Connect with us

Sách hay

Viết cho trẻ như một sự chữa lành

Được phát hành

,

Thông qua việc dạy những đứa trẻ cách trồng một cái cây và nhìn những ngôi sao trên đời, người cựu binh có thể tìm sự an ủi và chữa lành những chấn thương tinh thần.

Thung lung Dong Vang anh 1

Sách Thung lũng Đồng Vang. Ảnh: NXB Trẻ.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp từng nói: Sống dễ lắm, cứ nhìn vào mắt trẻ con mà sống! Có thể vậy nhưng viết về trẻ em và viết cho trẻ em thì chắc không dễ như thế. Bằng chứng là cho đến giờ, số lượng nhà văn của chúng ta viết cho trẻ em và viết cho trẻ em thành công không hề nhiều. Tất nhiên, có những nhà văn, nghiệp văn dành gần hết cho trẻ. Nhưng cũng có những nhà văn, viết cho trẻ em là một ngã rẽ hay là một chỗ thêm vào, có thể thành công, có thể không, bên cạnh một sự nghiệp cơ bản là viết cho người lớn.

Trung Sỹ thuộc dạng thứ hai này và tôi nghĩ, với anh, chuyện viết cho trẻ em còn khó khăn hơn nhiều nhà văn khác bởi lẽ anh bước thẳng từ thế giới của Chuyện lính Tây Nam, của Đội trinh sát và con chó Sara vào thế giới của những đứa trẻ Đồng Vang.

Từ thế giới của cái chết, của bạo hành, của sự tra tấn cùng cực tính người, anh bước thẳng vào thế giới của những đứa trẻ, đang lớn lên, ở một xóm núi, nơi những người Kinh và những người Tày sống cùng với nhau, nơi ngôi trường có mảnh vườn nhìn xuống dòng sông, nơi có những ngôi nhà năm gian giữa vườn nhãn bên cạnh những cánh đồng đậu tương kề bên rừng quế, rừng hồi, nơi mà ngày ngày, người dân chèo mảng sang bên kia sông, đi sâu vào núi, làm ruộng và đi rừng, nơi những đứa trẻ sau giờ học rong chơi ngoài đồng bãi, triền đồi và những dải bờ sông, suối. Tất nhiên, ở giữa hai thế giới ấy còn có một thế giới của Hà Nội, mũ rơm và tem phiếu.

Advertisement

Từ thế giới của cái chết bước vào thế giới trẻ thơ trong trẻo

Không được tạo nên từ những hồi tưởng như Miền thơ ấu hay Tuổi thơ im lặng, có thể nói, Thung lũng Đồng Vang của Trung Sỹ là một cuốn sách dành cho trẻ em thực sự, nghĩa là một cuốn sách dõi theo hành trình lớn lên và chớm trưởng thành của những đứa trẻ, ở đấy, nhà văn chấp nhận rời khỏi thế-giới-của-mình (dù là của-mình với tư cách một hồi tưởng) để bước chân vào thế-giới-của-trẻ.

Gói trọn trong khoảng thời gian khoảng gần một năm, từ mùa xuân năm trước đến Tết năm sau, cuộc hành trình đó được mở đầu bằng một hạt giống được gieo xuống, và nảy mầm, như một ẩn dụ. Trong một năm ấy, rất nhiều thứ cũng sẽ được gieo xuống và nảy mầm trong tâm trí của những đứa trẻ, những nhân vật chính của cuốn sách. Chúng sẽ ngắm nhìn cây cối đâm chồi và thay lá. Chúng sẽ học những bài học về thế giới xung quanh, thiên nhiên đẹp đẽ và thanh khiết, nơi có cá tôm, sâu bọ, chim chóc, cây cối và rất nhiều loài vật, chúng sẽ sống trong tình thầy trò và tình bè bạn, tình gia đình và tình hàng xóm.

Thung lung Dong Vang anh 2

Minh họa của Hồ Quốc Cường trong sách. Ảnh: NXB Trẻ.

