Connect with us

Tác giả

Giải mã Haruki Murakami qua âm nhạc và ngôn từ

Với sự am hiểu, thân cận với tác giả, trong “Haruki Murakami và âm nhạc của ngôn từ”, Jay Rubin đã lý giải con đường Murakami chọn, từ đó đưa ông đến hành trình chinh phục độc giả.

Haruki Murakami là người được đồn đoán hàng năm cho giải Nobel, là người đã chiến thắng hầu hết giải “tiền Nobel” và cũng là người mà cứ mỗi một tác phẩm ra đời, thì làng văn thế giới lại được dịp chao đảo.

Điều gì đã khiến tác phẩm của ông có sức hút và những điều ấy khởi nguồn từ đâu? Haruki Murakami và âm nhạc của ngôn từ sẽ dẫn dắt người đọc đi từ nội hàm: Là cuộc đời và các tác phẩm của nhà văn; cho đến ngoại hàm, là những vấn đề xã hội được ông khai thác dưới lớp vỏ văn chương.

Murakami anh 1

Jay Rubin và Haruki Murakami. Ảnh: finding-haruki.

Murakami không ngừng chuyển mạch

Khởi nguồn từ những truyện ngắn đầu tay như Nàng Ipanema 1963/1982 cho đến tiểu thuyết đầu tay Lắng nghe gió hát; các yếu tố truyền thống Nhật Bản dường như chưa hề tồn tại trong tác phẩm của Murakami.

Nếu Kawabata có các nàng vũ nữ, có cái rung động tinh tế rất Nhật, Mishima thì có nỗi trầm uất của Samurai; thì ngược lại, Murakami không có gì cả. Ngay từ lúc bước chân vào làng văn, ông đã thể hiện một sự “chống Nhật triệt để”, như là hậu quả của nhiều yếu tố.

Sinh ra trong một gia đình trung lưu ngoan đạo, từ nhỏ Murakami đã được hướng theo một nền giáo dục gia giáo. Trong khi mẹ ông muốn ông thấm nhuần tính Nhật, thì ngược lại, ông chỉ thích Dostoyevski, Stendah và nhà văn Nhật duy nhất ông đọc lạ thay lại là Tanizaki Junichiro. Phản kháng lại sự áp đặt của cha mẹ, khi vào đại học ông kết hôn sớm cùng bà Yoko và mở quán bar nhạc Jazz để sống qua ngày.

Nhút nhát, cô độc và không tham gia và các phong trào sinh viên thời bấy giờ, Murakami đã vật lộn với nghiệp viết văn trong lúc phục vụ quầy bar và chỉ viết khoảng 2-3 giờ sáng sau khi thái hành và quán bar đóng cửa.

Ở thời điểm đó, câu văn của ông thường ngắn và chịu ảnh hưởng bởi Kurt Vonnegut. Ông viết từng chút do không biết mình đang viết gì, và có những lúc phải viết bằng tiếng Anh để rồi dịch ngược trở lại sang tiếng Nhật.

Tuy thế mà những thành công liên tục đến với ông. Sau Lắng nghe gió hát được gửi và chiến thắng giải thưởng của tạp chí Gunzo, Murakami đã bước đầu đi trên hành trình hình thành thế giới của riêng mình.

Pinball 1973 là cuốn đầu tiên như thế, với các nhân vật Boku, Chuột và hệ thống những nhân vật phụ không ngừng biến đổi, thay hình đổi dạng trong các tác phẩm về sau. Cõi tưởng tượng của Murakami lên cao nhất ở Cuộc săn cừu hoang, cho đến khi chuyển sang xu hướng tự sự ở Rừng Na Uy và tiệm cận về gần chất Nhật hơn ở Ngầm.

Murakami đã cho rằng cuộc sống là buổi diễu hành của những điều vụn vặt, cho nên với ông, ký ức là tiểu thuyết mà tiểu thuyết cũng là ký ức. Trong các tác phẩm của mình, ông dùng danh xưng “Boku” – “tớ”, từ góc nhìn của người quan sát, cho lời khuyên và không hẳn là chủ thể hành động, mà chỉ tiếp nhận thông tin và đưa nó vào thế giới của mình.

Sau những câu văn gọn, nhanh ở quãng đầu sáng tác, Jay Rubin cho thấy bắt đầu từ Cuộc săn cừu hoang, câu văn của Murakami đã bắt đầu dài ra, với các yếu tố tự sự hơn. Giờ đây ông không chỉ nắm bắt, mà là lôi chúng từ trong bản thân mình ra một cách tự phát. Tuy cũng trùng hợp là không ý thức, văn chương giờ đây đã có mục đích hơn.

Tưởng tượng lên đến cao nhất của Murakami trong thời kỳ đầu không thể không nhắc đến Xứ sở kỳ diệu bạo tàn Nơi chốn tận cùng của thế giới. Ở tiểu thuyết đó, ông đã tạo dựng ra hai thế giới tồn tại song song, một tưởng tượng và một thực tại.

Cũng như nhạc Jazz mà ông yêu thích, quá trình viết văn hoàn toàn diễn ra trong việc ứng tác, nơi ông không biết mình có thể sẽ đi đến đâu, mà chỉ viết bằng niềm tin phá vỡ cấu trúc gò ép cũng như định kiến ngăn cản dòng chảy ngẫu hứng. Bước chuyển đổi này khiến Xứ sở kỳ diệu bạo tàn Nơi chốn tận cùng của thế giới là một tác phẩm quan trọng, tạo bước đệm cho thành công tiếp theo.

