Connect with us

Sách hay

Giám khảo Giải Sách Quốc gia đánh giá về ‘Đoàn binh Tây Tiến’

Published

on

Cuốn “Đoàn binh Tây Tiến” của Quang Dũng được trao giải A Giải thưởng Sách Quốc gia 2020. Ông Lê Hoàng – Phó chủ tịch Hội Xuất bản Việt Nam – nhận xét chi tiết về tác phẩm.

Doan binh Tay Tien anh 1

Như lời giới thiệu về tổng quan có tính “vĩ mô” của tác phẩm, NXB Kim Đồng đã viết : “Tập sách cho chúng ta biết về việc thành lập Đoàn Võ trang Tuyên truyền ngay từ những ngày đầu, với hạt nhân là một số chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô. Nó cho chúng ta biết về nhiệm vụ Đoàn được giao, những việc Đoàn đã làm trọng suốt những năm tháng gian lao và hào hùng ấy”.

“Nó cũng cho cho chúng ta biết về về sự tham gia của Đoàn nhạc binh nổi tiếng của nhạc trưởng Đinh Ngọc Liên trên mặt trận này. Đặc biệt nó còn cho chúng ta biết về mối quan hệ gắn bó giữa bộ đội ta và bộ đội Lào, qua một Trung đội Pa thét Lào được cử tham gia vào Đoàn Võ trang Tuyên truyền Biên khu Lào – Việt. Tây Tiến là đơn vị đầu tiên của Việt Nam đi làm nghĩa vụ quốc tế tại Lào”.

Cảnh đẹp núi rừng hoang sơ

Đi sâu vào tác phẩm, ta có thể nhận ra những điều thú vị mà tác giả Quang Dũng đã mang lại cho người đọc.

Tác giả đã miêu tả một toàn cảnh, một bức tranh sinh động của núi rừng biên khu Lào – Việt hùng vĩ, hữu tình nhưng cũng lắm gian nan hiểm trở.

Advertisement

Thông qua những động người Mán, bản người Mèo, những địa danh Chiềng Hịch, Chiềng Sại, Chiềng Pọng… với lối kể chân thật, sống động và gợi cảm, tác phẩm giúp người đọc hình dung được cảnh đẹp nên thơ hữu tình của núi rùng hoang sơ vùng biên cương Lào – Việt cách đây 70 năm.

Doan binh Tay Tien anh 2

Sách Đoàn binh Tây Tiến. Ảnh: NXB Kim Đồng.

“Sương chiều đã buông đặc cả đỉnh núi trước mặt. Những ngọn lửa thấp thoáng trên nhà Mèo lưa thưa, còn cao lắm. Đường càng dốc. Có hai ba ngả đường mòn chụm lại”.

“Những rừng chuối xanh tươi. Dọc đường, thỉnh thoảng một mái lều heo hút dựng trên mấy thân cây khẳng khiu”.

“Sau một cơn mưa, cây cối như tươi lại. Tiếng những mạch nước từ rừng chảy qua đường, tiếng những khe suối dồn xuống sông Mã… chỉ cái tiếng nước ấy đã làm mát đầu óc người ta rồi”.

“Bãi cỏ rộng trên đỉnh núi, bát ngát lượn xa. Ở đây là xứ của mây. Mây là thấp như chăn bông giải trên bãi. Những đàn bò béo tốt đang gặm cỏ non. Khí trời trong như không một hạt bụi. Lợn rất nhiều. Những vườn rau cải cao, xanh tốt”.

Advertisement

Tác giả cũng không quên nói lên cảnh núi non, sông nước, đầy hiểm trở, gian nan, thử thách sức của Đoàn binh Tây Tiến.

“Anh đưa đi toàn đường tắt, những quãng đường lội hàng hai giờ bì bõm ở suối nước, leo năm giờ liền một cái dốc để lại xuống, rồi lại lên một cái dốc khác. […] Rồi cứ dốc, cứ dốc ngược mãi lên”.

“Nửa tháng ròng, họ đi như thế. Ngày nắng thì nắng gắt, hơi đá, hơi cỏ nồng nực xông lên, ngày mưa thì mưa bất chợt giữa đường, quần áo, chăn màn ướt sũng”.

Những đoạn tả cảnh hiểm trở của sông nước: “Tiếng nước ào ào réo. Sông Mã”. Hay: “Ông Ký vốn là tay bơi thạo có tiếng, sông Hồng Hà vượt như chơi, thế mà ở khúc sông nầy, đành nắm chặt lấy cây nứa thành bè… Một cái lắc mạnh, bè chìm, quây đi một vòng, bè lại nổi… Những tiếng bọt nước kêu ở đầu những ống nứa như một nồi cơm đang sôi sục sục”.

