Connect with us

Sách hay

Cánh cửa dẫn lối vào văn hóa Nhật Bản

Được phát hành

,

“Vạn diệp tập” với hơn 4.000 bài thơ được xem là quốc bảo, chứa đựng văn hóa, tinh thần con người Nhật Bản.

“Để hiểu sâu sắc văn hóa một nước, ta thường phải đọc những tác phẩm kinh điển của họ. Ví dụ, thông qua kịch Shakespeare là tiếp cận được người Anh, đọc Faust của Goethe có thể hiểu người Đức. Nếu đã yêu chuộng trà đạo, cắm hoa, haiku… thì cũng nên có kiến thức về văn học cổ điển như Man.yôshuu để đào sâu về văn hóa Nhật Bản vốn đa dạng và không phải hình thành chỉ trong một sớm một chiều”, dịch giả Nguyễn Nam Trân viết.

Từ giá trị lớn lao của thi tập, dịch giả là tiến sĩ khoa học truyền thông sống và làm việc tại Nhật, đã tuyển dịch và chú tập thơ.

Van diep tap anh 1

Tác phẩm tiếng Việt do Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Tao Đàn phát hành đầu năm 2022. Ảnh: Y.N.

Sách hay truyền cho muôn đời sau

Man.yôshuu, thi tập ra đời cách nay hơn 12,5 thế kỷ, được coi là một trong hai “đại thụ trấn sơn môn văn học Nhật”. Bài thơ cổ nhất trong cuốn sách này tương truyền của hoàng hậu Iwanohime (vợ của thiên hoàng Nintoku, vua đời thứ 16, nửa đầu thế kỷ thứ 5). Bài thơ cuối trong thi tập là tác phẩm của Otomo no Yakamochi (làm trong năm 759).

Advertisement

Khoảng 4.496 bài thơ được sáng tác trong 400 năm được chia làm 20 quyển. Trên đầu mỗi quyển đều ghi mục lục, phần thơ kèm lời chú thích về chủ đề và hoàn cảnh sáng tác. Về hình thức, thơ trong tác phẩm này thuộc 3 loại: Đoản ca (5/7/7/7/7), triều đầu ca (5/7/7/5/7/7) và trường ca (5/7/5/7… 5/7/7).

Có nhiều giả thuyết về tên tập thơ. Đó có thể là chục nghìn lời nói, vì trong tiếng Nhật, lời nói viết bằng hai chữ “ngôn diệp”. Nó cũng có thể là “sách hay truyền được đến muôn đời sau”, vì diệp cũng có nghĩa là đời. Có thuyết cho rằng “diệp” là lá cây, ý nói số bài trong thi tập nhiều như số lá cây; quan điểm khác cho rằng “vạn diệp” là số trang giấy.

Tác giả của cuốn sách thuộc mọi thành phần trên toàn nước Nhật trong suốt 4 thế kỷ, từ thiên hoàng, hoàng hậu, công chúa, tướng lĩnh đến binh sĩ, người đốn củi, kẻ ăn mày… Trong đó, có 400 nhà thơ là các thi nhân tên tuổi, còn lại khuyết danh.

Đây là kết quả một sự tuyển chọn công bằng của mọi hạng người. Do đó, tập thơ phản ánh tâm tình người Nhật thuộc mọi tầng lớp.

Nó được coi là một bộ bách khoa thư về văn hóa, con người đất nước Nhật Bản xưa bằng thơ. Thi tập bao quát nhiều đề tài, được phân chia thanh ba mảng chính. Tạp ca là những chuyến ngao du, bữa tiệc, truyền thuyết, các vấn đề xã hội. Những bài thơ thuộc mảng đề tài này thường ca tụng vẻ đẹp của thiên nhiên. Tương văn ca nói về tình yêu nam nữ, bộc lộ lòng chung thủy, ca tụng tình vợ chồng đẹp đẽ. Vãn ca là những bi ca về cái chết.

Advertisement

Qua các bài trong cuốn sách, độc giả hôm nay khám phá tình cảm chất phác, thuần khiết, chân thực, đôi khi nhạy cảm, tinh tế của người Nhật xưa. Ngoài giá trị văn học, nó còn mang giá trị học thuật lớn. Qua những bài thơ, giới nghiên cứu hôm nay có thể dựng lại hình ảnh về con người, phong tục tập quán, kiến trúc, văn hóa Nhật xưa.