Xen giữa những tiểu thuyết dài viết đến “kiệt sức” – như Jay Rubin cũng chỉ ra đây, Murakami còn là một người chuyên viết truyện ngắn cũng như dịch thuật văn chương từ khối Anh ngữ sang tiếng Nhật.

Đối với ông, sáng tạo truyện ngắn chính là luận điểm để từ đó phát triển thành các truyện dài; trong khi dịch thuật là việc trị liệu, là quá trình “tái hòa nhập” trở lại sau sự kiệt quệ cũng như cú shock vì sự yêu thích quá lớn dành cho các tác phẩm của mình.

Những nhà văn được ông yêu thích và thường xuyên dịch có thể kể đến F.S.Fitzgerald, Raymond Carver, Tim O’Brien… và cả sau này ông đã phát triển một mối thâm tình với Carver, người ở cách ông hơn nửa địa cầu.

Như vậy có thể thấy rằng quá trình sáng tác của Murakami là những ngẫu nhiên, ứng tác, và cố hòa nhập cùng nhau trong những hình tượng đã được đặt để như một ma trận.

Tới Rừng Na Uy, và cũng chính là giai đoạn danh tiếng bùng nổ, Murakami đã chọn hướng tiếp cận khác, khi bỏ qua các thế giới tưởng tượng để đến gần hơn với dòng tự sự của những người trẻ, phá vỡ quy tắc trước đó từng đặt ra ở Lắng nghe gió hát là không viết về tình dục cũng như cái chết.

Lạ thay một nỗi, tác phẩm ít yếu tố Murakami nhất lại là cuốn sách thành công vang dội, mà như đã biết, cứ 7 người Nhật lại có một người đọc Rừng Na Uy.

Tuy thế Murakami không hề quen thuộc với sự nổi tiếng vì đại trà này. Jay Rubin cũng tiết lộ rằng ông từng thấy shock và phải cùng với Yoko chạy biến sang châu Âu để có thời gian bắt tay vào các dự án mới, và đó chính là Nhảy nhảy nhảy.

Như vậy có thể thấy rằng Murakami không ngừng chuyển mạch. Ông đi từ việc kết hợp trinh thám (Cuộc săn cừu hoang), sang ứng tác Jazz (Xứ sở kỳ diệu bạo tàn và Nơi chốn tận cùng thế giới), tới Pop (Rừng Na Uy), rồi hỗn loạn (Nhảy nhảy nhảy) và sẽ quay về pop lại một lần nữa với Phía Tây biên giới, Phía Nam mặt trời.

Murakami anh 2

Các tác phẩm đã được chuyển ngữ của Murakami.

Sự kết nối trong các tác phẩm của Murakami

Sau quá trình chữa lành ở Nhảy nhảy nhảy và thế giới hư – thực không thể phân tranh, Murakami bắt đầu chuyển dịch gần hơn với các tác phẩm hướng về nước Nhật.

Không dùng hình tượng chủ chốt như thế hệ các nhà văn trước, ông có cách riêng để cho thấy Nhật, dù cho đó là lớp nghĩa ẩn chứa thứ hai, vẫn đang hiện diện trong văn nghiệp ông. Đó là Biên niên ký chim vặn dây cót khi Murakami lặn sâu vào những nỗi đau mà đế quốc Nhật từng gây ra trong cuộc chiến Nội Mông, là Ngầm khi ông phỏng vấn cũng như phơi bày những sự lãng tránh của chính phủ về giáo phái Aum Shinrikyo trong vụ thảm sát bằng chất độc sarin trong tàu điện ngầm.

Như vậy sau những vòng tròn chủ lưu tiếp nối, Murakami từ một người “càng quốc tế bao nhiêu thì càng ít chất Nhật Bản bấy nhiêu” giờ đây lại chứa rất nhiều câu hỏi hiện sinh về cuộc sống, cái chết và ký ức. Ông cũng lặn sâu vào những vấn đề xã hội và buộc nhà văn phải có trách nhiệm.

Những lề thói này hầu như ứng tác trong ông không có chủ đích, cũng như nhạc Jazz, nó đến bằng sự nhận thức hoàn toàn tình cờ. Như chính ông nói: “Sự tự phát chính là điều quan trọng nhất. Phải tự tin có đủ khả năng kể chuyện, phải tìm đúng mạch nước và làm các mảnh ghép khớp nối với nhau. Ta phải tin vào sức mạnh câu chuyện, từ đó khơi dậy được điều gì đó trong tinh thần mình”.

Với Haruki Murakami và âm nhạc của ngôn từ, Jay Rubin đã cung cấp những cái nhìn khác lạ cũng như phân tích những sự kết nối trong các công trình của Murakami.

Nếu là độc giả trung thành, tác phẩm này sẽ tạo được sự thích thú bởi những phân tích, góc nhìn có phần mới lạ; còn nếu là độc giả mới, thì cuốn sách này cũng sẽ góp phần vào việc khẳng định di sản Murakami, và phần nào đó cho thấy những sự chuyển biến trong cuộc đời ông. Dù đã đọc hay chưa, thì đây cũng là cuốn sách lý thú và rất đầy đủ về một nhà văn lớn.

Nguồn: https://zingnews.vn/giai-ma-haruki-murakami-qua-am-nhac-va-ngon-tu-post1329343.html

Tác giả

Từ khóa quan trọng trong thơ Nguyễn Quang Thiều

Đọc kỹ thơ Nguyễn Quang Thiều, chúng ta nhận ra, một trong những từ khóa quan trọng là “dâng lên”.

