Connect with us

Tác giả

Vincent van Gogh đọc sách gì

Vincent van Gogh luôn thể hiện niềm tôn kính với sách bởi tri thức và xúc cảm mà sách đem đến.

Van Gogh doc sach anh 1

Ông chìm đắm say mê trong những tác phẩm của Charles Dickens, Jules Michelet, Émile Zola và Alphonse Daudet… Ngoài ra Van Gogh cũng thích nhiều sách và các tác giả, từ Kinh thánh đến thơ của John Keats. Từ George Eliot đến các tác phẩm thơ của Henry Wadsworth Longfellow, từ bi kịch của Shakespeare đến các câu chuyện cổ tích của Hans Christian Andersen cùng nhiều tác giả khác nữa.

Van Gogh doc sach anh 2

Yêu thích văn học. Vincent van Gogh yêu thích văn học. Ông thích phong cách viết tự nhiên, từ những câu chuyện hành động đơn giản cùng dàn nhân vật nổi loạn đến những cuốn sách về cuộc sống đời thường giàu cảm xúc. Tranh của Vincent van Gogh: In the cafe Agostina Segatori in Le Tambourin.

Van Gogh doc sach anh 3

Một người yêu sách. Ngay từ khi còn là một đứa trẻ, Vincent đã đọc nhiều sách. Những cuốn sách ông đọc phản ánh những gì đang diễn ra trong cuộc đời ông. Tranh Gauguin’s chair.

Van Gogh doc sach anh 4

Sách yêu thích. Trong số những cuốn sách mà ông đã đọc, có bốn tác giả đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời ông. Đó là những cuốn sách của Charles Dickens, Jules Michelet, Émile Zola và Alphonse Daudet. Tranh Piles of French novels.

Van Gogh doc sach anh 5

Đọc Charles Dickens để biết nhân văn và bác ái. Ngôi nhà ở làng Nuenen, nơi cha mẹ của Vincent van Gogh sống. Cha của Vincent là một mục sư. Cha mẹ khuyến khích Vincent đọc sách để tăng cường kiến thức và phát triển bản thân. Khi còn nhỏ, Vincent đã đọc những cuốn sách đạo đức, thường được các thành viên trẻ tuổi của cộng đồng Cơ đốc giáo Tin lành ủng hộ: loại sách nhấn mạnh tầm quan trọng của lòng bác ái và nhân văn. Nhân văn và bác ái cũng là những giá trị quan trọng trong các tác phẩm của Charles Dickens. Vincent đã đọc đi đọc lại các tác phẩm của Dickens trong suốt cuộc đời của mình. Tranh The Vicarage at Nuenen.

Van Gogh doc sach anh 6

Đọc Michelet để biết cách yêu. Với cuốn sách L’amour – Tình yêu của Jules Michelet, Vincent van Gogh tìm thấy sự khôn ngoan để có thể áp dụng vào đời sống tình cảm. Câu chuyện chỉ đơn thuần là tình yêu nam nữ nhưng có thể được đọc dưới góc nhìn như một bài học đạo đức. Vincent van Gogh đã sử dụng nó để biện minh cho những lựa chọn và cách sống của mình, khi ông yêu cô em họ, và khi ông chọn sống cùng một cô gái điếm. Tranh Garden with Courting Couples Square Saint Pierre.

Van Gogh doc sach anh 7

Đọc Zola để có một góc nhìn thực tế. Khi Emile Zola dùng bút “vẽ” tiểu thuyết thì Vincent “viết” bằng cọ. Những câu chuyện của Zola như L’Oeuvre (tác phẩm, 1886) bắt nguồn từ thực tế. Ông mô tả cuộc sống thô bạo và bộc trực như cuộc sống ở các khu ổ chuột ở Paris và các ngôi làng của thợ mỏ. Giống Zola, Vincent muốn miêu tả chân thực những gì ông thấy xung quanh mình: những người lao động trong nông trang, một ông già phong độ, những người phụ nữ cùng quẫn, quang cảnh lao động và sinh hoạt. Tranh Portrait of an Old Man.

Van Gogh doc sach anh 8

Đọc Daudet để có thêm khiếu hài hước. Năm 1888, khi đến sống ở Arles, miền Nam nước Pháp, Vincent có nhu cầu đọc truyện hài hước và châm biếm. Ông đọc Thiện xạ Tartarin của Alphonse Daudet. Với ngòi bút trào lộng sâu sắc và duyên dáng, Alphonse Daudet đã xây dựng nên hình ảnh sinh động của anh hùng tỉnh lẻ, nhà quý tộc nửa mùa ở xứ sở Provence ngọt ngào hương sắc. Vincent ấn tượng với cuốn sách hài hước này. Bởi một cuốn sách hài hước sẽ giúp nâng đỡ tinh thần người đọc và nghệ thuật sẽ mang lại cho người ta sự an ủi. Tranh Field with Flowers near Arles.

Van Gogh doc sach anh 9

“Đọc sách cũng như xem tranh: không nghi, không ngại, chỉ cốt tự tin, nhìn ra vẻ đẹp của cái đẹp là được”, Vincent van Gogh viết trong một bức thư gửi cho em trai Theo, ngày 5/8/1881. Tranh Still Life with Bible.

Nguồn: https://zingnews.vn/vincent-van-gogh-doc-sach-gi-post1352709.html

Tác giả

Nhà văn Javier Marías qua đời ở tuổi 70

Nhà văn Tây Ban Nha Javier Marías đã qua đời vào ngày 11/9 tại Madrid sau một thời gian nhập viện do bệnh viêm phổi, theo nhà xuất bản Alfaguara.

Tin tức nhà văn Javier Marías qua đời không chỉ được đưa tin bởi các tờ báo lớn như El Mundo (Tây Ban Nha), El País (Tây Ban Nha), Le Monde (Pháp), The The Guardian (Vương quốc Anh), Süddeutsche Zeitung (Đức) hay Corriere della Sera (Italy) mà còn được đăng tải trên trang web của Câu lạc bộ Bóng đá Real Madrid – đội bóng mà tác giả của Trái tim bạc nhược hâm mộ.

Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sánchez đã tôn vinh Javier Marías là “một trong những nhà văn vĩ đại của thời đại chúng ta” và bày tỏ lời chia buồn tới gia đình và bạn bè của ông trên Twitter.

Javier Marias anh 1

Nhà văn Javier Marías qua đời ở tuổi 70. Ảnh: Jaime Villanueva.

Nhà báo, tiểu thuyết gia Rosa Montero cho biết bà “choáng váng và sững sờ” khi biết tin. “Tôi luôn nghĩ rằng anh ấy là ứng cử viên xuất sắc ở Tây Ban Nha cho giải Nobel Văn học… Một nhà văn vĩ đại”, bà Rosa Montero chia sẻ.

Sinh ngày 20/9/1951 tại Madrid, Javier Marías là một nhà văn, dịch giả, nhà báo và nhà viết tiểu luận. Ông cũng là thành viên của Học viện Hoàng gia Tây Ban Nha.

Là con trai của nhà triết học Julián Marías, Javier Marías đã trải qua một phần thời thơ ấu của mình ở Mỹ, nơi cha ông dạy học. Javier Marías theo học triết học và văn học tại tại Đại học Complutense Madrid. Ông cũng làm dịch giả, cộng tác với nhiều tờ báo khác nhau và từng tham gia giảng dạy văn học Tây Ban Nha tại Oxford và Cao đẳng Wellesley.

Các cuốn sách của Javier Marías đã được dịch ra 46 thứ tiếng và bán được hơn chín triệu bản trên toàn thế giới.

Javier Marías từng nhận được nhiều giải thưởng trong sự nghiệp sáng tác của mình như giải thưởng Herralde năm 1986, giải thưởng Rómulo Gallegos năm 1995, giải Femina Étranger năm 1996, giải thưởng Văn học quốc tế Dublin năm 1997, giải thưởng Alberto Moravia năm 2000, giải thưởng Salambó năm 2002, giải thưởng José Donoso năm 2008, giải thưởng Văn học Châu Âu của Nhà nước Áo năm 2011, giải thưởng Gregor von Rezzori năm 2022…

Một số cuốn sách của Javier Marías đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Trái tim bạc nhượcNgười đàn ông đa cảm.

Javier Marias anh 2

Hai cuốn sách của nhà văn Javier Marías đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam. Ảnh: Quốc Lượng.

Trong những năm gần đây, nhà văn Javier Marías thường xuyên có tên trong danh sách đặt cược thắng giải Nobel Văn học cùng các tác giả như Haruki Murakami, László Krasznahorkai, Milan Kundera, Margaret Atwood, Ludmila Ulitskaya, Maryse Condé hay Ngũgĩ wa Thiong’o.

Tờ La Repubblica (Italy) nhận xét: “Marías để lại một di sản văn học phi thường”.

Nguồn: https://zingnews.vn/nha-van-javier-marias-qua-doi-o-tuoi-70-post1349650.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Giải mã những mật ngữ ẩn khuất trong ‘Tây du ký’

Theo tác giả Huệ Khải, “Tây du ký” không chỉ là câu chuyện về một chuyến thỉnh kinh mà còn là phúng dụ để nói về hành trình tu luyện của mỗi cá nhân trong cõi người.

Đường Tăng là ai? Yêu tinh có mấy loại? Lò bát quái đặt ở đâu? Lửa nào đốt lò bát quái? Vì sao lò bát quái không thiêu chết Tôn Ngộ Không? Vì sao cân đẩu vân của Tôn Ngộ Không không qua khỏi được bàn tay của Phật Tổ? Lá bùa sáu chữ trên núi Ngũ Hành giam Tôn Ngộ Không có ý nghĩa gì? Vì sao chỉ có Tam Tạng mới giúp được Tề Thiên hất tung núi Ngũ Hành? Tại sao Hồng Hài Nhi tu 300 năm nhưng vẫn là đứa con nít?…

Đó là những câu hỏi được tác giả Huệ Khải (tên thật là Lê Anh Dũng) đặt ra trong cuốn sách của mình có tên là Giải mã truyện Tây du.

Giai ma Tay du anh 1

Sách Giải mã truyện Tây du. Ảnh: M.C.

Phía sau những chương hồi gay cấn

Và trong cuốn sách này, ông đã sử dụng nền tảng căn bản của Phật học, Lão học, Dịch học, Thiền học, Đạo học (Đạo Cao đài), để kiến giải, làm rõ các câu hỏi trên.

Nói cách khác theo Huệ Khải “là giải mã những mật ngữ “hình nhi thượng học” (là cái học siêu hình) nằm ẩn khuất sau những chương hồi gay cấn, tưởng chừng như chỉ nhằm thỏa mãn thị hiếu giải trí của đại chúng”.

Theo Huệ Khải, Tây du ký không chỉ là câu chuyện về một chuyến thỉnh kinh sang xứ Tây thiên của năm thầy trò Đường Tam Tạng, mà còn là phúng dụ để nói về hành trình tu luyện của mỗi cá nhân trong cõi người. Nói cách khác, truyện Tây du ký của Ngô Thừa Ân dẫn dắt người đọc đi vào những góc cạnh của Đạo học phương Đông và tác phẩm này cần được khơi mở, khám phá.

Giải mã truyện Tây du xuất bản lần đầu năm 1993 (Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM) gồm 9 bài viết: Đường Tăng! Anh là ai?, Trăng sao cửa động đá đầu non, Ngọn gió trong lò, Núi cáo chi mấy núi ơi! Vạn năm chờ quả chín, Bốn biển không yên cơn lửa trẻ, Sáu bảy mười ba, Nẻo về bên ấy, Nỗi lòng giấy trắng.

Từ lần in thứ 2 đến lần in thứ 10 ngoài các bài điểm sách in trong phần Dư âm Giải mã truyện Tây du, sách bổ sung thêm phần Phụ lục & Tăng bổ gồm các bài: Tâm lập, Hư thực đôi điều, Lý chí thường Thường Xuân Chân Nhân Tây du ký,Tây du ký có bài lão Tôn Phật không?, Đường Tăng thỉnh kinh hư cấu và lịch sử, Hầu Vương được hư cấu như thế nào, Bài phú Tây du trong Đạo Cao đài, Nói chuyện Trư Bát Giới.