Doan binh Tay Tien anh 3

Tượng nhà thơ Quang Dũng tại khu di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến. Ảnh: Anninhthudo.

Tư liệu chân thực

Tác giả đã cho thấy cảnh tản cư, chạy giặc, cảnh dân quân hiệp đồng chuẩn bị cho những cuộc đánh lớn sắp tới ở chiến trường vùng biên cương Tây Bắc.

Advertisement

Tác phẩm giúp người đọc hình dung được bối cảnh của cuộc chiến tranh tổng lực sắp tới, những quyết tâm cao độ của quân dân trong những năm cuối của thập niên 1940 trong công cuộc chống Pháp.

“Tiếng súng, tiếng xe tăng rì rì, tiếng súng tay nghe cũng rõ từng phát. Ngoại ô Hà Nội… cũng đã rục rịch chuyển bước… Những đám cháy ở phía xa khói không lúc nào hết cuộn. Lẫn vào dòng người thôn quê gánh gồng, thỉnh thoảng xen vào một gia đình thành thị”.

“Quân đội kéo ra tiền tuyến không lúc nào ngớt đi. Cáng thương binh khênh về cũng nghỉ lại ở những quán nước”. “Cán bộ gặp nhau, kẻ từ mặt trận mới về, chuyện chiến đấu không kịp nói cho hết; người chiều nay ra đi, người miền xuôi nhìn đường lũ lượt dân chúng đã phá vườn, đốt nhà, bước theo con đường vất vả mà cả dân tộc đang phải can đảm dấn bước…”.

Doan binh Tay Tien anh 4

Ông Lê Hoàng – Phó chủ tịch Hội Xuất bản Việt Nam, thành viên Hội đồng Chung khảo Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ ba. Ảnh: Quỳnh Trang.

Sự hy sinh quả cảm của chiến sĩ Tây Tiến

Trong suốt tuyến nội dung tác phẩm, nổi bật lên hoạt động của Đoàn Võ trang Tuyên truyền Biên khu Lào – Việt.

Nhiệm vụ của đoàn binh Tây Tiến là công tác tuyên truyền vận động, lôi cuốn quần chúng đồng bào các dân tộc đến với cách mạng, đã thể hiện một cách tài tình, sinh động đường lối cách mạng lỗi lạc của Hồ Chí Minh.

Advertisement

Đó là việc hình thành mặt trận đoàn kết tập họp nhiều lực lượng cho công cuộc đấu tranh cách mạng. Đó không chỉ là sự gắn bó mang tính quốc tế giữa bộ đội ta với bộ đội Lào, mà còn tập họp được đoàn nhạc binh nổi tiếng của Nhạc trưởng Đinh Ngọc Liên, vốn là đội Kèn nhà binh của Bắc Kỳ ngày trước, phần đông theo đạo công giáo, bỏ quyền lợi riêng tư tự nguyện, nồng nhiệt đi theo cách mạng, đồng cam cộng khổ với Đoàn Võ trang Tuyên truyền và bộ đội ta trong suốt chặng đường đấu tranh chống Pháp.

Quang Dũng cũng kể được những câu chuyện sinh động về công tác tuyên truyền, vận động bà con các dân tộc bằng những biện pháp dân vận tài giỏi, động viên lòng yêu nước, lôi cuốn được bà con các dân tộc, người lương cũng như người giáo hướng về cách mạng, để sau đó, dù các vùng dân tộc này rơi vào tay giặc, nhưng Đoàn trưởng Đoàn Hải vẫn tự tin rằng “Giặc không thể nào chiếm đoạt được lòng tin tưởng của đồng bào. Giặc không thể nào mê hoặc được người dân, khi mà người dân đã được chúng ta đem lẽ phải, đem sự thực nói cho họ biết”.

Dù không có nhiều cảnh đánh nhau của một cuộc chiến tranh khốc liệt thể hiện trong tác phẩm, nhưng trong “Thêm một vài dòng…” ở những trang đầu của tập sách, tác giả đã nói về những người đồng đội của mình. Nhiều đồng đội của Quang Dũng đã ngã xuống anh dũng như Đoàn trưởng Đoàn Hải, Như Trang, Tuấn Sơn, ông Thao Hạnh, Bác sĩ Đức. Điều đó cho thấy tính khốc liệt của cuộc chiến và bao sự hy sinh của các chiến sĩ Tây Tiến.

Ngoài ra, người đọc cũng tìm thấy từ tác phẩm sự vui tươi không chỉ bởi không khí, tinh thần lạc quan luôn thể hiện bởi những người lính của Đoàn binh Tây Tiến, mà còn có sự đóng góp của những màn nhảy múa, câu hát điệu hò, bởi giọng trọ trẹ Việt lai Hoa của ông chủ tiệm người Hoa, và bởi cái ngọng rất dễ thương “l” thành “n” của Tiểu đội trưởng Giang Sơn thỉnh thoảng lại thốt lên làm người đọc phải tủm tỉm cười.