Tư tưởng nghệ thuật định hình phong cách nghệ thuật, biểu hiện qua hình ảnh, hình tượng, ngôn từ, giọng điệu, nhịp điệu và cả hành vi – động thái của con người, thế giới trong thơ. Chính vì vậy, kinh nghiệm đọc thơ luôn có xu hướng kiếm tìm những yếu tố nổi bật, những thành tố được sử dụng với tần suất cao trong tác phẩm.

Nha tho Nguyen Quang Thieu anh 1

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều. Ảnh: Việt Linh.

Đọc kỹ thơ Nguyễn Quang Thiều, chúng ta nhận ra, một trong những từ khóa quan trọng là “dâng lên”. Có khi là “Những chiều xa quê tôi mong dòng sông dâng lên / Tôi quỳ xuống vốc cát ấp vào mặt” (Sông Đáy) thỏa tấm lòng mong mỏi nhớ quê. Có khi là “Cơn mưa chiều vàng thăm thẳm dâng lên” (Câu hỏi cuối ngày) bởi những băn khoăn đang chất chứa trong tâm hồn.

Có khi “Tất cả dâng lên thẳm xa, mê đắm” (Âm nhạc) mang nhịp điệu của sự sống trên vùng châu thổ. Xa quê, lưu lạc, trong tâm tưởng đứa con của đồng bãi “Vườn hoang dâng lên” (Sám hối), “Sau lưng tôi dâng lên mùi khói rơm tươi, mùi châu chấu nướng” (Trong tiếng súng bắn tỉa), “Dâng lên như mùa xuân thứ nhất/ Những con đường biền biệt tuổi thơ” (11 khúc cảm), “Ngùn ngụt dâng lên bản Thánh ca khói trầm uất, ngạo nghễ và tĩnh lặng” (Thánh ca tĩnh lặng), Những cái rễ lại bước đi và nhựa / lại dâng lên tràn trề đỉnh đầu cây /… / Dâng cao mãi, dâng cao… con thuyền rồng trong hải lưu cuồn cuộn / Những hồ nước mắt dâng đầy… / Và âm nhạc dâng lên xứ sở” (Nhịp điệu châu thổ mới)…

Như thế, “dâng lên” trở thành một động thái trữ tình của con người và thế giới trong thơ Nguyễn Quang Thiều. Vấn đề đặt ra khi đối diện từ khóa này trong thơ Nguyễn Quang Thiều chính là: Tại sao lại xuất hiện động thái ấy?

Về sắc thái, “dâng lên” chứa đựng tâm trạng, cảm xúc và thái độ. “Dâng lên” – đưa lên cao một cách kính cẩn, ngưỡng vọng, gần với một nghi thức thiêng liêng. Chu Văn Sơn đã rất có lý khi nhận định rằng thơ Nguyễn Quang Thiều mang phong cách “sử thi tôn giáo”.

“Dâng lên” đáp ứng tinh thần ngưỡng vọng và thiêng liêng ấy. Thế giới nghệ thuật thể hiện tư tưởng, tinh thần, xúc cảm và tư duy của nhà thơ, thế nên, khi cái tôi ấy luôn đau đáu một nỗi niềm “thương nhớ đồng quê”, nhận ra sự kỳ vĩ của quê hương, của đồng bãi, sông hồ, của nhịp điệu châu thổ, của người dân quê…, nó luôn mang tâm thế của một điều gì bé nhỏ, côi cút, bơ vơ.

“Quỳ xuống”, “khóc”, “ngước mắt”, “ngửa mặt” chính là khi cái tôi ấy hướng về những điều cao cả, lớn lao, thân thiết, thiêng liêng mà xa vời: “Sao ta không chạy xuống sông, sao ta quỳ xuống đôi bờ / Ta ngửa mặt lên trời như con ếch cốm” (Dòng sông), “Xin quỳ lạy / xin lặng câm vứt bỏ / Mắt đê mê từ thuở tóc chưa về” (11 khúc cảm), “Ta như hai đứa trẻ non mềm vừa mới sinh ra / Với hơi thở của người vừa ốm dậy / Ta ôm nhau ngước mắt gọi sao trời” (Những ngôi sao), “Ta khóc trong cỏ dại / Ta khóc trong rơm rạ / Ta khóc thành rong rêu” (Tha phương)… Những “tư thế trữ tình” này phù hợp với động thái “dâng lên”, cùng biểu đạt tư tưởng “sử thi tôn giáo” trong ngôi đền “Châu thổ” của Nguyễn Quang Thiều.

Một lý do khác, sâu xa hơn, chi phối sự hình thành trạng thái và tư thế trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều, chính là sự mất đi của những thực thể làm nên ký ức kỳ vĩ, nhiệm màu.

Hiện ra ám ảnh trong thơ là một không gian kiệt quệ, hoang vu, bị xâm thực bởi đô thị: Ngoài kia, những cánh đồng đắng cay vì bệnh tật kéo dài / Hoàng hôn xấu xí / Ngũ cốc đang gập mình bởi cơn ho hóa chất sặc mùi /…/ những vòm cây chật vật đâm chồi /… / bầy chim cánh chập choạng, rũ rượi /…/ những đám mây trĩu ngực vì bụi /…/ dòng sông gió chảy giữa hai bờ cổ họng khản đặc của đêm /…/ linh hồn những hồ nước bị giết đang bay lượn tìm nơi hạ cánh” (Lời cầu nguyện).

Châu thổ còn đâu, ký ức chỉ là sự mơ về trong đớn đau, tiếc nhớ. Xa xôi quá, thăm thẳm quá, mà thiêng liêng kỳ vĩ quá. Thế nên, tôi quỳ xuống nguyện cầu, tôi ngước lên chờ đợi chiêm ngắm và tôi khóc. Đó là tiếng khóc của một đứa con lưu lạc, một cái tôi khắc khoải hoài niệm để trở về.