Ở bản in lần thứ 11, năm 2022 này, tác giả bổ sung 3 bài: Con chuột trong Tây du ký, Con cọp trong Tây du ký, Thoáng chút duyên với Thầy Thanh Tuệ – An Tiêm.

Theo Dương Ngọc Dũng, tác giả bài điểm báo Đọc Giải mã truyện Tây du in trong sách (phần Dư âm Giải mã truyện Tây du) cho rằng, Huệ Khải đã dùng kiến giải về Phật học, Lão học Dịch học và Đạo học để trình bày lại những ẩn ngữ của Tây du ký.

Ông Dũng cũng cho rằng Huệ Khải trong một phạm vi nào đó đã áp dụng phương pháp phân tích cấu trúc (ít dùng trong phân tích tác phẩm văn học ở nước ta). Phương pháp này không nghiên cứu tâm lý nhân vật, không xác định chủ đề mà được sử dụng nhằm phát hiện cấu trúc nội tại của tác phẩm. Bên cạnh đó, hệ thống tín hiệu cho phép giải mã tác phẩm, đưa các cấu trúc tiềm ẩn ra ánh sáng.

Áp dụng thuyết cấu trúc còn nhằm mục đích phát hiện hệ thống các quy luật ngầm, cho phép kết hợp các ký hiệu rời rạc thành một hệ thống nhất, có ý nghĩa. Đó là giải mã những tín hiệu đã được mã hóa.

Giai ma Tay du anh 2

Bốn thầy trò Đường Tăng trong phim Tây du ký 1986. Nguồn: baike.baidu.

Chiếc chìa khóa giải mã

Quan điểm này của ông Dũng cũng nhận được sự đồng tình của ông Trần Trung Phượng (bài Thêm một ngón tay chỉ mặt trăng) và ông Trần Văn Chánh (bài Nhân đọc lại Giải mã truyện Tây du).

Lấy ví dụ về áp dụng thuyết cấu trúc, trong bài thứ năm Vạn năm chờ quả chín, trước hết tác giả nêu lên sự vô lý trong việc mô tả cây nhân sâm (to như cây đại thụ), mà một người học vấn uyên bác như Ngô Thừa Ân không thể lầm lẫn được.

Chúng ta cần phải đón bắt những tín hiệu khác để hiểu sự lầm lẫn cố ý này. Những tín hiệu đó nằm rải rác trong toàn bộ hồi thứ hai mươi bốn: quả nhân sâm tương khắc với ngũ hành, tên núi vạn thọ, tượng số chín nghìn năm, nhân sâm có hình dạng giống đứa trẻ mới sinh…

Chiếc chìa khóa giải mã câu chuyện này là: Ngô Thừa Ân biến củ sâm thành quả sâm, tức đem cái dưới đất lên ngọn cây. Đó là hình tượng của con đường trở về nội tâm mà Phật bảo là cái bổn lai diện mục của mình. Còn Lão giáo gọi là phục kỳ bản, phản kỳ chân, và Đạo học (Cao Đài) mệnh danh là con đường phản bổn hoàn nguyên để giác ngộ giải thoát.

Trong bài Ngọn gió trong lò, đầu tiên tác giả nói đến việc Tề Thiên thua trận, bị thiên binh áp về trời trị tội. Trị cách gì cũng không chết được. Cuối cùng Lão Quân đem về cung Đâu suất, ném vào lò bát quái.

Các tín hiệu khác để làm rõ câu chuyện này là: lò bát quái đó là tám cung tương ứng các quẻ Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Thất thất và cửu cửu (bảy bảy bốn chín, chín chín tám mốt) là những con số nói đến quá trình tu tập. Số 5, số 9 và cung Tốn trong Dịch học: số 5 là ngũ hành, số 9 là số lão dương hay thuần dương, cung Tốn là gió. Vị trí đặt lò bát quái không phải cung Đâu Suất mà là nằm trong thân xác con người. Thứ lửa đốt lò bát quái là lửa văn và lửa vũ…

Ẩn ý trong câu chuyện Lò bát quái là: Lão quân đòi giết Tôn Ngộ Không trong lò bát quái tức là dùng cái công phu thiền pháp diệt cái tâm điên đảo. Tề Thiên núp ở trong cung Tốn bốn chín ngày nên không chết. Lò bát quái nấu kim đan của Lão Quân là lò luyện nên vàng mười. Thân phàm phu huyết nhục qua trui luyện thành công sẽ trở nên kim thân bất hoại. Mỗi con người đều sẵn có trong cơ thể một lò bát quái. Đường Tăng là người đã chụm lửa đốt lò bát quái, mang lò ấy đi ngược dòng thế tục, tìm về cõi Phật thành Phật thành Tiên.

Tóm lại, tác giả sử dụng nền tảng căn bản của Phật học, Lão học, Dịch học, Thiền học, Đạo học (Đạo Cao đài) và thuyết cấu trúc để giải mã tác phẩm, đưa các cấu trúc tiềm ẩn ra ánh sáng. Giải mã truyện Tây du giúp cho độc giả thêm cái nhìn sâu sắc hơn khi đọc tác phẩm Tây du ký của Ngô Thừa Ân.

Nguồn: https://zingnews.vn/giai-ma-nhung-mat-ngu-an-khuat-trong-tay-du-ky-post1354244.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Báo Mỹ muốn giải Nobel cho Salman Rushdie

Tờ The New Yorker mới đây đã đưa ra nhận định rằng Viện Hàn lâm Thụy Điển cần sớm ghi nhận những thành tựu văn chương của
Salman Rushdie.

Năm 1901, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã trao giải Nobel Văn chương lần đầu tiên cho Sully Prudhomme, một nhà thơ người Pháp không quá nổi bật lúc đương thời và đến ngày nay hầu như không còn mấy ai nhớ đến.