Tác phẩm Đoàn binh Tây Tiến là một di sản quý giá, mang giá trị văn học chân thực có ý nghĩa giáo dục truyền thống lịch sử với người đọc thanh thiếu niên hiện nay và bao thế hệ sau này.

Advertisement
Hồi ký ‘Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh’ của Quang Dũng Cuốn “Đoàn binh Tây Tiến” được nhà thơ Quang Dũng hoàn thành từ năm 1952. Đến năm 2019, bản thảo viết tay của tác giả mới được in và phát hành.

Nguồn: https://zingnews.vn/giam-khao-giai-sach-quoc-gia-danh-gia-ve-doan-binh-tay-tien-post1140796.html

Sách hay

Cuộc đua vĩ đại của ngành hàng không

Published

on

By

Trong “The Great Air Race”, John Lancaster kể câu chuyện về những người đã đánh đổi mạng sống của mình để ngày nay chúng ta có thể xách vali lên, bay từ nước này sang nước khác.

Một số phi công từ tham gia cuộc đua xuyên lục địa vào năm 1919. Ảnh: Library of Congress.

Vào tháng 10/1919, Thiếu tá AL Sneed lái chiếc máy bay DH-4 từ Rochester, New York (Mỹ), bay ngược chiều gió. Gần hết xăng, ông bắt đầu lao xuống sân bay Buffalo. Ngay trước khi máy bay hạ cánh, người thứ 2 có mặt trong chuyến đi, thợ máy của Sneed, tháo dây an toàn, đứng dậy ở buồng lái đằng sau, đi về phía đuôi và ngồi trên thân máy bay.

Đang lao xuống một cách chật vật, chiếc máy bay khựng lại và nghiêng theo chiều gió. Cánh phải của nó chạm đất, người thợ máy bị nảy lên không trung “như một viên đá ném ra từ ná cao su”.

Người thợ máy không rời khỏi chỗ ngồi để ra vẻ hoặc khắc phục bất kỳ sự cố khẩn cấp nào. Ông ta sử dụng cơ thể của mình để dịch chuyển trọng tâm của máy bay về phía sau càng xa càng tốt trước khi hạ cánh.

Advertisement

Cuộc đua xuyên lục địa

Trong thời kỳ đầu của ngành hàng không, những thao tác nguy hiểm như vậy thường là cách duy nhất để giữ cho máy bay không bị rơi khi hạ cánh. Tuy nhiên, không phải lúc nào mọi chuyện cũng diễn ra suôn sẻ.

Các kỹ thuật thô sơ này thường xuyên xuất hiện trong The Great Air Race: Glory, Tragedy, and the Dawn of American Aviation của John Lancaster. Tác giả kể lại những chi tiết quan trọng về cuộc chạy đua máy bay xuyên lục địa đầu tiên của Mỹ, sự kiện được xem như cột mốc khởi đầu cho ngành hàng không dân dụng hiện đại.

Năm 1919, Mỹ tổ chức cuộc thi bay khứ hồi từ Mineola, New York và đến San Francisco. Đây không chỉ đơn thuần là một bài đánh giá về sức bền hay tốc độ. “Mặc dù máy bay đã thể hiện tiềm năng của nó trong chiến tranh, nó vẫn chưa chứng minh được tính hữu ích trong thời bình”, Lancaster giải thích.

lich su hang khong anh 1

Một chiếc máy bay hạ cánh ngoài bãi đáp khi tham gia cuộc đua vào năm 1919. Ảnh: National Archives.

Cuộc đua xuyên lục địa được tạo ra để thuyết phục công chúng và chính phủ rằng máy bay là phương tiện vận chuyển đường dài ở Mỹ trong tương lai, cho cả hành khách và thư từ. Theo tiết lộ của quyển sách, cuộc đua kéo dài 3 tuần, kết thúc vào lúc hoàng hôn ngày Halloween với 9 người thiệt mạng, một con số gây sốc.

Việc tái hiện những chuyến bay kỳ lạ và kinh hoàng trong thời kỳ đầu là một kỳ công. Để làm được việc này, Lancaster đã dựa vào tư liệu thực tế từ giai đoạn sơ khai của lĩnh vực hàng không.

Advertisement

Tái hiện chân thật

Trong The Great Air Race: Glory, Tragedy, and the Dawn of American Aviation, John Lancaster giới thiệu với độc giả những cảnh tượng xa lạ với các chuyến bay ngày nay. Máy bay tham gia cuộc đua không có phanh hoặc dù. Các cụm từ mô tả kịch tính như “một màng lửa cuộn phía sau động cơ” xuất hiện trong hàng chục đoạn, xuyên suốt quyển sách.