Van diep tap anh 2

Bìa cứng của cuốn sách. Ảnh: Y.N.

Công trình nghiên cứu về tuyệt tác thơ Nhật

Vạn diệp tập là công trình đồ sộ, chia làm 20 quyển với 4.496 bài. Trong phần “Dẫn nhập” đầu sách, dịch giả bày tỏ ông không có tham vọng “làm một việc quá sức mình” là dịch cho được toàn bộ thi tập. Tuy vậy, người dịch đã lựa chọn một số bài tiêu biểu của tập thơ để chuyển ngữ.

Ngoài phần dịch thơ, dịch giả dụng công trong việc thực hiện phần chú. Sẽ không quá khi nói bản tiếng Việt của cuốn sách là công trình nghiên cứu bên cạnh phần dịch thơ.

Thơ ca có nhiều ẩn ý đằng sau văn bản. Với mỗi bài thơ chọn dịch, dịch giả đã chú thích về bối cảnh lịch sử, phong tục tập quán, tiểu sử tác giả, hoàn cảnh và tâm tình khi sáng tác, những quy ước về thể loại… Điều đó bổ sung cho việc thưởng thức thơ của bạn đọc Việt.

Ngoài các bài thơ dịch cùng chú thích về tác phẩm, ông cũng đưa ra thông tin cặn kẽ khái quát về tác phẩm, ảnh hưởng của nó, những hướng nghiên cứu về thi tập. Ba phụ lục với niên biểu cho tập thơ, bối cảnh lịch sử, xã hội, tư liệu tham khảo giúp người đọc dễ dàng theo dõi và nắm thông tin liên quan tập thơ.

Advertisement

Theo dịch giả, đây chính là áng thơ của cuộc đời. Tập thơ là tấm gương phản chiếu sự sống, cái chết, những chuyện vui khi yêu, buồn lúc bị hờ hững, thương chồng nhớ vợ, thương con, nhớ về quê cũ; là cảnh đẹp, sự yêu mến và kính sợ trước thiên nhiên… Tất cả đều phản ánh tâm trạng, tâm hồn con người Nhật cổ nói riêng, suy rộng ra của nhân loại nói chung.

Tác phẩm do Nguyễn Nam Trân dịch và chú chỉ chứa đựng khoảng một phần mười tác phẩm. Dịch giả hy vọng thông qua cuốn sách, độc giả có thể cảm thấy phần nào vì sao dân tộc Nhật Bản coi đây là quốc bảo.

Nguyễn Nam Trân (tên thật là Đào Hữu Dũng) sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Ông đến Nhật Bản năm 1965 và Pháp năm 1970. Ông tốt nghiệp Đại học Đông Kinh (University of Tokyo), Đại học Paris, hiện là tiến sĩ khoa học truyền thông, sống và làm việc ở Nhật Bản.

Một số tác phẩm dịch của ông là: Chết giữa mùa hè, Tuyển tập Mori Ogai, Truyện tối trăng mưa, Tuyển tập Akuta Gawa (dịch cùng Cung Điền), Bách nhân nhất thủ

Nguồn: https://zingnews.vn/canh-cua-dan-loi-vao-van-hoa-nhat-ban-post1297479.html

Advertisement

Tiếp tục đọc
Quảng cáo

Sách hay

Thần Tài là ai và nguồn gốc ngày vía Thần Tài

Được phát hành

,

Bởi

Thần Tài được hội nhập vào hệ thống thần bản gia – tức các thần linh bảo hộ cho gia đình, mang lại tiền tài, sự giàu có.

Ngay via Than Tai anh 1

Chế tác hình mèo cho ngày vía Thần Tài tại một tiệm vàng. Ảnh: Trương Hiếu.

Trong cuốn Thần đất – Ông địa & Thần Tài, dựa vào thư tịch, hệ thống tượng thờ, truyện kể dân gian, nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng cho biết tập tục thờ Thần Tài ra đời và phổ biến rộng rãi với sự phát triển của lực lượng doanh thương.

Vị thần biểu trưng cho tiền tài, sự giàu có

Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, sẽ rất khó xác định việc thờ tự Thần Tài ở ta có từ bao giờ, nhất là khi Thần Tài được hội nhập vào hệ thống thần bản gia – tức các thần linh bảo hộ cho gia đình (trong cơ cấu thần linh trong gia đình có thể chia ra: Tổ tiên gia chủ; Các thần độ mạng cho vợ chồng gia chủ; Các thần tổ nghiệp; Các đối tượng thờ cúng có từ tôn giáo; Các vị thần bản gia). Các thần bản gia gồm có Táo Quân, Thổ thần, Ngũ tự và Thần Tài.

