũng đã có nhiều thơ nổi tiếng như: Tây Tiến, Mùa hoa gạo, Rừng về xuôi, Đôi bờ, Mây đầu ô, Mắt người Sơn Tây…

Biết tôi là người đã có nhiều bài ký viết về sông Hồng, sông Đà, anh đọc cho tôi nghe Bài thơ sông Hồng của anh. Tôi cảm ơn anh và hỏi anh về bối cảnh viết bài thơ “Tây Tiến”. Anh nói ngay: “Hồn thơ nó ngấm trên đường hành quân, xúc cảm, rung động với thực tế, đêm dừng chân tôi viết một mạch, sáng ra đọc cho mọi người nghe, được hoan nghênh. Nghĩ sao viết vậy thôi”. Đúng là văn là người, thơ là người. Thơ của anh chân thật, gần gũi nhưng cũng rất hình ảnh, dễ xúc động lòng người.

Năm 1973, tôi đi công tác đối ngoại của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ở Paris về, có chai rượu ngon. Tôi mời riêng anh xuống chơi với tôi ở khu tập thể Trương Định. Chiều đó, anh đạp xe đến. Tôi mời anh lên gác nơi góc văn của tôi, chỉ hai anh em. Tôi nhỏ hơn anh gần 20 tuổi nhưng anh vẫn không chịu gọi ngôi khác. Anh nói: “Trong chống Pháp ông với tôi là lính cụ Hồ, là đồng đội, giờ lại ở chung trong làng viết lách thì gọi thế là đúng”, và ông buộc tôi gọi bằng anh.

Tôi lấy chai Whisky mang ở Paris về tặng anh. Tôi nói: chai này là quà tặng anh, còn hôm nay mình nhâm nhi “Cuốc lủi” (loại rượu gạo dân gian). Anh cầm chai rượu cảm động thể hiện rõ trên nét mặt. Im lặng một chút anh nói: “Này, tôi có một đề nghị. Chai rượu này quý lắm, nếu tôi xách về, vợ tôi sẽ đem bán và nhà được vài bữa tươi, nhưng nó là rượu tình, rượu nghĩa ông xách từ Paris về, bán thì xót lắm. Tôi đề nghị ta khui chai này, còn chai “Cuốc lủi” ông cho tôi mang về”. Tôi gật đầu đồng ý mà lòng rung cảm thương anh, thương cái tình chân thật của anh, thương cái nghèo, cái khó đang theo anh.

Khi tôi mở chai rượu thì anh lấy từ cái túi vải có hai quai anh vẫn xách theo một gói bằng giấy báo, bên trong bọc lá chuối, mở ra là đậu phộng luộc. Anh nói: “Tôi biết ông có mồi rồi, nhưng cái món lạc luộc này, nó có hồn dân tộc, tôi thích lắm!”. Chúng tôi vừa nhâm nhi vừa trò chuyện.

Advertisement

[…]

Sau này khi đất nước đổi mới, Quang Dũng là một trong những nhà văn được Chủ tịch nước tặng giải thưởng Nhà nước cho tác phẩm văn học nghệ thuật đợt đầu tiên. Và bài thơ Tây Tiến của anh được tạc trong cụm tượng đài kỉ niệm đoàn quân Tây Tiến.

Nguồn: https://zingnews.vn/ky-niem-voi-nha-tho-quang-dung-post1377640.html

Advertisement
Continue Reading

Tác giả

Nhà văn trẻ dấn thân vào trinh thám

Published

on

By

Nhiều nhà văn trẻ theo đuổi dòng trinh thám bắt nguồn từ đam mê và vì đam mê mà theo đuổi.

Truyen trinh tham anh 1
Hai cuốn trinh thám của tác giả trẻ.

Thời gian qua, không ít tác giả tập trung vào các vấn đề về tâm lý, phức cảm, những hoang mang của đời sống đô thị, những đối chọi giữa các tiêu chuẩn văn hóa cũ và mới trong giới trẻ… Trong khi đó, văn chương trẻ có những cây bút nỗ lực làm mới như Đinh Phương, Đức Anh, Hiền Trang, Võ Chí Nhất, Nguyên Như…

Nhà văn trẻ Đức Anh đã trình làng những tác phẩm khá ấn tượng như Thiên thần mù sương, Tường lửa, Đảo bạo bệnh theo dòng trinh thám vốn còn ít được tác giả trong nước lựa chọn. Nhiều bạn đọc và một số nhà phê bình đánh giá Đức Anh dám bước đi trên con đường lẻ loi.

Còn nhà văn thì chia sẻ: “Văn học trinh thám đã cho tôi nhiều trải nghiệm, rèn luyện kỹ thuật chuyên môn và kỷ luật viết văn, cho tôi được gặp gỡ những người bạn văn, các anh chị lớn tuổi, giàu kinh nghiệm hơn và cho tôi có độc giả trung thành. Tôi đang tiến đến những cải tiến mới, về điều mình muốn viết, muốn nói ra, về những bí ẩn và vẻ đẹp của đời sống mà tôi góp được hàng ngày”.

Nhà văn trẻ Võ Chí Nhất đang công tác trong ngành công an, mới đây đã trình làng tập truyện trinh thám Muội tro. Võ Chí Nhất chia sẻ, truyện trinh thám đầu tiên anh viết có tên Dòng máu bạc, hiện đã triển khai thành một tiểu thuyết và sẽ trình làng trong thời gian tới. “Tôi cho rằng, không hẳn người công tác trong ngành công an hay tình báo mới theo đuổi dòng trinh thám, mà bắt nguồn từ đam mê và vì đam mê mà theo đuổi”, Võ Chí Nhất nhấn mạnh.