Hạ cánh không phải là thử thách duy nhất. Việc cất cánh cũng có thể khó khăn, đặc biệt là khi tầm nhìn kém, gần núi. Các phi công trong cuộc đua thuê những người đàn ông trên mặt đất để giữ máy bay đứng yên cho đến lúc động cơ hoạt động hết công suất. Điều này cho phép máy bay vọt lên cao khi được thả ra.

lich su hang khong anh 2

Bìa sách The Great Air Race: Glory, Tragedy, and the Dawn of American Aviation. Ảnh: Liveright.

Tại Green River, một chiếc máy bay lao xuống vách đá vì không đủ lực nâng trước khi chạy ra khỏi đường băng. Những mối nguy hiểm bất ngờ khác luôn rình rập, từ băng giá trái mùa cho đến phá hoại.

Câu chuyện của Lancaster tập trung vào Billy Mitchell, phi công huyền thoại, người đã quảng bá và ủng hộ nhiệt thành cho ý tưởng cuộc thi. Ngoài ra, tác giả cũng dẫn dắt câu chuyện luân phiên theo nhóm đi về phía tây rồi chuyển hướng sang những người đang đi về phía đông từ Thái Bình Dương.

Cuối cùng, cuộc thi đã chứng minh rằng con người có thể bay xuyên quốc gia nhanh hơn tàu hỏa. Tuy nhiên, không ít người chỉ trích sự kiện này. Nghị sĩ Fiorello La Guardia gọi cuộc đua là “sự thể hiện thảm hại của những lợi ích nhỏ nhen”.

Advertisement

Một số phi công từng là anh hùng trong chiến tranh. Họ đã mạo hiểm không kém, kể cả đánh đổi tính mạng khi tham gia cuộc đua máy bay xuyên lục địa. Nhưng cuối cùng mục đích của nó có đáng để nhiều người liều mạng?

Vào năm 2019, Lancaster lái một chiếc máy bay hiện đại dọc theo lộ trình xuyên lục địa giống những người đàn ông trong câu chuyện của ông. Nhiều bãi đáp từ cuộc thi đã trở thành đất nông nghiệp hoặc trung tâm mua sắm.

Không phải ai cũng nghĩ rằng đó là một cuộc đua xứng đáng, nhưng Lancaster đã kể một câu chuyện sống động, đồng thời vinh danh những người “tử vì đạo”. Sự hy sinh của họ đã góp phần đặt nền móng cho ngành hàng không dân dụng hiện nay.

Nguồn: https://zingnews.vn/cuoc-dua-vi-dai-cua-nganh-hang-khong-post1381989.html

Advertisement
Continue Reading

Sách hay

Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII

Published

on

By

Ấn phẩm được thực hiện để giúp các cấp, các ngành cùng toàn thể cán bộ, đảng viên và Nhân dân học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Phần thứ nhất trong chuyên đề “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”.

Lễ thượng cờ trên đỉnh Fansipan. Ảnh: Việt Linh.

I. Những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước pháp quyền.

1. Sự hình thành và phát triển tư tưởng, quan điểm về nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại

Nhà nước pháp quyền được thể hiện trên hai phương diện: (1) Tư tưởng, lý thuyết, quan điểm; (2) Tổ chức quyền lực nhà nước với những mô hình đa dạng, phong phú và có lịch sử lâu đời. Các tư tưởng, lý thuyết, quan điểm và mô hình đó đều hướng vào một ý niệm chung về cách thức tổ chức đời sống chính trị – xã hội theo các yêu cầu bảo đảm dân chủ, công bằng, vì con người trên cơ sở pháp luật; xác lập nguyên tắc thượng tôn pháp luật trong mối quan hệ pháp luật – quyền lực nhà nước – quyền con người.

Advertisement

Thượng tôn pháp luật với tính chất là hạt nhân của tư tưởng pháp quyền ra đời sớm nhất ở nhà nước Hy Lạp cổ đại. Ở phương Đông, trước hết là trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, tư tưởng dùng pháp luật để trị quốc cũng đã hình thành, phát triển và có những thời điểm đã trở thành quốc sách cai trị của các vương triều. Tư tưởng La Mã cổ đại đã coi pháp luật là hạt nhân của Nhà nước. Vì vậy, ở đó đã sớm hình thành một nền pháp luật trên cơ sở những nền văn hóa phát triển của các đế chế La Mã và Byzantine, với những chế định pháp luật, hệ thống tố tụng phát triển làm công cụ quản lý xã hội và thúc đẩy vai trò của người dân trong đời sống chính trị.