Tại buổi lễ trao giải ở Stockholm, Thư ký thường trực của Viện lúc bấy giờ là Carl David af Wirsén đã ca tụng “tính hướng nội” của Prudhomme, ông cho rằng phẩm tính ấy thật “giàu rung cảm và tinh tế”. Wirsén đã tiếp tục phát biểu thật chừng mực, chưa bao giờ tiết lộ rằng Viện Hàn lâm đã có cân nhắc nên trao giải cho Leo Tolstoy hoặc Émile Zola. Về sau mới có thông tin tiết lộ rằng Tolstoy trượt 16 lần đề cử liên tiếp vì những lý do thuộc về hệ tư tưởng.

Salman Rushdie anh 1

Huy chương Nobel. Ảnh: Britannica.

Những sai lầm của giải Nobel Văn chương

Ngoại trừ huy chương vàng dành cho bộ môn điền kinh chạy trăm mét, bất kỳ giải thưởng nào cũng đều không hoàn toàn khách quan, khiến người nhận giải bị nghi ngờ ít nhiều. Năm 1942, bộ phim Citizen Kane(Công dân Kane) đã trượt mất giải Oscar Phim hay nhất, để giải thưởng này thuộc về phim How Green Was My Valley(Thung lũng xanh thẳm).

Ngay cả những giám khảo thông tuệ nhất cũng có thể mắc sai lầm. Tuy nhiên, có lẽ Viện Hàn lâm Thụy Điển đã quá lạm dụng đặc quyền được phép sai. Rốt cuộc, Prudhomme đã gia nhập vào hàng ngũ nhóm người được trao giải Nobel văn chương còn nằm trong vòng hoài nghi cùng những cái tên khác như Rudolf Eucken, Paul Heyse, Władysław Reymont, Erik Axel Karlfeldt, Verner von Heidenstam, Pearl S. Buck, và Dario Fo.

Còn danh sách những người không được giải Nobel gồm có Joyce, Proust, Chekhov, Musil, Wharton, Woolf, Kafka, Brecht, Borges, Akhmatova, Rilke, Orwell, Lorca, Twain, Baldwin, Achebe, Murakami Haruki và nhiều khuôn mặt khác nữa.

Bất kể những sai lầm trong quá khứ, giải Nobel vẫn là niềm khao khát của rất nhiều người. Những tác giả đang vô vọng chờ đợi một cuộc gọi từ Stockholm sẽ rất rầu rĩ khi không được xướng tên. Khi Bob Dylan thắng giải Nobel năm 2016, Philip Roth nói với bạn bè rằng ông cảm thấy thật buồn cười, ông đùa thêm là chắc giải Nobel năm sau sẽ trao cho Peter, Paul và Mary.

Tháng 10 năm nay, Viện Hàn lâm Thụy Điển sẽ có cơ hội để gỡ gạc lại quá khứ khi bỏ qua những tác giả kiệt xuất, đồng thời sửa chữa sai lầm cho những do dự đáng tiếc để dũng cảm đứng dậy, vinh danh những giá trị của người thắng giải.

Rushdie xứng được giải Nobel trong tư cách nhà văn

Vào giữa những năm 1980, kiệt tác Những đứa con của nửa đêm Shame (Ô nhục) của Salman Rushdie đã được dịch sang tiếng Ba Tư, tạo ra làn sóng hâm mộ ở Iran vì tinh thần chống chủ nghĩa đế quốc. Mọi thứ thay đổi vào ngày 14/2/1989 khi nhà lãnh đạo Ruhollah Khomeini cho rằng The Satanic Verses (Những vần thơ của quỷ Satan) là một tiểu thuyết báng bổ mà ông chẳng muốn đọc, và ban lệnh truy nã tử hình nhà văn. Sắc lệnh của Khomeini đã làm dấy lên những cuộc biểu tình, phong trào đốt sách chống lại Rushdie từ Karachi đến London.

Salman Rushdie anh 2

Nhà văn Salman Rushdie. Minh họa: Golden Cosmos/The New Yorker.

Rushdie có lẽ không thể ngờ tác phẩm của ông sẽ tạo ra phản ứng dư luận như thế, ông đã phải chịu cảnh lẩn trốn và được bảo vệ nghiêm ngặt trong suốt 10 năm sau đó. Giới văn chương không nghiêng hẳn về phía bảo vệ ông. Roald Dahl, John Berger, và John le Carré là một trong số những người viết đánh giá rằng có lẽ Rushdie đã không đủ tỉnh táo để lưu tâm đến sự nhạy cảm của giới tăng lữ ở Tehran.

Tuy nhiên, ở thời điểm đó, Viện Hàn lâm Thụy Điển còn có cách cư xử thiếu dũng cảm hơn khi từ chối đưa ra phát ngôn ủng hộ Rushdie. Phải mất đến 27 năm, khi đã có quá nhiều hiệu sách ở Mỹ và châu Âu chìm trong biển lửa, cộng thêm việc dịch giả Nhật ngữ của Rushdie bị ám sát, Viện Hàn lâm mới chịu lên tiếng rằng lệnh fatwa truy nã tử hình là “vi phạm nghiêm trọng đến quyền tự do ngôn luận”.

Về phần Rushdie, ông đã có cách đối diện vấn đề. Trong một bài tiểu luận gần đây, ông viết: “Tôi đã không chủ tâm chọn lựa cuộc chiến này, nhưng ít nhất thì đây cũng là cuộc chiến chính nghĩa, bởi vì mọi thứ tôi yêu mến và quý trọng (văn chương, tự do, sự bất tôn ti trật tự, tự do, phi tôn giáo, tự do) ở trong cuộc chiến chống lại mọi thứ tôi căm ghét (cuồng tín, bạo lực, niềm tin mù quáng, sự thiếu hài hước, chủ nghĩa vật chất, và những hành vi trái phép mới của thời đại)”.

Dù phải trải qua nhiều khó khăn, Rushdie chưa bao giờ ngừng viết, sau một thời gian dài sống kiếp ẩn dật, ông đã quay trở lại để dạy học, thuyết giảng, tận hưởng thú vui cuộc đời. Ông dám đến những buổi tiệc, buổi hòa nhạc, những trận đấu bóng…

Ông chẳng màng quan tâm. Ông cứ kiên định sống đời mình, ông thậm chí còn tham gia vào một tập của phim truyền hình sitcom Curb Your Enthusiasm (Đừng quá nhiệt tình).