“Dâng lên” là một từ khóa quan trọng (cũng có thể là quan trọng nhất) trong thơ Nguyễn Quang Thiều. Có khi, động thái ấy được phát biểu ra bằng lời như đã dẫn, cũng có khi âm thầm giấu mình trong hình ảnh, hình tượng, trạng thái khác. Ở bình diện lớn hơn, thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn trội lên không khí phồn sinh màu mỡ với nhịp sống dồi dào, bền bỉ trong ánh sáng phục sinh, khải huyền.

Phía cỗi cằn hoang vu là quãng trầm để cảm hứng say mê, ngưỡng vọng có dịp rung lên một cách xúc động hơn. Tuy vậy, dù ở ngả nào, trong kiệt quệ lưu đày hay trong say mê ngưỡng vọng, cái tôi ấy vẫn ở vị trí bé nhỏ, thấp hơn sự vĩ đại của sự sống châu thổ. Chính vì thế, “dâng lên” cứ mãi dâng lên như nguồn mạch bất diệt của đất đai và con người trong thơ Nguyễn Quang Thiều.

Nguồn: https://zingnews.vn/tu-khoa-quan-trong-trong-tho-nguyen-quang-thieu-post1345589.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

J.K. Rowling bị đe doạ sau khi bày tỏ đồng cảm với Salman Rushdie

Các nhân viên cảnh sát Anh đang tiến hành điều tra nguy cơ đe doạ đối với tác giả J.K. Rowling sau khi bà lên tiếng về vụ tấn công nhà văn Rushdie gần đây.

Theo tờ The Guardian, cảnh sát đang điều tra một lời đe dọa nhằm vào J.K. Rowling sau khi bà chia sẻ phản ứng của mình trên mạng xã hội về vụ tấn công Salman Rushdie.

JK Rowling anh 1

Nữ tác giả J.K. Rowling đã bị một người đe doạ trên Twitter. Ảnh: EPA.

Bà Rowling đã tweet hôm 12/8: “Đây là một tin tức kinh hoàng. Lúc này tôi cảm thấy không hề thoải mái. Hy vọng ông ấy ổn”.

Một người dùng Twitter đã trả lời: “Đừng lo, bà sẽ là người tiếp theo”.

Cũng chính tài khoản Twitter này đã đăng tải những thông điệp ca ngợi tên hung thủ tấn công và đâm ông Rushdie trên sân khấu sự kiện ở bang New York.

Bà Rowling đã chia sẻ ảnh chụp màn hình đoạn tin nhắn trên và cũng bày tỏ lời cảm ơn những người đã gửi thông điệp ủng hộ bà trên Twitter: “Cảnh sát đang tiến hành điều tra”.

Người phát ngôn của Sở Cảnh sát Scotland cho biết: “Chúng tôi đã nhận được báo cáo về lời đe dọa trên mạng và các cảnh sát đang tiến hành điều tra”.

Trước động thái này, các ông chủ của Warner Bros Discovery (WBD), công ty giải trí đứng sau các bộ phim chuyển thể từ loạt truyện Harry Potter của bà Rowling, cho biết họ “cực lực lên án” những lời đe dọa nhằm vào nữ tác giả này.

Tuyên bố của WBD bày tỏ: “Chúng tôi sát cánh cùng bà ấy và tất cả tác giả, những người kể chuyện và sáng tạo, những người dũng cảm thể hiện sự đổi mới và ý kiến ​​của họ. WBD tin tưởng vào quyền tự do ngôn luận, nghị luận hòa bình và ủng hộ những người đưa ra quan điểm của họ tại nơi công cộng. Chúng tôi cũng bày tỏ sự chia sẻ với nhà văn Salman Rushdie và gia đình của ông sau hành động bạo lực vô nghĩa ở New York. Công ty cực lực lên án mọi hình thức đe dọa, bạo lực hoặc uy hiếp nào dù các ý kiến, niềm tin và suy nghĩ có thể khác nhau”.

Bà Rowling là một trong số nhiều nhà văn bày tỏ sự lo lắng đối với tiểu thuyết gia Rushdie, bao gồm Neil Gaiman, Stephen King và William Dalrymple. Những nhân vật nổi tiếng trên văn đàn này cho rằng vụ tấn công là “một ngày khủng khiếp đối với giới văn học, đối với tự do ngôn luận và đối với các tác giả ở khắp nơi”.

Vào ngày 12/8, tiểu thuyết gia nổi tiếng gốc Ấn Salman Rushdie đã bị đâm nhiều nhát vào cổ và thân trên ngay trong một buổi diễn thuyết ở bang New York (Mỹ). Ông Salman Rushdie đã bị đe dọa tính mạng kể từ khi phát hành cuốn tiểu thuyết thứ tư của mình với tiêu đề The Satanic Verses (tạm dịch: Những vần thơ của quỷ Satan). Tác phẩm này bị một số tín đồ Hồi giáo cho là có ý báng bổ và cũng đã bị nhiều nước Hồi giáo cấm kể từ khi xuất bản năm 1988.

Nguồn: https://zingnews.vn/jk-rowling-bi-de-doa-sau-khi-bay-to-dong-cam-voi-salman-rushdie-post1345576.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Nữ tiến sĩ chia sẻ về các nguồn thu từ viết blog, sách, podcast

Từ blog về lối sống tối giản, phát triển bản thân, Chi Nguyễn đã thực hiện thêm kênh podcast và viết sách. Kiến thức mà cô chia sẻ được đông đảo bạn trẻ yêu thích.