Thời kỳ trung đại kéo dài hàng nghìn năm ở phương Đông và hàng trăm năm ở phương Tây, dưới ách thống trị của các chế độ chuyên chế vương quyền và thần quyền đầy bạo lực và cuồng tín tôn giáo đã làm cho những tư tưởng pháp quyền có được từ thời cổ đại bị đẩy lùi đáng kể, dẫn đến tình trạng kém phát triển kéo dài. Thời kỳ này, pháp quyền không chỉ là tư tưởng, quan điểm, học thuyết mà đã trở thành hiện thực chính trị – pháp lý với sự ra đời của bản Đại hiến chương về các quyền tự do năm 1215 của nước Anh, còn gọi là Hiến chương Magna Carta.

Trong thời kỳ cận đại, khi mà các yếu tố của chủ nghĩa tư bản đã hình thành và phát triển đòi hỏi một trật tự pháp lý mới phù hợp với thế giới quan của giai cấp tư sản mà theo Ph. Ăngghen là thế giới quan pháp lý. Vì thế, các giá trị tư tưởng pháp quyền ra đời từ thời kỳ cổ đại và trung đại được phục hưng và phát triển. Nhà nước được coi là khế ước của xã hội dựa trên nhu cầu bảo đảm và bảo vệ quyền con người; kiểm soát và cân bằng quyền lực để kiểm soát quyền lực. Các giá trị của pháp luật như công bằng, lẽ phải, gắn với các giá trị đạo đức đã từng bước được khẳng định trong các học thuyết chính trị – pháp lý của lịch sử tư tưởng cận đại.

Trong thời kỳ hiện đại, đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới thứ hai, vấn đề nhà nước pháp quyền tiếp tục được đặt ra trong những điều kiện mới, nhấn mạnh nhiều hơn đến bảo đảm, bảo vệ quyền con người, chủ nghĩa Hiến pháp và tất cả được đặt trong tổng thể của vấn đề quản trị tốt. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, sau đó là hai bản công ước quan trọng về quyền con người đã được Liên hợp quốc ban hành vào năm 1966 là: Công ước về các quyền dân sự và chính trị; Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã khẳng định giá trị phổ quát, ý nghĩa toàn cầu của quyền con người và trách nhiệm của các quốc gia trong việc thúc đẩy quyền con người.

Ngày nay, pháp quyền đã trở thành một trong những nguyên tắc phổ biến của quản trị nhà nước dân chủ dựa trên cơ sở thượng tôn hiến pháp và pháp luật, vì con người và bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Các tư tưởng, quan điểm về nhà nước pháp quyền được phổ biến, phát triển trong các cộng đồng quốc tế và ở các quốc gia.

Advertisement

2. Các nguyên tắc pháp quyền và đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền

Các nguyên tắc pháp quyền

Nguyên tắc pháp quyền theo cách tiếp cận tổng quát là nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo về tính tối thượng của pháp luật trong đời sống nhà nước và xã hội. Theo cách tiếp cận các yếu tố cấu thành pháp quyền, các nguyên tắc pháp quyền cơ bản trong quản lý nhà nước, tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước gồm: (1) Pháp luật phải rõ ràng, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận; được tôn trọng và thực hiện nghiêm minh, công bằng, bình đẳng, nhất quán; (2) Quyền lực nhà nước được tổ chức và vận hành trong giới hạn, bị kiểm soát, ràng buộc bởi hiến pháp và pháp luật; (3) Quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ.

Ngoài ra, các học thuyết, tư tưởng, quan điểm về nhà nước pháp quyền dưới ảnh hưởng của chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội cụ thể của từng giai đoạn lịch sử và từng quốc gia, khu vực còn đưa ra những yêu cầu, giá trị đặc trưng về nguyên tắc pháp quyền, như thượng tôn hiến pháp, dân chủ, chủ quyền nhân dân, bảo vệ công lý, phân quyền, độc lập của tòa án, sự tham gia của giá trị đạo đức… nhưng nhìn chung đều thống nhất và phù hợp với các nguyên tắc pháp quyền cơ bản nêu trên

Các đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền

Advertisement

Dưới đây là những đặc trưng đã được thừa nhận rộng rãi:

(1) Khẳng định chủ quyền của Nhân dân và vai trò chủ thể của Nhân dân đối với quyền lực nhà nước. Nhân dân là nguồn gốc của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước thông qua các hình thức dân chủ, là nguồn gốc chính danh và hợp pháp của quyền lực nhà nước.

(2) Đề cao vai trò của hiến pháp và pháp luật trong hoạt động quyền lực và trong đời sống xã hội, bảo đảm thượng tôn hiến pháp.