Cũng theo tác giả, ở ta tín ngưỡng thờ Thần Đất, Thổ Địa có từ lâu và việc thờ tự vị thần này dựa vào hai tín lý cơ bản: Một là vị phúc thần bảo vệ cộng đồng dân cư; hai là vị thần ban sung túc, thịnh vượng.

Advertisement

Mãi cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chúng ta mới thấy Thần Tài được thờ tự và non nửa thế kỷ sau trở thành một gia thần phổ biến với mọi nhà. Điều này khá hợp lý vì trong giai đoạn lịch sử này, kinh tế hàng hóa phát triển và phong trào tranh thương đã được đẩy lên bởi lớp điền chủ tư sản Việt, nghề nghiệp doanh thương không còn bị đánh giá thấp như ở thời phong kiến trước đó.

Ngay via Than Tai anh 2

Tượng Thổ Địa – Thần Tài. Nguồn: Sách Thần Đất – Ông Địa & Thần Tài.

Tuy nhiên, sự phân biệt giữa Thần Đất (Thổ thần) và Tài thần ở thời kỳ này vẫn còn chưa thực sự rõ rệt. Trong cuốn Đại Nam quấc âm tự vị (xuất bản năm 1895), tác giả Huỳnh Tịnh Của đã cắt nghĩa Thổ thần và Tài thần đều là “Thần đất, thần giữ tiền bạc”.

Hiện tượng này có thể xuất phát từ tín lý cổ xưa về Thần Đất có hai công năng: Một là bảo vệ cho một diện tích đất đai nào đó (nền nhà, vuông vườn, xóm ấp…); hai là nguyên lý sinh sản (hoa màu, nông sản…) của đất theo tín lý phồn thực. Nói cách khác Thổ Địa cũng làm cho gia chủ phát đạt, giàu có (được mùa, bội thu…). Đó là tín lý của thời kỳ “dĩ nông vi bản” – coi nông nghiệp là sản xuất chính yếu, coi thương nghiệp là thứ yếu.

Tuy nhiên, trong thực tế, Thần Tài không thay thế được thần Đất mà hai vị thần này được chấp nhận cộng tồn bên nhau, được thờ chung trong một khám thờ đặt sát đất, quay mặt ra theo hướng cửa chính của ngôi chùa, am, miếu hay ngôi nhà…

Thổ Địa (ông Địa) với hình tướng hỗn dung, mang thuộc tính sinh sản của đất, hàm chứa tính phồn thực, là nền tảng cơ bản của tín ngưỡng Thần Tài (với việc am hiểu địa bàn thần quản lý, ông Địa trở thành tiếp dẫn viên: “Môn khẩu Thổ Địa tiếp dẫn thần Tài”).

Advertisement

Còn Thần Tài, một vị thần ý niệm, biểu trưng cho tiền tài, sự giàu có, tức không có thần tích, thần phả gì, mang hình tướng của Phúc Đức Chánh Thần của người Hoa, chỉ khác là một tay vuốt râu và tay kia cầm xâu tiền điếu (hay thoi vàng xuồng). Đây là hình tướng phổ biến nhất. Kế đó là loại Thần Tài tay ôm bó bông lúa, tay vuốt râu. Cá biệt cũng có loại Thần Tài giống ông Thọ (trong bộ Tam Đa) với cái đầu hói đặc trưng, tay cầm quạt ba tiêu, cổ đeo xâu tiền điếu quanh bụng, dài quá rốn…

Ngay via Than Tai anh 3

Thần Tài: 1. Dạng ôm bó lúa; 2. Dạng xách xâu tiền điếu. Nguồn: Sách Thần Đất – Ông Địa & Thần Tài.

Gốc gác ngày vía Thần Tài

Theo tín niệm của dân gian, ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch hàng năm là ngày vía Thần Tài. Trong ngày này, ngoài việc thực hiện các tập tục thờ cúng, người ta thường đi mua vàng với mong ước một năm mới làm ăn phát tài.

Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, ngày mùng 10 tháng giêng âm lịch vốn không phải ngày vía Thần Tài mà là ngày vía đất. Vì Thần Tài và Thổ Địa có nhiều nhân duyên với nhau, được thờ chung một khám thờ, không tách rời nhau, nên người ta đã lấy ngày này là vía Thần Tài.