Rushdie đã 75 tuổi. Mặc dù nhà lãnh đạo tối cao của Iran đã ban lại lệnh truy nã tử hình cho Rushdie vào năm 2017, sắc lệnh này dường như đã mất đi hiệu lực. Rushdie hầu như không bao giờ có vệ sĩ đi kèm khi ông xuất hiện trước công chúng.

Ngày 12/8 vừa qua, khi Rushdie đang diễn thuyết ở Học viện Chautauqua phía Tây New York, một người đàn ông đã nhảy lên sân khấu và đâm ông nhiều nhát dao. Rushdie bị thương nghiêm trọng. Người đại diện của Rushdie là Andrew Wylie đã phát biểu rằng những thương tích của nhà văn cần thời gian dài để phục hồi.

Bản thân Rushdie với tư cách là một nhà văn cũng đã quá đủ xứng đáng để trao giải Nobel. Vụ việc vừa xảy ra chỉ mang tính tô đậm thêm vai trò của ông khi là một người chiến đấu kiên cường cho tự do và biểu tượng của tinh thần bất khuất.

Không một hành động nào có thể đảo ngược lại làn sóng phản dân chủ đang nhấn chìm phần lớn thế giới. Tuy nhiên, sau rất nhiều lựa chọn gây hoang mang, Viện Hàn lâm Thụy Điển nay lại có cơ hội đáp trả lại bản án tử bằng giải thưởng cao quý nhất. Rushdie đã cho thấy rằng quyền tự do ngôn luận không bao giờ có thể đạt được dễ dàng, nhưng giải thưởng là một cái giá xứng đáng cho công cuộc này.

Nguồn: https://zingnews.vn/bao-my-muon-giai-nobel-cho-salman-rushdie-post1351456.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Cố họa sĩ Thang Trần Phềnh – tài hoa và độc đáo

Vào đầu thế kỷ XX khi nền mỹ thuật Việt Nam còn sơ khai, họa sĩ Thang Trần Phềnh đã nổi danh bậc nhất, với nhiều giải thưởng và những lời tán dương.

Vừa qua, tại nhà triển lãm trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam (42 Yết Kiêu – Hà Nội) đã diễn ra triển lãm bộ sưu tập các tác phẩm của cố họa sĩ Thang Trần Phềnh (1895 – 1972) của nhà sưu tập Lê Quang Tuyến và ra mắt cuốn sách Thang Trần Phềnh – Hồi ký và tác phẩm.

Nổi danh từ khi chưa vào học tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, họa sĩ Thang Trần Phềnh được xem là một trong những viên gạch đầu tiên tạo nền móng cho “ngôi nhà mỹ thuật Việt Nam” cận đại. Đồng thời, ông cũng đóng vai trò là “người khai mở” và có đóng góp lớn cho mỹ thuật sân khấu Việt Nam.

Triển lãm các tác phẩm của cố họa sĩ Thang Trần Phềnh đã trưng bày trên 70 bức vẽ gồm các thể loại: tranh tả cảnh sinh hoạt, tranh phong cảnh, ký họa, phác thảo trang phục nhân vật sân khấu, trang trí bối cảnh vở diễn bằng nhiều chất liệu khác nhau, chủ yếu là kích cỡ nhỏ.

Tại triển lãm, nhà nghiên cứu mỹ thuật sân khấu Đoàn Thị Tình – một trong số ít các học trò ở mảng trang trí mỹ thuật sân khấu, người có thời gian gần gũi với ông trong những năm tháng cuối đời – chia sẻ:

“Dưới con mắt quan sát hiện thực sâu sắc của họa sĩ, từ đối tượng ngoại cảnh đi vào nội tâm bằng trình độ kỹ xảo tinh tế, làm chủ chất liệu họa phẩm trong hệ thống nhịp điệu sắc màu đỏ, nâu mặn mòi trong trẻo đã đưa ta trở về quá khứ với những hình ảnh sinh hoạt thanh bình chốn bên sông, xóm nhỏ, chợ quê, góc hè nơi phố thị…

Đặc biệt, ở mảng trang phục của con người thể hiện trong từng bức vẽ đã phác họa lên một phần sử liệu phong phú, chính xác về đặc trưng hình dáng, màu sắc đến tính chất vật thể, hoàn cảnh, cách mang vận của chủ nhân đương thời. Với những gam màu trầm ấm, lặng lẽ mà nhẹ nhàng tươi sáng, gợi mỹ cảm bởi nét duyên dáng, tỉ mỉ, chân thực, càng xem càng thu hút, gần gũi, mang lại những rung động về cảm xúc chất hồn quê, sắc tộc Việt Nam…”.

Thang Tran Phenh anh 1

Chân dung cố họa sĩ Thang Trần Phềnh thời là sinh viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và khi ngoài 70 tuổi.

Còn nhớ, cuốn sách đầu tiên về Thang Trần Phềnh có tên Thang Trần Phềnh (1895 – 1972) của tác giả Ngô Kim Khôi – cháu ngoại của họa sĩ Nguyễn Nam Sơn ra đời năm 2018 đã thực sự góp phần quan trọng trong việc “giải mã” cuộc đời nghệ thuật tài hoa, độc đáo và lặng lẽ của cố họa sĩ Thang Trần Phềnh. Cuốn sách Thang Trần Phềnh – Hồi ký và tác phẩm vừa được Nhà xuất bản Thế giới ấn hành đã cho công bố hơn 20 trang ghi chép của họa sĩ Thang Trần Phềnh, được xem như một “hồi ký ngắn gọn” của ông về con đường và những năm tháng hoạt động nghệ thuật của ông (hồi ký đề ngày kết thúc ghi chép là 25/7/1967).

Theo đó, Thang Trần Phềnh (tức Trần Văn Bình, tự Đạt Siêu) có bố đẻ là ông Thang Thọ Ký người lai Trung Quốc, mẹ là Lê Thị Ngát người Việt Nam. Lúc còn nhỏ cậu bé Phềnh học với thầy đồ nho, lớn lên học chữ Pháp, đến năm 1910 vào học Trường Bưởi. Vốn yêu thích và có năng khiếu vẽ bẩm sinh, nên cậu sớm được cha mua giấy bút cho tự tập vẽ.