Nhà nước phải đặt mình dưới hiến pháp và pháp luật, chịu sự ràng buộc của hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp được coi là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của nền dân chủ và chế độ pháp quyền, thể hiện ý chí, lợi ích của Nhân dân, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tôn trọng, thực hiện, bảo vệ sự tôn nghiêm của hiến pháp được coi là quyền và trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi thiết chế nhà nước, tổ chức và công dân. Giám sát tính hợp hiến trong các hoạt động quyền lực nhà nước và bảo vệ sự tôn nghiêm của hiến pháp là để bảo đảm, bảo vệ sự toàn vẹn của chế độ nhà nước, chế độ chính trị và chế độ xã hội.

(3) Tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, các giá trị công bằng, công lý.

Advertisement

Yêu cầu về tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người được hình thành trong bước chuyển lịch sử từ “con người – thần dân” sang “con người – công dân” trong nhà nước với các nội dung như quyền được sống, được tự do mưu cầu hạnh phúc, được bình đẳng, có đủ cơ hội để phát triển mọi khả năng của mình, được pháp luật bảo đảm và bảo vệ. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, các công ước quốc tế của Liên hợp quốc năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị và về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đều hướng trách nhiệm của nhà nước vào việc tạo lập môi trường đầy đủ và thuận lợi nhất cho việc thực hiện trên thực tế quyền con người, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, ngăn chặn các hành vi xâm phạm hoặc hạn chế bất hợp pháp quyền con người, đề cao công bằng và bình đẳng, chống mọi biểu hiện phân biệt đối xử về quyền và sự bất công dựa trên chủng tộc, tôn giáo, giới tính. Quyền con người là giá trị gắn liền với pháp quyền, là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của nhà nước pháp quyền. Quyền con người được công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ theo hiến pháp và pháp luật. Mọi cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân đều phải tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người. Tư tưởng đề cao các giá trị công bằng, công lý, quyền con người thể hiện tập trung ở chỗ, công bằng, công lý, quyền con người là các giá trị cao cả của xã hội, gắn liền với pháp quyền; hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội phải dựa trên pháp luật; pháp luật phải công bằng, hợp lý và có mục tiêu trọng tâm là bảo vệ quyền con người; nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người; tư pháp có sứ mệnh, trọng trách bảo vệ công lý, quyền con người; tư tưởng công bằng, bảo vệ công lý, quyền con người là nền tảng của việc xây dựng tố tụng tư pháp.

(4) Hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, thống nhất, đồng bộ, minh bạch, dễ tiếp cận và được thực hiện nghiêm minh, nhất quán, hiệu quả.

Bảo đảm dân chủ, công bằng, nhân đạo, thống nhất là mục tiêu của điều chỉnh pháp luật, là yêu cầu đối với quá trình kiến tạo pháp luật, đồng thời là cơ sở để bảo vệ công lý và quyền con người trong nhà nước pháp quyền. Tính minh bạch đòi hỏi pháp luật phải dễ hiểu, được công bố rộng rãi, giúp định hướng hành vi phù hợp pháp luật, bảo đảm tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người khác, đồng thời quy trình lập pháp, thủ tục hành chính và thủ tục tư pháp phải công khai, rõ ràng. Yêu cầu về thủ tục công bằng và chặt chẽ là sự biểu hiện rõ nét nhất nội hàm của nhà nước pháp quyền, giúp người dân biết rõ quyền và nghĩa vụ của mình để có hành vi phù hợp với pháp luật. Tính dễ tiếp cận là đòi hỏi pháp luật thực sự hướng đến con người trong thực tế, liên quan đến các vấn đề lớn như giải thích pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, dịch vụ tư vấn pháp luật và luật sư, trợ giúp pháp lý cho các đối tượng chính sách xã hội. Tính đầy đủ, kịp thời là yêu cầu xuất phát từ việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân, không tạo ra những khoảng trống, bất cập trong hệ thống pháp luật có thể hạn chế hoặc phương hại đến việc thực hiện các lợi ích chính đáng hợp hiến, hợp pháp của người dân và xã hội. Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật phải được thực hiện nghiêm minh, nhất quán và hiệu quả để bảo đảm vai trò, hiệu lực của pháp luật và ý thức thượng tôn pháp luật.

(5) Phân quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước.

Bản chất của quyền lực nhà nước là thống nhất, được phân chia thành những nhánh quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Thống nhất là mặt bản chất của quyền lực nhà nước, phân quyền luôn được hiểu là cơ chế có tính chất tổ chức pháp lý để bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước.

Advertisement

Kinh nghiệm tổ chức quyền lực trong nhà nước pháp quyền tại các quốc gia trên thế giới cho thấy, cơ chế phân quyền, ngoài các đặc trưng phổ biến nêu trên, còn có nhiều biến thể mang dấu ấn và đặc thù quốc gia, dân tộc, văn hóa, chính trị, đặc điểm của hệ thống pháp luật.