Chi Nguyễn, tên đầy đủ là Nguyễn Phương Chi, sinh năm 1988 tại Hà Nội, hiện sinh sống và làm việc tại Mỹ. Ngoài công việc giảng dạy và nghiên cứu tại Mỹ, PGS.TS Nguyễn Phương Chi được đông đảo bạn đọc yêu mến qua blog và ấn phẩm Một cuốn sách về chủ nghĩa tối giản.

Cô mở blog The present writer để có thể viết thoải mái theo ý thích và đề cập đến nhiều vấn đề cuộc sống cô quan tâm, với phương châm “sống để viết và viết để được sống nhiều hơn”.

The present writer thu hút được nhiều người theo dõi. Từ blog này, Chi Nguyễn phát triển kênh YouTube, podcast, phát hành sách.

Chia sẻ về đề tài chủ đạo của The present writer, Chi Nguyễn viết: “Tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ là người hoàn hảo hay hoàn toàn trưởng thành. Tôi chỉ lớn lên qua từng trải nghiệm cuộc sống, va vấp, và giữa ranh giới đúng-sai”.

Cai nhin cua giao duc len chu nghia toi gian anh 1

TS Chi Nguyễn. Ảnh: The present writer.

Mất tới 5 năm để trang blog đem lại thu nhập

Chi Nguyễn tốt nghiệp cử nhân Đại học Hà Nội khoa Kinh tế học, sau đó giành được học bổng sang Mỹ học thạc sĩ ngành Giáo dục Văn hóa và Xã hội, rồi học tiến sĩ ngành kép: Lãnh đạo giáo dục, Giáo dục quốc tế và so sánh.

Trả lời Zing, Chi Nguyễn cho biết nền tảng học tập cho cô kiến thức văn hóa đa dạng. Nhờ nền tảng ấy mà cô có được “cái nhìn của giáo dục”. Trước mỗi vấn đề, cô đều nhìn nhận ở khía cạnh rằng mình có thể rút ra được một bài học nào đấy.

“Cái nhìn của giáo dục” đem lại cho cô nhiều chất liệu để viết. Chi Nguyễn cho biết các blog, sách và nội dung podcast của cô đều dựa trên những bài học của bản thân, các trải nghiệm cuộc sống của chính mình.

Tác giả nào cũng tìm kiếm chất liệu để viết, có những người đi và tìm kiếm chất liệu viết ở một nơi khác, một khung cảnh khác. Chi Nguyễn chọn chất liệu từ chính cuộc sống của cô.

Có lẽ chính từ tính chất đơn sơ nhưng không đơn giản, gần gũi mà sâu sắc của các bài viết mà The present writer thu hút được gần 500.000 người theo dõi.

Chi Nguyễn mở blog như một thú vui. Cô hướng blog The present writer tới cộng đồng và viết hoàn toàn miễn phí, thậm chí cô còn bỏ tiền túi ra để xây dựng website cho việc viết.

The present writer phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên sau 5 năm mới đem lại thu nhập cho tác giả. Chi Nguyễn chia sẻ rằng vào khoảng thời gian khó khăn khi cô vừa bận rộn với công việc vừa bận rộn với con nhỏ, cô nhận ra mình cần một nguồn thu để duy trì blog lâu dài. Chi Nguyễn quyết định mở một kênh ủng hộ trên blog.

Nhờ kênh ủng hộ này, cô đã có thể chi trả những chi phí cơ bản để vận hành website, đồng thời có điều kiện để mở thêm kênh YouTube, podcast, làm việc được với một số đối tác khác.

Chi Nguyễn cho biết đến nay, thương hiệu The present writer của cô đã đem lại thu nhập ổn định từ việc bán sách, quảng cáo trên YouTube, quảng cáo trên podcast và các nguồn tiếp thị liên kết.

Chi Nguyễn rất cởi mở về công việc làm blog của mình. Cô thậm chí còn mở một khóa học miễn phí dạy làm blog chia sẻ những kinh nghiệm đúc kết được cho mọi người.

Cuốn sách về chủ nghĩa tối giản thu hút hàng nghìn độc giả

Chi Nguyễn biết đến chủ nghĩa tối giản trong giai đoạn cô gặp nhiều áp lực. Những áp lực từ nhiều phía khiến cô phát triển “thú vui” mua sắm. Đến khi nhận ra “thú vui” của mình trở nên quá đà, Chi đã quyết định “đối diện những cảm xúc tiêu cực và thanh lọc các thói quen không tích cực”. Tác giả The present writer đã tái xây dựng lại con người mình theo chủ nghĩa tối giản từ khi ấy.

Cai nhin cua giao duc len chu nghia toi gian anh 2

Chi Nguyễn và cuốn sách của cô. Ảnh: The present writer.

Chi bắt đầu viết về chủ nghĩa tối giản trên blog. Sau hơn một năm viết blog, cô cảm thấy đã đến lúc cần hệ thống và củng cố lại những điều mình học được từ chủ nghĩa tối giản. Cô liền tập hợp lại, chỉnh sửa cho bố cục mạch lạc hơn. Và thế là Một cuốn sách về chủ nghĩa tối giản ra đời.

“Mình luôn viết trước để thử xem độc giả nhận xét như thế nào về ý tưởng này, rồi sau đó mới lên dàn ý viết sách và sử dụng thông tin, nội dung có sẵn của mình để xây dựng cuốn sách. Mình đưa khán giả vào để cùng xây dựng cuốn sách này của mình”, Chi Nguyễn chia sẻ về hậu trường viết sách.