Trong những trang viết của mình, cố họa sĩ Thang Trần Phềnh tự thuật rằng, cuối năm 1910 cũng là lần đầu tiên trong đời vẽ một bức tranh thuốc nước lên giấy khổ 30x60cm đặt tên là “Chùa Trấn Quốc trong buổi hoàng hôn” bày ở Đấu xảo Mỹ thuật năm 1911 và được một người Pháp tên là Georges Bois mua ngay trong ngày khai mạc. Về sau, người này còn tìm đến nhà riêng đặt mua thêm 2 bức nữa.

Việc bán được tranh khiến cậu bé Trần Phềnh có thêm động lực để vẽ, trong nhiều năm liền tranh của cậu luôn được bày và đoạt giải trong các cuộc Đấu xảo Mỹ thuật và từng được ông Vũ Đình Long dành nhiều lời ca ngợi trong bài “Khảo về thủy họa” đăng trên “Nam Phong tạp chí” số 77.

Trong suốt những năm tháng hoa niên đó, Trần Phềnh đã tự học, tự mày mò để vẽ tranh lụa, tranh sơn dầu, tranh màu nước với bút pháp mới mẻ và đã nhận được rất nhiều lời tán thưởng của các họa sĩ cùng thời. Năm 1923, Thang Trần Phềnh đoạt giải nhất Triển lãm Mỹ thuật của Hội Khai trí Tiến Đức của người Việt Nam mở ra lần thứ nhất với 2 bức tranh lịch sử bằng sơn dầu là Hai Bà Trưng (khổ 0,9 x 1,2 m) và Phạm Ngũ Lão (khổ 70 x 94 cm).

Thang Tran Phenh anh 2

Một tác phẩm tranh màu nước của họa sĩ Thang Trần Phềnh sáng tác trong thời kỳ đi tản cư (1948).

Có thể nói, vào đầu thế kỷ XX khi nền mỹ thuật Việt Nam còn sơ khai, họa sĩ Thang Trần Phềnh đã nổi danh bậc nhất, với nhiều giải thưởng và những lời tán dương. Năm 1925 khi Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thành lập và chiêu sinh khóa đầu, ông và Tô Ngọc Vân đã đăng ký dự tuyển nhưng cả 2 đều… trượt. Việc một họa sĩ đã có danh tiếng như Trần Phềnh thi rớt kỳ tuyển sinh là một sự kiện gây chấn động dư luận thời bấy giờ. Nhưng đến kỳ tuyển sinh thứ 2 (năm 1926), cả ông và Tô Ngọc Vân đều đã đỗ và học chung khóa với những nhân vật nổi tiếng trong giới hội họa sau này như Vũ Cao Đàm, An Sơn Đỗ Đức Thuận.

Theo một số tài liệu đã được công bố, khá nhiều tác phẩm của Thang Trần Phềnh sau đó đã được gửi sang triển lãm và bán ở châu Âu. Hiện nay, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đang trưng bày 2 tác phẩm nổi tiếng của ông là Phạm Ngũ Lão (sơn dầu, 1923) và Chân dung phụ nữ Lào (sơn dầu, 1927). Ngoài ra, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cũng là nơi lưu giữ khoảng 60 bức vẽ tĩnh vật, ký họa bằng mực nho, mực nước (phần lớn khổ 13x18cm), chủ yếu được sáng tác trong giai đoạn từ 1947 đến 1955.

Nhà nghiên cứu mỹ thuật Quang Việt cho rằng: “Nếu không kể trường hợp của họa sĩ Lê Văn Miến thì có nhiều lý do để cho rằng ở nước ta, Thang Trần Phềnh là họa sĩ đầu tiên vẽ tranh bằng chất liệu sơn dầu châu Âu và sớm giành được sự công nhận rộng rãi, thậm chí là sự công nhận của cả giới trí thức, giới tinh hoa đương thời. Trong thời gian học Trường Mỹ thuật, ông cũng là một trong số ít họa sĩ Việt Nam đầu tiên vẽ tranh lụa và thể hiện tác phẩm trang trí bằng chất liệu sơn mài, cũng như đã tham gia nhiều triển lãm quan trọng trong và ngoài nước…”.

Tuy nhiên, sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, dường như họa sĩ Thang Trần Phềnh đã chọn đi một lối riêng mình, đó chính là con đường gắn bó với mỹ thuật sân khấu. Cũng theo những trang tự thuật của ông, năm 1912 khi được xem trang trí tranh cảnh của một đoàn Tân kịch Trung Quốc sang diễn ở Quảng Đông hội quán Hàng Buồm, ông đã có ấn tượng mạnh mẽ đến nỗi về nhà nghiền ngẫm vẽ ra một bức sơn dầu lên vải dày thành một bức phông 2,4 x 3 m, “vẽ một con đường đi vào trong vườn, một bên có nhà lá, một bên có rào cây, gần đó có vườn cây thấp, xa xa có viễn cảnh”.

Có lẽ đây chính là tác phẩm mỹ thuật trang trí sân khấu đầu tay của ông, đánh dấu sự “chạm ngõ” và lựa chọn con đường dấn thân của ông với mỹ thuật sân khấu sau này. Ông cũng chính là viên gạch đầu tiên cho nền mỹ thuật sân khấu thuần Việt sơ khai của nước nhà.

Những năm sau đó, Trần Phềnh vừa vẽ tranh chơi bán, vừa vẽ bối cảnh cho các sân khấu như Sán Nhiên Đài, rạp Quảng Lạc, Nhà hát Lớn Hà Nội – Hải Phòng, Kinh Kỳ hí viện, rạp Kim Chung… Đến năm 1932, Thang Trần Phềnh lập ra Đoàn ca kịch Đồng Ấu lấy tên là “Ban hát Mỹ thuật Đồng Ấu” (gọi tắt là ban hát Trần Phềnh). Sau một thời gian tập luyện, ban hát đã đi biểu diễn lưu động khắp nơi trong suốt hơn 10 năm (từ 1932 đến 1943) với 7 vở diễn nổi danh một thời như: Tam hoàng tử tranh hôn, Thất hiền quyến, Tống tửu Đơn Hùng Tín, Đức mẫu Thượng Ngàn, Đức mẫu Thoải, Kiều, Lã Bố hí Điêu Thuyền.