Theo nhà nghiên cứu, việc chọn ngày mùng 10 âm lịch làm ngày cúng Thổ địa có lẽ bắt nguồn từ một quan niệm về sự sinh thành trời đất và các loài vật mà Đông Phương Sóc đưa ra vào đời nhà Hán.

Theo quan niệm này, khởi thủy những ngày đầu tháng Dần (tháng giêng) thì: ngày mùng 1 sinh ra giống gà; ngày mùng 2 sinh thêm giống chó; ngày mùng 3 sinh thêm giống lợn; ngày mùng 4 sinh thêm dê; ngày mùng 5 sinh thêm trâu; ngày mùng 6 sinh thêm ngựa; ngày mùng 7 sinh ra loài người; ngày mùng 8 sinh ra ngũ cốc; ngày mùng 9 sinh ra trời; ngày mùng 10 sinh ra đất.

Advertisement
Ngay via Than Tai anh 4

Cuốn Thần đất – Ông địa & Thần Tài. Ảnh: Sachkhaitri.

Từ tín lý này, người ta tạo ra các tập tục lễ thức: Tháng giêng là tháng Dần nên Tết đều dán “bùa nêu – ông Cọp”. Ngày mùng 7 là ngày “nhân nhật” nên có lễ khai hạ, mùng 9 sinh ra trời là ngày vía Ngọc hoàng và mùng 10 là sinh ra đất, cúng đất, gọi là vía đất.

Cũng theo nhà nghiên cứu, vía đất gắn với tập tục động thổ sau những ngày đầu năm: tức sau lễ này thì việc cày bừa, giã gạo, bổ củi, đốn cây mới được phép tiến hành. Đối tượng của cuộc lễ này không chỉ là thần bản gia Thổ Địa mà là đất, nói chung là “cúng đất đai” và nói chỉ định hơn là Địa Kỳ, Hậu Thổ, một nghi lễ được tiến hành sau ngày vía Trời, Thiên Hoàng (ngày 9/1).

Lệ cúng đất sẽ diễn ra vào ngày mùng 10 cả 5 tháng đầu năm bắt nguồn từ quan niệm cho rằng ngày 10 tháng giêng là ngày vía sinh, tức cúng mừng sinh nhật đất và cho đến tháng 5 có ngày Địa Lạp tức ngày giỗ kỵ của đất, có nghĩa là ngày địa chết.

Ngoài lý giải trên còn có quan niệm các ngày mùng 10 âm lịch của 5 tháng đầu năm là ngày vía (ngày sinh) của các thần “Ngũ phương ngũ thổ” tức các Thổ Thần ở bốn phương và trung ương. Và mỗi ngày mùng 10 của 5 tháng đầu năm là ngày vía của một trong năm vị Thổ Thần đó.

Ngoài ra cũng có ý kiến cho rằng ngày mùng 2 và 16 hàng tháng âm lịch là lệ cúng thông thường của 5 thần Ngũ Phương và lệ cúng Thần Tài cũng được tích hợp chung vào đó.

Advertisement

Nguồn: https://zingnews.vn/than-tai-la-ai-va-nguon-goc-ngay-via-than-tai-post1397608.html

Tiếp tục đọc

Sách hay

50 năm Hiệp định Paris – Mốc son lịch sử

Được phát hành

,

Bởi

Sách trình bày bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và những bài học lớn từ Hiệp định Paris.

Theo bà Nguyễn Thị Bình, Nguyên phó Chủ tịch nước, cho rằng Hiệp định Paris là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, dẫn đến đại thắng mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước.

Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Lễ ký kết Hiệp định Paris, ngày 27/01/1973
Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam.

Bài phỏng vấn nhân kỷ niệm 50 năm Hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2023), in trong sách 50 năm Hiệp định Paris – Mốc son lịch sử.

– Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/1/1973 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, dẫn đến đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Với vai trò của người trong cuộc, xin bà chia sẻ về những dấu ấn nổi bật trong quá trình đàm phán?