Đây là một cuốn sách bước ra từ blog nhưng không hoàn toàn giống với blog. Cuốn sách được viết với tư duy tuyến tính, logic, rõ ràng và sâu sắc hơn.

Cuốn sách của Chi xóa bỏ yếu tố vật chất thường thấy trong các sách về chủ nghĩa tối giản của mình. Cô nói: “Trong Một cuốn sách về chủ nghĩa tối giản, phần Dọn chỉ chiếm 20%, còn phần Tâm trí chiếm tới 80%”.

Chi Nguyễn tin rằng khi người ta biết giảm đi về số lượng và tập trung vào chất lượng thì ta sẽ cảm thấy được giá trị cốt lõi của hạnh phúc và thực sự nâng cao được chất lượng cuộc sống.

Một cuốn sách về chủ nghĩa tối giản không đưa ra “công thức chuẩn” để đánh giá mức độ tối giản hay mức độ hạnh phúc. Cuốn sách giới thiệu những khái niệm mở đưa ra một cái nhìn khác nhưng không kém phần toàn diện, giúp độc giả quyết định đâu là phương pháp phù hợp với mình và làm sao để tìm được con đường riêng hướng tới hạnh phúc.

Triết lý từ cuốn sách đã tìm được sự đồng điệu từ số đông độc giả Việt Nam. Cuốn sách gây được tiếng vang lớn và nhanh chóng bán hết hàng. Ở lần tái bản, sách in 10.000 cuốn và nhanh chóng bán hết trong 3 tháng.

Ngày 4/8, Chi Nguyễn lại thông báo tái bản Một cuốn sách về chủ nghĩa tối giản lần thứ 3, cũng in 10.000 bản. Bài đăng của Chi Nguyễn thu được hơn 5.000 lượt tương tác. Điều này chứng tỏ khả năng truyền cảm hứng của blogger này với độc giả là rất lớn.

Chia sẻ trên blog, Chi Nguyễn viết: “Nếu bạn gấp cuốn sách lại và cảm thấy mình biết thêm được ít nhất một điều nào đó mới mẻ, đáng suy ngẫm, tôi cho đó đã là thành công của cuốn sách”.

Nguồn: https://zingnews.vn/nu-tien-si-chia-se-ve-cac-nguon-thu-tu-viet-blog-sach-podcast-post1344905.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Người làm lịch sử sống lại

Từng hai lần đoạt giải Pulitzer, David McCullough là tác giả có sách bán chạy và đã làm sống dậy lịch sử Mỹ. Ông đã qua đời ở nhà riêng vào hôm 7/8.

Ngược về thời gian khi David McCullough mới chỉ là một nghiên cứu sinh trẻ tuổi tại Cơ quan Thông tin Mỹ, ông bước vào Thư viện Quốc hội Mỹ năm 1961, tại đó, ông đã bắt gặp một triển lãm nhiếp ảnh mô tả trận lụt “đẫm máu nhất trong lịch sử Mỹ” vào năm 1889 ở Johnstown, bang Pennsylvania, đó chính là cảm hứng cho cuốn sách đầu tiên của ông.

Ông nói bản thân đã bị “choáng ngợp bởi bạo lực và sự tàn phá. Hơn 2.200 người đã chết, và một thị trấn mạnh về phát triển than – thép đã bị nhấn chìm trong vũng bùn lầy vì các nhà công nghiệp giàu có đã bỏ bê con đập ngăn nước”.

Ở thời điểm đó ông phát hiện ra thời gian có thể làm “nhẹ” thảm kịch xuống thành kí ức khi nó trôi qua, với rất ít (nếu có) bất kì nghiên cứu học thuật nghiêm túc nào dành cho những sự kiện này. Không nản lòng với sự non tay và thiếu kinh nghiệm của chính mình, ông đã bắt tay viết nên cuốn sách về trận lụt năm đó.

David McCullough anh 1

David McCullough – người viết biên niên sử của nước Mỹ.

Trong suốt nhiều năm, ông đã dành nhiều thời gian rảnh rỗi để nghiên cứu, phỏng vấn những người ít ỏi còn sống sót để ghi lại những kí ức về nỗi kinh hoàng, về những hành động tự cứu lấy mình một cách tuyệt vọng và nghĩa vụ khủng khiếp sau đó là xác định danh tính những người thân đã chết của họ.

The Johnstown Flood (tạm dịch: Trận lụt Johnstown) xuất bản vào năm 1968 trở thành cuốn sách bán chạy, từ đó khơi dậy mối quan tâm của quốc gia đối với thảm họa và ngay lập tức giúp ông trở thành một nhà sử học với năng khiếu khiến cho lịch sử sống dậy.

Trong sự nghiệp kéo dài hơn 5 thập kỷ của mình, McCullough đã đưa ra những chủ đề cực kì rộng lớn như hành trình xây dựng kênh đào Panama và cầu Brooklyn. Ông chú ý đến những con người vô danh nhưng phi thường. Ngoài ra, ông còn viết tiểu sử về hai vị tổng thống không được đánh giá cao là John Adams và Harry S. Truman, từ đó làm sáng tỏ những thành tựu của họ. Chính hai tác phẩm này cũng mang về cho ông hai giải thưởng Pulitzer danh giá ở mảng phi hư cấu và tiểu sử.