(6) Độc lập xét xử của tòa án.

Độc lập xét xử của tòa án được hiểu ở hai mức độ: Sự độc lập giữa các tòa án bên trong hệ thống của mình; Sự độc lập của các thẩm phán khi xét xử. Độc lập xét xử của tòa án là điều kiện để thực hiện chức năng quan trọng của nhà nước – chức năng thực hiện pháp luật công bằng, nghiêm minh, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân, duy trì và bảo vệ công lý.

Tính phổ biến và tính đặc thù của nhà nước pháp quyền

Tính phổ biến của nhà nước pháp quyền trước hết thể hiện đây là giá trị, tinh hoa của nhân loại, được hình thành, phát triển trong lịch sử lâu dài, được kiểm nghiệm và thể nghiệm trong thực tiễn tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước. Tính phổ biến của nhà nước pháp quyền thể hiện qua việc được ghi nhận trong hiến pháp của các quốc gia trên thế giới: Trong số 125 hiến pháp của các nước đã có 96 hiến pháp ghi nhận về nhà nước pháp quyền.

Advertisement

Tính đặc thù xuất phát từ trình độ phát triển kinh tế – xã hội; đặc điểm văn hóa, trong đó có văn hóa chính trị và văn hóa pháp lý; truyền thống tổ chức đời sống các cộng đồng dân cư, tính chất và đặc điểm của hệ thống pháp luật…

Khi áp dụng mô hình nhà nước pháp quyền, các quốc gia đều căn cứ trước hết từ những giá trị chung trên cơ sở kết hợp với đặc thù quốc gia, dân tộc. Sự kết hợp đó không cản trở lẫn nhau, trong đó yếu tố không thể thiếu trong nhà nước pháp quyền là những yếu tố mang tính phổ biến, được đặt trong mối liên hệ thống nhất và hài hòa với các yếu tố có tính đặc thù quốc gia.

Nguồn: https://zingnews.vn/van-de-ly-luan-co-ban-ve-nha-nuoc-phap-quyen-post1382331.html

Advertisement
Continue Reading

Sách hay

Nhà soạn nhạc không biết chơi piano

Published

on

By

Hector Berlioz là một hiện tượng trong lịch sử âm nhạc, một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại. Từ nhỏ, ông đã thông thạo nhiều nhạc cụ nhưng lại không biết chơi đàn piano.

Hector Berlioz anh 1

Nhà soạn nhạc Hector Berlioz. Ảnh: nhaccodien.

Nhà soạn nhạc, nhạc trưởng, nhà phê bình âm nhạc người Pháp Hector Berlioz đã có những đóng góp đáng kể vào việc cải tổ opera và sự phát triển của nhạc cổ điển. Di sản âm nhạc ông để lại là những bản nhạc bất hủ như Symphonie fantastique (Giao hưởng Ảo tưởng) và Romeo và Juliette

Còn trong di sản văn chương, Hồi ký của Hector Berlioz (xuất bản năm 1870) được biết đến là cuốn sách được đón đọc và chuyển ngữ nhiều nhất. Cuốn sách là bản miêu tả vị trí quan trọng của nhà soạn nhạc này vào thuở bình minh trào lưu lãng mạn.

Bản chúc thư cá nhân của nhà soạn nhạc bị lãng quên

Ở Việt Nam, dự án chuyển ngữ và xuất bản cuốn sách này bắt đầu từ năm 2013. Dịch giả Lê Ngọc Anh dịch 51 chương đầu cùng 16 lá thư từ nguyên tác tiếng Pháp. Dịch giả Nguyễn Tuấn Anh dịch phần còn lại từ bản tiếng Anh. Dịch giả Cao Văn Bình là người hiệu đính. Còn nhà sưu tầm âm nhạc Nguyễn Ngọc Chi (tác giả cuốn Beethoven: Con người và nghệ sĩ) là người biên tập bản tiếng Việt.

Advertisement

Trong buổi hòa nhạc và giao lưu nhân dịp ra mắt cuốn hồi ký (tối 4/12 tại Trung tâm nghệ thuật đương đại VCCA, Hà Nội), nhà sưu tầm Nguyễn Ngọc Chi đánh giá cuốn hồi ký giống một bản chúc thư cá nhân vì ở đó, Hector Berlioz đã tự minh oan cho mình và để lại cho đời những tài sản có giá trị.

Đồng hành cùng cả nhóm thực hiện ấn phẩm hơn 600 trang với 59 chương này, ông Chi như được hòa mình vào cuộc đời Hector Berlioz và nhận thấy không có nhà soạn nhạc nào lại gây nhiều tranh cãi như Berlioz.