Advertisement

– Trước hết cần khẳng định rằng Hiệp định Paris là thành quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ, lâu dài trong lịch sử ngoại giao Việt Nam với 4 năm, 8 tháng, 14 ngày. Trong gần 5 năm đàm phán đó, đoàn đàm phán của Việt Nam đã không bỏ lỡ bất kỳ một cơ hội nào để có thể đi đến một ký kết nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh đang diễn ra khốc liệt trên đất nước ta. Nhưng để chấm dứt chiến tranh không chỉ tùy thuộc ở ta, mà còn tùy thuộc vào đối phương, đặc biệt là cuộc chiến đấu trên chiến trường.

Trong suốt quá trình đàm phán, Bác Hồ và các đồng chí trong Bộ Chính trị đã có chủ trương rất đúng về ngoại giao. Trước hết là đã đánh giá được tình hình không chỉ trên chiến trường, về quân sự, chính trị, mà đánh giá cả tình hình thế giới. Từ đó, thấy rằng, trong ba năm đầu, từ năm 1969 đến năm 1971, trên chiến trường có sự giằng co giữa ta và địch; về mặt chính trị khi đó chúng ta mạnh hơn, nhưng về mặt quân sự thì ta với địch ở thế giằng co. Đến năm 1972, chúng ta ở thế chủ động trên chiến trường, mở nhiều chiến dịch trên khắp chiến trường miền Nam, đặc biệt ở Quảng Trị.

Ngược lại, Mỹ đàm phán muốn rút quân, nhưng phải rút trên thế mạnh. Do đó, Mỹ vẫn có nhiều hoạt động phá hoại miền Bắc, đánh phá miền Nam; ngăn chặn viện trợ của miền Bắc cho miền Nam, bắn phá tuyến đường Trường Sơn. Đỉnh điểm là đêm 18/12/1972, Tổng thống Mỹ Nixon đã ra lệnh ném bom hủy diệt Hà Nội và Hải Phòng bằng máy bay B.52. Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm được ví là “Trận Điện Biên Phủ trên không” kết thúc bằng việc 34 pháo đài bay B.52 và hơn 40 máy bay chiến đấu khác của Mỹ bị bắn rơi. Thất bại của Mỹ trên chiến trường miền Nam cùng với thất bại của không quân chiến lược Mỹ trên bầu trời Hà Nội, đã đẩy Mỹ vào thế thua không thể gắng gượng nổi về mặt quân sự.

Trong khi đó, có một thuận lợi cho ta, đó là dư luận quốc tế, đặc biệt là phong trào phản chiến ở Mỹ, đã tạo áp lực cho Tổng thống Richard Nixon, đặt chính quyền Nixon vào thế phải chấm dứt chiến tranh.

Mặt khác, từ ba năm trước đó, chúng ta đã nêu ra hai yêu sách để đấu tranh với Mỹ, đó là: Mỹ rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam; xóa bỏ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Phải giải quyết hai vấn đề đó mới chấm dứt được chiến tranh. Tuy nhiên, trong tình hình chiến trường và quốc tế như vậy, trên bàn hội nghị, chúng ta chỉ tập trung vào việc Mỹ rút quân, còn vấn đề chính trị miền Nam thì do các bên Việt Nam tự giải quyết. Đây là lựa chọn khôn ngoan.

Advertisement

Vì thế, sau đó Nixon mới chịu đi vào đàm phán thực chất. Và cuối cùng, ngày 22/01/1973 tại Trung tâm các Hội nghị quốc tế Kléber, đúng 12 giờ 30 phút (giờ Paris), Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Cố vấn cấp cao Kissinger ký tắt. Ngày 27/01/973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký chính thức giữa Bộ trưởng Ngoại giao các bên.

Với Hiệp định này, Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, rút khỏi Việt Nam và Đông Dương, chấm dứt dính líu quân sự, tạo thuận lợi cho cách mạng phát triển; chính quyền và quân đội Sài Gòn mất chỗ dựa về quân sự, bị suy yếu và lún sâu vào khủng hoảng chính trị. Đây là điều kiện thuận lợi cho ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào”, giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975.

– Thắng lợi của Việt Nam tại cuộc đàm phán Paris là minh chứng tập trung nhất về sự đúng đắn, tài tình của đường lối, sách lược của nền ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Xin bà chia sẻ về nhận định này?

– Đàm phán Hiệp định Paris có thể nói là cuộc đàm phán dài nhất để chấm dứt một cuộc chiến tranh cũng dài nhất trong thế kỷ XX. Là cuộc đối thoại giữa hai thế lực đối đầu trên chiến trường, một bên là lực lượng xâm lược của một đế quốc đầu sỏ và bè lũ tay sai, có thế mạnh vượt trội về quân sự và kinh tế; một bên là lực lượng chống xâm lược và bảo vệ Tổ quốc, yếu về quân sự và kinh tế nhưng lại có sức mạnh của chính nghĩa. Và đây còn là tâm điểm cuộc đối chọi giữa hai nền ngoại giao, một bên là nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường đã tồn tại trên 200 năm, với một bên là nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ.