Theo các nhà phê bình, khi hướng sự chú ý đến các sự kiện quan trọng cũng như những vĩ nhân trong lịch sử Mỹ, chẳng hạn Cách mạng Hoa Mỹ (1776) hay Tổng thống Theodore Roosevelt (Buổi sáng trên lưng ngựa), McCullough đã làm sống động cả thời gian và địa điểm, cũng như những chi tiết lịch sử đầy màu sắc, đặc trưng cho kĩ năng kể chuyện được đánh giá bậc thầy của mình.

Những vinh dự mà ông nhận được là hai Giải thưởng Sách Quốc gia cũng như Huân chương Tự do của Tổng thống George W. Bush trao tặng năm 2006.

“Lịch sử thật sự quan trọng, và đó là những gì tôi đã cố gắng truyền đạt. Điều cần thiết là phải hiểu câu chuyện của đất nước chúng ta, cả điều tốt cũng như điều xấu, cả thành tựu cao cũng như những thất bại đáng tiếc. Rất nhiều câu chuyện của chúng ta vẫn chưa được kể”.

Phong cách viết của McCullough rất dễ tiếp cận, thường dựa trên những năm ông khai thác các kho lưu trữ bụi bặm để sưu tập những bức thư, tài liệu hoặc bản ghi có thể mang lại một câu chuyện sống động.

Trong quá trình nghiên cứu cho cuốn Truman (1992), McCullough đã sống một khoảng thời gian thực sự ở quê nhà của vị tổng thống thứ 33 là Independence ở Missouri. Ở đó ông học được giọng địa phương và cũng thực hiện những chuyến đi bộ nhanh vào lúc sáng sớm. Nhiều năm trước đó, khi viết The Great Bridge (tạm dịch: Cây cầu hùng vĩ, 1972), ông cũng nỗ lực để hòa mình vào cuộc sống của một trong những người xây dựng cầu Brooklyn.

David Gaub McCullough là con thứ ba trong số bốn người con trai, sinh ra tại Pittsburgh vào ngày 7 tháng 7 năm 1933. Cha ông là một doanh nhân, còn mẹ là người nội trợ. Ông tốt nghiệp năm 1951 tại Học viện Shady Side, sau đó vào Đại học Yale, nơi ông theo học ngành Văn học Anh.

Sau khi nhận bằng vào năm 1955, ông McCullough viết báo cho tờ Sports Illustrated, Architectural Forum và tạp chí Time trước khi tham gia vào Cơ quan Thông tin Mỹ vào năm 1961. Sau đó, khi đang làm việc tại American Heritage Publishing ở New York, ông cho ra mắt The Johnstown Flood, và chính thành công đầu tiên này đã giúp ông có đủ điều kiện để tập trung toàn thời gian vào những cuốn sách của mình.

Ý tưởng tiếp theo đến vào một bữa trưa ở Lower East Side tại Manhattan, khi những người bạn ăn tối của ông bao gồm cả những kĩ sư, bắt đầu thảo luận về cây cầu Brooklyn gần đó như một kì tích xây dựng của thế kỉ 19.

Trong The Great Bridge, McCullough đã khám phá những thách thức về công nghệ, âm mưu chính trị cũng như rất nhiều sự việc vẫn còn ẩn giấu – bao gồm cả những tai nạn cũng như dịch bệnh đã giết chết đi rất nhiều nhân công xây dựng – đằng sau cây cầu treo tráng lệ nhất thế giới này.

Vài năm sau, ông gặp Burns, người rồi sau đây sẽ biến The Great Bridge thành phim tài liệu đầu tiên của mình. Brooklyn Bridge được cho ra mắt vào năm 1981 với McCullough là người dẫn chuyện. Thành công ở bước đầu đó giúp ông tham gia vào nhiều loạt phim tiếp theo, một trong số đó cũng giành được giải Emmy.

Tác phẩm tiếp theo đoạt giải Sách quốc gia The Path Between the Seas (tạm dịch: Con đường giữa biển, 1977), viết về kênh đào Panama, từ đó đã truyền cảm hứng cho sự quan tâm sâu sắc của ông đến Theodore Roosevelt, một nhân vật quan trọng trong lịch sử hình thành kênh đào. Nghiên cứu của McCullough về thời thơ ấu, thời niên thiếu và quá trình trưởng thành của Roosevelt đã trở thành tác phẩm Mornings on Horseback (tạm dịch: Buổi sáng trên lưng ngựa, 1981) liên tiếp giành Giải Sách Quốc gia cũng như lọt vào chung khảo Giải Pulitzer.

David McCullough anh 2

Các tác phẩm của David McCullough đã được chuyển ngữ tại Việt Nam.

Đôi khi sự tình cờ cũng đóng vai trò có phần quan trọng trong công việc của ông với tư cách là nhà sử học. […] Trong một cuộc thảo luận với biên tập viên tại Simon & Schuster, McCullough nảy ra ý định rồi đây sẽ khiến ông tập trung hết mình để viết nên cuốn tiểu sử dài nghìn trang nói về Truman.

Nói về lý do chọn tổng thống này, ông nói: “Có thể là bởi ông ấy là vị tổng thống đầu tiên mà tôi nhìn thấy bằng xương bằng thịt. Năm 1956 khi mới đến New York và bắt đầu công việc đầu tiên của mình tại tạp chí Sports Illustrated, tôi đã thấy một đám đông nhỏ tụ tập chờ đợi thống đốc, người đang tham dự một bữa tiệc tối. Sau đó từ cửa của chiếc limousine, Harry Truman bước ra và suy nghĩ đầu tiên của tôi là, ‘Chúa ơi, ông ta thật hào nhoáng!’”.