Với nghệ thuật trang trí sân khấu, ông có rất nhiều sáng tạo, đặc biệt là phương pháp nhìn “tứ cố” để người xem cảm thấy như được hòa vào, chuyển động cùng không gian ước lệ của vở diễn. Ông đã biết cách sử dụng ánh sáng từ đèn chiếu để tạo ra những hiệu ứng tích cực và hiệu quả thẩm mĩ cao từ các bức vẽ trang trí. Kỳ tài này của Trần Phềnh đã được giới mộ điệu sân khấu khi đó tán thưởng, nể phục.

Ghi nhận công lao to lớn của họa sĩ Thang Trần Phềnh với mỹ thuật sân khấu nước nhà, nhà nghiên cứu mỹ thuật sân khấu Đoàn Thị Tình nhận định: “Ở vai trò người mở đầu cho bộ môn nghệ thuật này và hoạt động trong đó suốt gần 50 năm, Thang Trần Phềnh vừa phải sáng tạo ra ngôn ngữ mà cũng vừa phải sáng tạo ra tác phẩm, từ phông màn, trang phục, hóa trang đến đạo cụ, ánh sáng.

Các ghi chép, nghiên cứu phác thảo sân khấu của ông, đặc biệt cho các vở diễn cổ hoặc có đề tài cổ còn giữ được đến ngày nay là một nguồn tư liệu, một cái vốn quý báu để lại cho hậu thế. Không chỉ có giá trị về mặt nghệ thuật, nhất là nghệ thuật trang trí sân khấu mà còn có nhiều giá trị trên phương diện sử học, dân tộc học, xã hội học, phong tục học thấm đẫm tinh thần và thẩm mỹ Việt Nam…”.

Nguồn: https://zingnews.vn/co-hoa-si-thang-tran-phenh-tai-hoa-va-doc-dao-post1351728.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Đọc sách là khoái cảm, viết văn là rèn giũa

Nguyễn Bình Phương cho rằng với người viết, giọng văn là trời cho, còn kỹ thuật thì phải rèn giũa. Kỹ thuật của một nhà văn sẽ chín dần qua từng tác phẩm.

van hoc duong dai anh 1

Được mệnh danh là gương mặt tiêu biểu của văn chương đương thời, Nguyễn Bình Phương là tác giả của nhiều tiểu thuyết, tập thơ ấn tượng. Ông hiện là Tổng biên tập của tạp chí Văn nghệ Quân đội, Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam.

Giữ nếp sinh hoạt đúng giờ của một quân nhân, hàng ngày, sau thời gian đi bộ buổi tối, ông dành 1,5 tiếng để đọc sách. Tác giả Một ví dụ xoàng chia sẻ về công việc viết lách và thói quen đọc sách của mình.

Trên thế gian này, chẳng điều gì biến mất

– Trong một tọa đàm do Viện Văn học và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức gần đây, các nhà phê bình nói ông là gương mặt văn chương tiêu biểu. Cảm xúc của ông ra sao?

– Nói không tự hào không phải, nhưng bảo tự hào lắm thì cũng không đúng. Sau mỗi lời khen là trách nhiệm, danh dự. Chỗ nào khen không đúng ta sẽ thấy sượng. Con người ta thường lúng túng trước lời khen. Lời chê thì dễ đối diện hơn.

Tôi thấy mình xứng đáng với một nửa những lời khen ấy thôi. Thiên hạ tài lắm, nhiều người viết hay lắm.

– Các tác phẩm của ông có đề tài đa dạng. Hẳn quá trình lên ý tưởng viết sách của ông được chuẩn bị kỹ lưỡng?

– Tôi khởi nguồn là người viết thơ, nên ý tưởng cũng mông lung và bất chợt. Khi nào ý tưởng dồn vào mình, cảm thấy nó ứ lên rồi thì ngồi xuống mà viết ra thôi. Nghĩ trong đầu vài chục trang đầu để lấy cớ nhập cuộc.

van hoc duong dai anh 2

Nhà văn Nguyễn Bình Phương. Ảnh: T.H.

– Ông thường nghĩ trước cấu trúc hay viết xong rồi mới sắp xếp lại?

– Đơn cử như cuốn Một ví dụ xoàng tôi viết xong phần đầu thì cấu trúc mới hình thành rõ và mới nảy ra phần hai. Nhưng viết xong cũng phải soát lại một chút. Như đoạn văn đầu tiên của cuốn sách thực ra tôi lại viết sau.

Một ví dụ xoàng viết về một vụ án. Trước đây chính tôi cũng đi xem xử bắn một ông tiến sĩ, để rồi vụ án ấy cứ lấn bấn trong đầu mà không trôi. Theo thời gian, tôi đọc những vụ án tử hình khác, một cách vô thức, câu chuyện hình thành trong đầu tôi. Tôi viết tác phẩm theo ý định kể về cái chết của một người nhưng từ góc nhìn của nhiều người.

Trên thế gian này chẳng cái gì biến mất, nó cứ lẩn khuất ở đâu đó. Mỗi người kể một điều về ông tiến sĩ, chính xác hay không chính xác, quan trọng là họ đã kể về một con người. Mấy người chê ông đó cũng chẳng sai, họ có góc nhìn của họ. Ai cũng có nhiều dị bản. Bản thân tác phẩm có nhiều dị bản, mỗi người có một cách hiểu. Tôi cũng có nhiều dị bản trong một ngày, trong một đời.

– Các nhà phê bình nhận định văn ông có phong cách đặc trưng không giống ai. Ông đã rèn giọng văn thế nào?

– Trời cho thôi. Trời quy định vậy chứ không ai rèn được giọng văn. Kỹ thuật có thể rèn được, còn giọng văn là cái sinh ra với ta, như một bản tính sẵn có.

Khi bắt đầu viết tiểu thuyết, cái khó nhất là tìm chất giọng. Có những cuốn mình viết 30 trang, thậm chí 70 trang mà chưa tìm đúng tông giọng của câu chuyện, mình phải bỏ đi.