Như chúng ta biết, nước Mỹ có nền ngoại giao lâu năm, bộ máy ngoại giao lớn, quan hệ quốc tế rộng và có kinh nghiệm xử lý các vấn đề quốc tế với nhiều đối tượng khác. Các nhà đàm phán Mỹ như Harriman, Cabot Lodge, Henry Kissinger là những nhà ngoại giao sắc sảo, nhiều thủ thuật. Hơn nữa, đàm phán là thương lượng giữa hai hay nhiều bên bình đẳng. Bởi vậy, trong quá trình đàm phán với Mỹ, giữ được thế chủ động, kiên trì mục tiêu đề ra là mối quan tâm lớn của ta trong nghệ thuật đàm phán. Để tranh thủ thế chủ động trong đàm phán, ta vận dụng tư tưởng đánh lâu dài, không chịu sức ép nào, kiên trì đấu tranh, lại biết xoáy vào thế yếu của đối phương là Mỹ bị sa lầy ở Việt Nam và lại chịu nhiều sức ép… nên phải tìm cách kết thúc sớm chiến tranh, để tranh thủ thế chủ động trong đàm phán.

Advertisement

Sự phối hợp giữa đàm phán với chiến tranh quân sự đưa đến thành công rõ rệt nhất là góp phần giành thắng lợi từng bước, buộc địch phải xuống thang từng bước, làm thay đổi dần so sánh lực lượng và thế trận trên chiến trường. Từ năm 1969, bước vào Hội nghị bốn bên, chúng ta thực hiện Chỉ thị của Trung ương là: “Đẩy địch xuống thang một bước trên chiến trường chính, ép Mỹ đơn phương rút một bộ phận quân Mỹ”.

Sức mạnh tổng hợp của ta cùng phong trào phản chiến đang dâng cao ở Mỹ đã buộc chính quyền Mỹ phải rút trên 400.000 quân Mỹ trong 3 năm, tạo thuận lợi quan trọng cho chiến trường. Mỹ rút quân hòng chuyển sức ép sang phía ta, nhưng đàm phán đã góp phần tiếp tục tạo sức ép đòi Mỹ rút nhanh, rút hết. Đàm phán hỗ trợ đấu tranh quân sự đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Nixon, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris rút hết quân Mỹ. Đây là bước “xuống thang” lớn nhất của Mỹ, là thắng lợi cao nhất của ta trong đàm phán phối hợp với chiến trường.

Có thể nói, ta giành được thế chủ động trong đàm phán vì đã chủ động trong điều hành cục diện cuộc chiến, ta biết phát động và biết kết thúc đấu tranh theo mưu lược của ta. Mặt khác, đi vào đàm phán, ta nắm chắc chiến trường, nội bộ Mỹ và xu thế quốc tế để tính toán cung cách và bước đi chặt chẽ, giữ vững quyền chủ động trong quá trình thương lượng.

Chúng ta phối hợp chặt chẽ giữa ngoại giao – đàm phán với đấu tranh quân sự là có sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lấy tình thế và yêu cầu của chiến trường làm cơ sở, kết hợp xem xét tình hình và dư luận quốc tế cùng tình hình nội bộ Mỹ để quyết định bước đi và biện pháp ngoại giao tối ưu nhất. Và nhờ đó, chúng ta đã giành được thắng lợi bằng việc ký kết Hiệp định Paris, tạo điều kiện thuận lợi tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

– Với vai trò là Trưởng đoàn đàm phán, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị bốn bên tại Paris, bà nổi tiếng với phong cách ngoại giao bản lĩnh và khéo léo, được giới truyền thông đặt cho biệt hiệu “Madame Bình”. Bà có thể bình luận thêm về nhận định này?