Những cuốn sách tiếp theo của ông bao gồm 1776 (2005) là một cái nhìn thực tế về cuộc Nội chiến Mỹ với những cá nhân gan dạ cũng như dũng cảm đã chiến đấu ở cả hai phe. Ngoài ra còn là The Greater Journey: Americans in Paris (tạm dịch: Hành trình vĩ đại: Người Mỹ ở Paris) xuất bản vào năm 2011, nói về ảnh hưởng của văn hóa và tư tưởng Pháp đối với các nhà văn, nghệ sĩ, nhạc sĩ, bác sĩ và trí thức Mỹ thế kỉ 19. Tác phẩm sau cùng Anh em nhà Wright được viết vào năm 2015, kể về cuộc đời và những đổi mới của hai nhà tiên phong hàng không người Mỹ.

Nguồn: https://zingnews.vn/nguoi-lam-lich-su-song-lai-post1344745.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Họa sĩ minh họa ‘Nhóc Nicolas’ qua đời ở tuổi 89

Jean-Jacques Sempé là người đã vẽ minh họa cho loạt sách được trẻ em yêu thích như “Nhóc Nicolas” và “Catherine cô bé đeo mắt kính” đã qua đời ở tuổi 89.

Marc Lecarpentier, một nhà viết tiểu sử đồng thời là bạn của Sempé chia sẻ với hãng thông tấn Agence France-Presse: “Họa sĩ minh họa truyện tranh Jean-Jacques Sempé đã yên nghỉ trong vòng tay của vợ ông và những người bạn thân tại nhà riêng vào tối thứ năm ngày 11 tháng 8 năm 2022″.

Hôm 12/8, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron viết trên mạng xã hội Twitter cho rằng tác phẩm của Jean-Jacques Sempé có vẻ đẹp thanh lịch, nhẹ nhàng và vị họa sĩ là người có tầm nhìn.

Jean-Jacques Sempe anh 1

Họa sĩ người Pháp Jean-Jacques Sempé đã qua đời ở tuổi 89. Ảnh: The New York Time.

Jean-Jacques Sempé sinh ra ở làng Pessac gần Bordeaux vào năm 1932. Ông có mối quan hệ không tốt với cha mình và đó là điều vẫn luôn ám ảnh ông.

Sau đó, Sempé trải qua một tuổi thơ nhiều đau khổ khi bị ngược đãi, phải sống trong nhà tình thương, bị mẹ đẻ bạo hành và ông buộc phải nghỉ học vào năm 14 tuổi. Sau đó, cậu thiếu niên Jean-Jacques phải nói dối để nhập ngũ. Ông chia sẻ trong một bài phát biểu năm 2018: “Những câu chuyện của Nicolas chính là một cách để nhìn nhận lại sự khốn khổ mà tôi đã phải chịu đựng từ nhỏ đến lớn trong khi vẫn phải tỏ ra là mình ổn”.

Tuy nhiên, cuộc sống quân ngũ không phù hợp với ông nên Sempé chuyển hướng sang hội họa. Ông bắt đầu sự nghiệp vẽ tranh từ việc bán các bức vẽ cho các tờ báo ở Paris. Khi làm việc tại một tờ báo, ông đã kết bạn với người làm nên huyền thoại phim hoạt hình nổi tiếng Asterix, chính là René Goscinny. Sau đó hai người đã cùng nhau sáng tạo nên Nhóc Nicolas, cuốn sách ngay lập tức bán được hơn 15 triệu bản trên 45 quốc gia và được chuyển thể thành phim hoạt hình nổi tiếng.

Jean-Jacques Sempe anh 2

Bộ truyện về Nhóc Nicolas được nhiều độc giả nhí Việt Nam yêu thích. Ảnh: Nhã Nam.

Vào năm 1959, sức hút của Nhóc Nicolas không còn như xưa, khiến cho Sempé buộc phải tiếp tục bán các bản vẽ cho nhiều tờ báo để kiếm sống qua ngày, một điều mà sau này ông miêu tả bằng từ “kinh khủng”.

Chỉ đến khi làm việc lâu dài với tờ The New Yorker vào năm 1978, ông mới đạt được thành công bền vững. “Tôi đã gần 50 tuổi và lần đầu tiên trong đời tôi thấy giá trị của mình. Cuối cùng tôi đã tìm thấy gia đình của mình”, ông từng chia sẻ.

Trong nhiều năm ròng, Sempé không chịu thừa nhận tài năng của mình mà cho rằng những gì ông đạt được đơn thuần đến từ sự chăm chỉ chịu khó. Thực tế, trong quá trình sáng tác, ông có thể không ăn không ngủ với tác phẩm hàng tuần trời chỉ để hoàn thiện kịp thời hạn.

Sempé thường vẽ các nhân vật tí hon trong một thế giới rộng lớn với đường nét mềm mại, hé lộ những điều thú vị, hài hước của cuộc sống đôi khi mà không cần phải chế giễu nhân vật trong những sáng tác của mình. Tuy vậy, nét vẽ nhẹ nhàng mà ông thể hiện khi sáng tác dường như trái ngược với những gian khó mà ông phải trải qua.

“Bạn không bao giờ vượt qua được những ám ảnh tuổi thơ,” ông ngậm ngùi nói khi bước sang tuổi 80, sau nhiều lần lảng tránh chủ đề này. “Bạn cố gắng sắp xếp mọi thứ để làm cho kí ức đẹp hơn, nhưng sẽ chẳng bao giờ quên được nó.”

Nguồn: https://zingnews.vn/hoa-si-minh-hoa-nhoc-nicolas-qua-doi-o-tuoi-89-post1344989.html

Tiếp tục đọc

Xu hướng