Advertisement

Truyện trinh thám không đơn thuần là những câu chuyện vụ án mà được “dựng” lại từ những vụ án có thật theo nguyên tắc (tác giả tự vạch ra) là bảy phần thật, ba phần thêm thắt. Một truyện trinh thám hấp dẫn cần nhiều yếu tố.

Theo Đức Anh và Võ Chí Nhất, các tác giả thường đọc nhiều trước khi viết, điều cần thiết là tìm một vụ án phù hợp để xây dựng một cốt truyện hấp dẫn và đáng tin, các nhân vật phải có những đặc điểm đặc biệt, lối hành văn đặc trưng, bố cục, cách dẫn chuyện, chủ đề của truyện phải độc đáo…

Để nhà văn trẻ phát triển và đi được đường dài trên con đường sáng tạo, không thể thiếu sự hỗ trợ, giúp đỡ của các cơ quan chuyên môn, các nhà phê bình, nhà sách. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, chia sẻ Hội Nhà văn khuyến khích và tích cực tạo sân chơi cho người trẻ sáng tác, tìm tòi lối đi riêng. Bởi họ là những người quyết định hình dáng, chân dung văn học trong khoảng 10 đến 20 năm nữa.

Nguồn: https://zingnews.vn/nha-van-tre-dan-than-vao-trinh-tham-post1378705.html

Advertisement
Continue Reading

Tác giả

Một thế giới muôn sự người

Published

on

By

Phan Đình Minh là nhà văn chuyên về truyện ngắn. Có lẽ, chính thể loại hư cấu tự sự mang xu hướng nén chặt này hợp với tạng văn của anh hơn cả.

Thượng tá – nhà văn Phan Đình Minh. Nguồn: cand.

Điều đó thể hiện ở nhiều tập truyện đã xuất bản trước đây, và một lần nữa, nó thể hiện ở tập mới nhất, gồm 16 truyện, có tên Gió Trương Chi. 16 truyện ngắn khá đa dạng về chủ đề, nhưng chụm lại ở hai điểm.

Thứ nhất, không gian nghệ thuật của các truyện kể thường là không gian mang đặc trưng làng xã nông thôn, hoặc những thị trấn thị xã nửa tỉnh nửa quê.

Thứ hai, thế giới nhân vật rất đa dạng: quan chức lãnh đạo, cán bộ nghiên cứu, trưởng xã, trưởng thôn, nông dân, công nhân, tiểu thương, lao động làm thuê ở nước ngoài, nghệ sĩ, nghệ nhân, nhân viên nhà tang lễ, kẻ buôn thần bán thánh, kẻ cho vay nặng lãi, kẻ chán đời nốc rượu như Chí Phèo…

Các nhân vật ấy thiết lập những mối quan hệ với nhau theo rất nhiều cách, và các mâu thuẫn xung đột giữa họ cũng nảy sinh theo rất nhiều kiểu. Nhưng tựu trung, đó chỉ là những tư liệu sinh động để tác giả thể hiện suy ngẫm và mời gọi người đọc cùng suy ngẫm, về tính người và tình người giữa muôn dòng chảy xuôi ngược làm thành cuộc sống ngày hôm nay.

Advertisement
Gio Truong Chi anh 1
Tập truyện Gió Trương Chi.

Văn của Phan Đình Minh trong tập truyện ngắn này trọng nhịp điệu và rất nhiều từ lạ, đắt, cũng như có nhiều từ quen nhưng nhà văn lại không dùng chúng theo nghĩa từ điển thông dụng. Với văn ấy, Phan Đình Minh dựng lên một số nhân vật theo mẫu “grotesque” (thô kệch, nghịch dị) khá ấn tượng, như Cao Cả Xuề trong truyện Mật đắng, con sâu rượu từng ba lần mổ gan, luôn cởi trần phơi cái bụng băm vằm vết mổ để gây sự, dọa nạt…

Nhưng cũng văn ấy, Phan Đình Minh lại tạo tác những nhân vật rất tử tế, đầy ắp nhân tính và nhân tình, như cô Duyền và Cao Của Pính, người chồng của cô, trong truyện Mùa hoa liễu quế hương. Hay như hai ông và một bà nghệ nhân tuồng làng Thạch Lãm trong truyện Cha tôi, kép Cúc, những con người yêu nghệ thuật, đầy tinh thần trượng nghĩa, luôn cư xử rất đàng hoàng, biết nhận lỗi và cũng rất biết bỏ qua trước những thái độ chân thành, cầu thị.

Tập Gió Trương Chi đôi khi ẩn chứa tinh thần giễu cợt sâu cay, như ở truyện “Phần mềm”, trước cái thói vô tích sự, ưa làm điệu làm bộ quan trọng, nhưng là trên công sức người khác. Đôi khi đó là sự phẫn nộ ghìm nén, như ở truyện Nút send, trước sự hoang dâm đốn mạt của cặp nhân vật ông bố và con trai.

Tuy nhiên vượt lên, gây ấn tượng sâu sắc hơn cả, vẫn là những truyện viết về sự tử tế của con người, như truyện Gió Trương Chi, kể về hai cha con người nhạc sĩ luôn đau đáu với một tác phẩm khí nhạc để đời. Cả tập Gió Trương Chi, đó là một thế giới muôn sự người…

Nguồn: https://zingnews.vn/mot-the-gioi-muon-su-nguoi-post1378186.html

Advertisement
Continue Reading

Xu hướng