Advertisement

– Năm 1968, tôi đảm nhận vai trò Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, là người phụ nữ duy nhất đại diện cho Việt Nam tham gia Hội nghị bốn bên về hòa bình tại Paris từ năm 1968 đến năm 1973 và cùng ký tên vào bản Hiệp định ngày 27/01/1973. Đó là cả một khoảng thời gian khó khăn, áp lực, căng thẳng đối với cá nhân tôi và các thành viên tham gia đoàn đàm phán. Song, đó cũng là khoảng thời gian mà tôi học hỏi, tích lũy được nhiều bài học về công tác ngoại giao, mà tôi cho rằng những bài học đó cho đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị.

Trước hết, đó là bài học phải giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, phải xuất phát từ lợi ích quốc gia, phải biết rõ lực lượng mình như thế nào, đối phương ra sao để quyết định từng bước đi và luôn luôn có sự kết hợp giữa chiến trường và trên mặt trận ngoại giao – bài học về độc lập, tự chủ.

Thứ hai, là phải kiên định đối với lập trường, nguyên tắc và mục tiêu chiến lược của mình, nhưng trong sách lược phải biết mềm dẻo.

Thứ ba, là biết kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế nhưng phải dựa vào sức mình là chính. Những bài học lớn mang tính nguyên tắc này chúng ta có thể vận dụng trong việc xây dựng đường lối đối ngoại của ta trong giai đoạn hiện nay cũng như mai sau.

Còn đi vào cụ thể, chúng ta sẽ có được những bài học cụ thể, ví dụ khi đi vào đấu tranh trong từng phiên họp, trên các vấn đề lớn, ta cũng phải biết cách gạt các mũi tấn công, các đòn gây sức ép của đối phương bằng những lý lẽ, lập luận sắc bén, các cách ứng xử quyết liệt. Thực tế, trong quá trình đàm phán, không phiên họp nào mà phía Mỹ không đề cập vấn đề “rút quân miền Bắc”; họ xoáy vào vấn đề này nhằm đánh lừa dư luận, gây khó khăn cho ta. Ta một mặt khẳng định: “Thực hiện quyền dân tộc tự vệ thiêng liêng, mọi người Việt Nam đều có quyền chiến đấu trên bất kỳ mảnh đất nào của Tổ quốc mình”.

Advertisement

Mặt khác, ta đưa ra phương thức “Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do các bên Việt Nam giải quyết”. Lập trường này đã được đưa thành một điều khoản (Điều 13) của Hiệp định Paris. Hay như trên vừa nói, thời Nixon, Mỹ mấy lần cho ném bom lại một số nơi ở miền Bắc để gây sức ép, khiến không khí đàm phán căng thẳng. Đoàn đàm phán ta đến phiên họp đọc bản tuyên bố lên án Mỹ rồi bỏ họp mà không để đối phương kịp phản ứng. Chủ động bỏ họp như vậy cũng là một cách tấn công gây tác động mạnh trong dư luận.

Hoặc trong tiến trình đàm phán, chúng ta cũng cần khôn khéo trong việc trả lời phỏng vấn của báo chí nước ngoài. Tôi còn nhớ trong một buổi trả lời phỏng vấn, có nhà báo hỏi: “Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?”. Tôi đã cương quyết, khéo léo trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”. Có nhà báo lại hỏi: “Vùng giải phóng ở đâu?”. Tôi trả lời: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?”…

Việc trả lời những câu hỏi của báo chí cũng chính là một kênh thể hiện quan điểm, lập trường của phía ta trong tiến trình đám phán đi đến ký kết Hiệp định, cũng như chủ trương, đường lối cách mạng của Đảng và nhân dân ta trong cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đó là những chi tiết rất nhỏ, nhưng những người làm công tác ngoại giao cần phải đặc biệt chú trọng.

Hội nghị Paris đã khép lại cách đây 50 năm với nhiều bài học kinh nghiệm và giá trị lịch sử to lớn; là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; tôi tin rằng, những người làm công tác ngoại giao hôm nay sẽ vận dụng và phát triển những bài học kinh nghiệm quý báu đó trong tiến trình đất nước hội nhập quốc tế, sánh vai với các cường quốc năm châu, ngày càng lớn mạnh, phồn vinh.

Nguồn: https://zingnews.vn/hiep-dinh-paris-la-thang-loi-co-y-nghia-chien-luoc-post1397029.html

Advertisement

Tiếp tục đọc

Sách hay

Ám ảnh đằng sau những chiếc điện thoại đắt tiền

Được phát hành

,

Bởi

“Cobalt Red” của Siddharth Kara đi sâu vào câu chuyện kinh hoàng của việc khai thác khoáng sản quý hiếm và nhiều người làm giàu trên sự đau khổ của đồng loại.