“Bị bỏ quên trong nửa đầu thế kỷ 20, âm nhạc của Berlioz đã được hồi sinh từ những năm 1960-1970. Ông đã tạo ra cuộc cách mạng âm thanh của dàn nhạc qua cách phối khí, khởi xướng ý tưởng theo phong cách lãng mạn: Kể chuyện bằng âm nhạc”, dịch giả Nguyễn Ngọc Chi nói.

Hector Berlioz anh 2

Sách Hồi ký của Hector Berlioz. Ảnh: Thu Huệ.

Người kể chuyện bằng âm nhạc

Nhận xét về cuốn hồi ký này, nhà sưu tầm âm nhạc Nguyễn Ngọc Chi cho rằng Hector Berlioz là người kể chuyện có năng khiếu, trang viết của ông có sự đan xen nhiều thể loại văn học khác nhau, các lá thư và tường thuật tiểu sử được tác giả xếp cạnh các bài tiểu luận phê bình, các bài báo. Văn phong ông tự do, linh hoạt, bút pháp trôi chảy, dí dỏm nhưng lại châm biếm nhẹ nhàng, sâu cay.

Bên cạnh đó, Berlioz còn là một người “cô đơn vĩ đại, cô đơn ngạo nghễ trên đỉnh cao của sự nghiệp và cô đơn giằng xé dưới vực thẳm của tình yêu”. Ông luôn bị cô lập trong bối cảnh âm nhạc Pháp và vẻ đẹp kỳ dị trong tác phẩm của ông đã khơi dậy sự hoài nghi đến ghen ghét và đố kị tại quê hương mình.

Advertisement

Do đó, trong phần Lời nói đầu, Hector Berlioz giãi bày: “Người ta đã xuất bản và thỉnh thoảng vẫn tái bản tiểu sử của tôi với nhiều điều sai lạc và không chính xác đến mức rốt cuộc tôi nảy sinh ý tưởng tự mình viết ra những chuyện trong cuộc đời gian lao và sóng gió của mình”.

Ở đó, các chương và sự kiện đều được ông lồng ghép khéo léo theo trình tự thời gian. Đặc biệt, sự kết hợp giữa phần hồi ký và những lá thư đã tạo nên một bức tranh đa màu sắc minh họa cho cuộc đời của Berlioz.

Qua đó, bạn đọc như được sống trong thời đại của Berlioz và tham dự các hoạt động âm nhạc sôi nổi, cùng có những phút giây lắng đọng để chia sẻ những suy nghĩ, cảm xúc, niềm vui và nỗi buồn của nhà soạn nhạc nổi tiếng này.

Là cây bút và cũng là độc giả trung thành của dòng sách âm nhạc, nhà văn Hiền Trang khi đọc cuốn hồi ký này đã đi đến kết luận rằng nếu Hector Berlioz không sáng tác âm nhạc thì hẳn ông sẽ là một văn sĩ bậc thầy.

“Ta đôi khi ngỡ mình đang đọc một tiểu thuyết hơn là một tự truyện. Berlioz như sở hữu một thứ giả kim thuật, biến mọi ngôn ngữ qua tay ông đều hóa thành vàng ròng, hoặc giả ông là một kiến trúc sư tái dựng lại đời mình trong tòa nhà ngôn từ lộng lẫy như một cung điện Roccoco hoa mỹ, phù phiếm và ngông cuồng”, nhà văn Hiền Trang viết.

Advertisement

Nói Hồi ký của Hector Berlioz là một tổng tập phê bình âm nhạc cũng không sai bởi trong sách, ta bắt gặp những nhân vật tầm cỡ mà tác giả đã tự mình vẽ nên chân dung họ như Liszt, Wagner, Balzac, Weber, Rossini…

Ở phần cuối, ông dẫn bạn đọc tìm về cuộc gặp gỡ với những người chốn cũ. Nơi ấy có cả Estelle, người yêu thời thơ ấu của ông, người mà ông đã tìm thấy sau 49 năm vắng bóng. Những xúc cảm của mối tình đơn phương thôi thúc ông đặt bút viết những trang thư cuối đời mình. Bởi thế, có thể coi cuốn sách không chỉ là bản chúc thư sự nghiệp mà còn là bản chúc thư về tình yêu của Berlioz.

Theo ông Cao văn Bình, người hiệu đính cuốn sách, đây là một tác phẩm không thể thiếu với những ai quan tâm và yêu mến Berlioz hay đang nghiên cứu về âm nhạc của ông. Cuốn sách giúp độc giả có cái nhìn sâu sắc và tổng quát hơn về một Hector Berlioz tài năng nhưng lại cô đơn và nổi tiếng với biệt danh “nhà soạn nhạc không biết chơi piano”.

Nguồn: https://zingnews.vn/nha-soan-nhac-khong-biet-choi-piano-post1382032.html

Advertisement
Continue Reading

Xu hướng