Cái nhà văn có thể kiểm soát được là kỹ thuật. Các tác phẩm sau vẫn là chất văn như các tác phẩm trước, nhưng kỹ thuật thường sẽ chín hơn.

Tôi không có thần tượng nào cả, nên cũng không bị ảnh hưởng bởi ai. Độc giả đọc tiểu thuyết sẽ đọc cốt truyện; nhà phê bình đọc sách là đọc giọng văn; còn nhà văn khi đọc nhau sẽ đọc kỹ thuật viết hơn là tìm kiếm cốt truyện trong đó.

– Ông có cảm nghĩ gì khi sách của mình được dịch sang tiếng Anh và tiếng Pháp?

– Dịch thì tốt. Nhà văn viết ra đều muốn có bạn đọc. Tôi không phủ nhận là tôi thích tác phẩm của tôi được dịch.

Nhưng thành thực thì cũng có ẩn ức, khó chịu khi cầm tác phẩm dịch của mình mà không hiểu được, không biết đoạn này là đoạn nào trong đứa con tinh thần của mình.

van hoc duong dai anh 3

Một số tác phẩm của nhà văn Nguyễn Bình Phương. Ảnh: Minh Hùng.

“Đọc sách, ta như cây cỏ được chuẩn bị để nảy mầm”

– Ông hình thành thói quen đọc sách từ khi nào?

– Tuổi thơ của tôi có sách. Gia đình tôi không có truyền thống nghệ thuật, không phải gia đình đại trí thức nên không định hướng đọc cho con.

Khoảng những năm tôi học cuối tiểu học, nhà tôi ở Thái Nguyên chạy bom sang vùng Linh Sơn. Đó là căn nhà mái gồi có gác, ông cụ nhà tôi chất trên đó bao nhiêu sách, báo. Tôi cứ leo lên cái gác đầy bụi với mạng nhện, vớ gì đọc nấy.

Tôi nhớ có cuốn Những ngôi sao thành Eger mất bìa, trang sách xộc xệch rồi, tôi đọc mê man. Còn một tác giả Việt Nam khiến tôi ấn tượng là cuốn Nắng của Nguyễn Thế Phương. Mặc dù sách thiếu khoảng chục trang đầu, tôi vẫn thấy văn hay, cảm nhận văn học đúng nghĩa văn học.

Thời gian tôi đọc nhiều sách nhất là khi ở Quân khu 1. Có dạo, tôi trông thư viện ở Quân khu, đọc ở đấy chủ yếu là văn học trung đại. Khi học ở trường Viết văn Nguyễn Du, tôi đọc văn học hiện đại, văn học thế giới nhiều. Thư viện trường Viết văn Nguyễn Du, Thư viện Quốc gia là hai điểm đến quen thuộc của tôi.

– Từ thời điểm nào ông biết mình muốn theo nghiệp văn?

– Khi vào bộ đội, tôi làm nghề kẻ vẽ trong Quân khu. Lúc đó nhà thơ Đặng Vương Hưng đang học Viết văn Nguyễn Du về đưa mấy quyển thơ. Anh em bộ đội trong giờ nghỉ trưa ngồi với nhau bảo: “thơ này mình cũng viết được!”. Ông Hưng bảo: “Thế mày viết đi”, tôi mới viết rồi gửi về Hà Nội thì được đăng thật.

Nhà thơ Đặng Vương Hưng lại hỏi tôi viết văn được không. Thế là tôi viết truyện ngắn Chuyện tình nghe lỏm, được in ở báo Tiền Phong. Đó là tác phẩm văn xuôi đầu tiên. Hồi đó trẻ, hăng lên, các ông “xui” thì đâm đầu vào viết.

– Rõ ràng cơ duyên với nghiệp văn được chuẩn bị từ trước, qua thói quen đọc sách?

– Tất nhiên có. Mình đã thích đọc mới viết văn được. Đọc sách, mình như cây cỏ được chuẩn bị để nảy mầm.

– Đọc từ trẻ đến nay, có bao giờ ông chán sách?

– Ít khi. Nếu có việc gì tác động lớn đến mình thì tôi chán nản vài ngày, xong lại đọc tiếp.

Đọc sách là khoái cảm. Đọc xong một cuốn sách cảm thấy mình đã làm một việc tốt cho chính mình.

Nhà văn Nguyễn Bình Phương

Đọc sách là khoái cảm. Đọc xong một cuốn sách cảm thấy mình đã làm một việc tốt cho chính mình (chứ không phải cho thiên hạ). Rõ ràng đọc xong một cuốn sách còn hơn là không đọc. Ngay cả đọc xong một cuốn dở thì vẫn có ích, nó giúp mình biết, nhìn thấy cái dở.

Ngày có 24 tiếng, tôi chỉ đọc có 1,5 tiếng cũng không phải nhiều nhặn gì. Sợ nhất là không đọc, đầu không nghĩ.

– Dòng sách yêu thích của ông là gì?

– Ngoài văn học, tôi hay đọc sách nghiên cứu, sách sử, thi thoảng lại tìm khoái cảm trong việc đọc lại sách cũ… Đọc lại không phải để khám phá, mà như để nhắc lại trí nhớ mình về khu vực ấy, sợ sự kiện ấy tuột ra khỏi đầu.

– Theo ông, đọc sách giúp ích gì cho nhà văn?

– Đọc sách văn học sẽ nuôi dưỡng không khí văn chương cho tôi. Ít có nhà văn nào không thích sách.

– Ông có nghĩ người Việt nói chung thích đọc sách?

– Tôi thấy “máu văn chương” của người Việt chảy mạnh. Tôi đọc cuốn Lịch sử nhà tù Côn Đảo mới thấy các cụ nhà mình rất yêu văn chương nghệ thuật. Vào tù rồi vẫn viết kịch, dựng kịch, dịch sách, viết bài hát, tọa đàm văn học trong nhà tù.

Dân tộc ta có tư chất văn học. Vua làm thơ, tướng lĩnh làm thơ, tri thức, nông dân cũng làm thơ…

Nguồn: https://zingnews.vn/doc-sach-la-khoai-cam-viet-van-la-ren-giua-post1351529.html

Tiếp tục đọc

Xu hướng