Hoạt động khai thác cobalt diễn ra trong điều kiện lao động nguy hiểm. Ảnh: New York Times.

Cobalt là một khoáng chất cần thiết để sản xuất pin của các thiết bị thông minh, xe điện và nhiều sản phẩm điện tử khác. Smartphone – vật dụng hầu như ai cũng có – chứa khoảng vài gram nguyên tố này.

Trong quyển Cobalt Red, tác giả Siddharth Kara chỉ ra góc khuất của quá trình khai thác khoáng sản quý hiếm. Rất có thể, để tạo nên chiếc điện thoại bạn đang cầm trên tay, những công nhân làm việc trong hầm mỏ tăm tối ở châu Phi đã bị bóc lột tàn nhẫn.

Gần một nửa trữ lượng cobalt của thế giới được tìm thấy ở Cộng hòa Dân chủ Congo, quốc gia hứng chịu xung đột kéo dài, bị biến thành địa điểm tranh giành ảnh hưởng chính trị và chiếm cứ nguồn tài nguyên chiến lược.

Advertisement

Sử dụng lao động vị thành niên xuất hiện tràn lan trong lĩnh vực khai thác mỏ tại Congo. Vào năm 2016, Tổ chức Ân xá Quốc tế và nhóm giám sát Afrewatch chỉ trích các công ty đa quốc gia như Apple và Samsung sử dụng nguồn cobalt khai thác thông qua bóc lột sức lao động.

Ngành công nghệ cam kết sẽ cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân tại các khu mỏ. Tuy nhiên, kể từ đó, nhu cầu cobalt ngày càng tăng cao. Việc này đã thôi thúc Siddharth Kara bắt tay vào điều tra.

Là giảng viên tại Kennedy School thuộc Đại học Harvard, Kara từng viết về nạn buôn bán tình dục và các hình thức khác của “nô lệ hiện đại”. Giống những quyển sách trước đó, thông qua Cobalt Red, tác giả muốn vạch trần sự thật về tình trạng bóc lột lao động đang diễn ra trong ngành công nghiệp khai khác mỏ.

Kara đưa độc giả “đi theo con đường duy nhất dẫn đến sự thật” tại khu mỏ Katanga, trung tâm khai thác cobalt tại thành phố Kolwezi (Congo).

khai thac mo cobalt anh 1

Bìa sách Cobalt Red. Ảnh: Barnes&Noble.

Kể từ khi bị vua Bỉ Leopold II chiếm giữ vào năm 1885, sông Congo và lưu vực đã cung cấp cho thế giới – đặc biệt là Mỹ – nhiều của cải: ngà voi, cao su, dầu cọ, kim cương, uranium. Tuy nhiên, ngày nay hơn 3/4 dân số Congo sống dưới mức nghèo khổ, trong khi rất ít người được tiếp cận với nước sạch và điện.

Advertisement

“Chưa bao giờ người dân Congo được hưởng lợi từ các mỏ của đất nước. Chúng tôi chỉ trở nên nghèo hơn”, một nhà lãnh đạo cộng đồng nói với Kara.

Từ năm 2018, tác giả đã thực hiện một số chuyến đi đến các khu vực khai thác mỏ của Congo, những địa điểm nằm trong phạm vi tranh giành gay gắt, đầy rẫy nguy hiểm. Tại đây, những người thợ mỏ làm việc cực nhọc trong các mỏ sâu và đường hầm lộ thiên. “Hơn 15.000 đàn ông và thiếu niên đang đập búa, xẻng và la hét bên trong miệng hố, hầu như không có chỗ để di chuyển hoặc thở”.

Những người thợ mỏ, hầu hết không có đồ bảo hộ, lao động giữa kim loại độc hại. Kara phỏng vấn một số người bị tàn tật suốt đời do tai nạn và chứng kiến ​​xác một cậu bé vị thành niên được đưa ra khỏi đường hầm vừa sập. Vụ việc khiến 63 người thiệt mạng.

Theo New York Times, điều đáng giá của Cobalt Red là tác giả đã đi sâu vào khám phá quá trình khai thác mỏ dựa trên lao động cưỡng bước, sau đó đưa sản phẩm thu được vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nguồn: https://zingnews.vn/am-anh-dang-sau-nhung-chiec-dien-thoai-dat-tien-post1397353.html

Advertisement

Tiếp tục đọc

Xu hướng