Thung lũng Đồng Vang của Trung Sỹ đầy những trang rất đẹp về thiên nhiên và phong tục, về cuộc sống làng xóm và nhà trường. Anh viết rất hay về hình hài những con chuồn chuồn, về những con cá, về một bữa cỗ, về những thứ cây cỏ hoa lá tầm thường nhưng tuyệt đẹp trên những triền đồi và những bờ bãi. Thay vì làm giống không ít nhà văn là đẩy lũ trẻ vào một cuộc phiêu lưu nhiều khi hiểm nguy với một thế giới đầy những cạm bẫy thì Trung Sỹ chọn cách tạo nên một thế giới thuần khiết, trong sáng và nhẹ nhõm.

Tất cả phiền hà và dữ dội, những phức tạp và ẩn ức đều dừng lại ở ngưỡng của thế giới này. Có lẽ vì vậy mà không ít câu chuyện như câu chuyện của thầy giáo Thức, một gia đình có người ông mất năm 39 tuổi trong một chuyến thương hồ trên sông hay câu chuyện của ông Kiền, người cựu chiến binh với rất nhiều ẩn ức trong lòng cứ bị treo lại.

Ở một góc độ, đó là một sự dở dang nhưng ở một góc độ khác thì cái sự dở dang ấy lại tô đậm ranh giới của thế giới Đồng Vang, một thế giới mà những thứ phiền toái “người lớn” sẽ dừng lại không thể bước vào.

Advertisement

Không kì vĩ và đầy nguy hiểm như rừng rậm của Vũ Hùng, Đồng Vang của Trung Sỹ là một thế giới của những thứ bé nhỏ. Ngay đến con rắn trong vũ trụ của anh cũng là một thứ tuyệt đối vô hại. Những con giải khổng lồ hay những con hổ đêm đêm ngồi ngoài nhà sàn rình người chỉ còn là những câu chuyện của ký ức.

Đồng Vang như một đối âm với cái thế giới trong những tập sách của Trung Sỹ về cuộc sống của người lính ở chiến trường Campuchia. Ở cuốn sách cho trẻ em này, anh có một ý thức rất mạnh về mức độ và sự kiềm chế. Anh dựng lên một thế giới đẹp đẽ để lũ trẻ lớn lên bằng cách quan sát một cái hạt nảy mầm, những con cá bé nhỏ được câu về thêm vào bữa cơm hay những con chuồn chuồn đủ loại. Anh viết rất hay về một chuyến xe đêm trôi qua những vùng đất, với ánh đèn ngoài cửa sổ như đánh dấu từng phố trấn đi qua.

Dẫu vậy, Trung Sỹ không tuyệt đối hóa cái vũ trụ trong trẻo của những đứa trẻ. Có không ít thứ thuộc về cuộc đời xô bồ của người lớn cũng hiện hữu trong đó: một cái cửa sổ chắc thiếu một chút vật liệu nên rơi xuống giữa giờ học; một cô đồng lợi dụng ngôi miếu trên đồi để thủ lợi trên sự mê tín của dân chúng hay những con thuyền của đám người đêm đêm tàn sát cá trên sông bằng điện.

Tuy vậy, anh khéo léo hóa giải những thứ phiền toái ấy bằng một sự hài hước rất trẻ thơ và một cách cư xử rất “biết điều” của người lớn. Cũng chính cái nhìn thơ ngây và sự hài hước ấy làm cho những bài học đạo lý, những bài giảng văn chương, những câu chuyện ngụ ngôn về đời sống được đan cài trong truyện một cách rất nhẹ nhõm.

Đó là thử thách mà bất cứ người viết cho thiếu nhi nào cũng sẽ phải đối diện: tạo dựng lên một thế giới trong trẻo và đẹp đẽ như một giấc mơ nhưng vẫn phải là thế giới này, thế giới mà những đứa trẻ đang phải sống, đang phải chứng kiến với rất nhiều những điều không hề lí tưởng, không hề “màu hồng”. Trong cái thế giới ấy, những đứa trẻ vừa được lớn lên một cách tự nhiên, phải đối diện với những điều không hề đẹp đẽ và lý tưởng nhưng vẫn được chăm chút để giữ được sự thiện lương bẩm sinh.

Advertisement
Thung lung Dong Vang anh 3

Tác giả Trung Sỹ. Ảnh: FBNV.

Khởi đầu mới của nhà văn

Trong thế giới Đồng Vang của Trung Sỹ, giữa rất nhiều thứ dang dở, có hai thứ rất đặc biệt: bức thư người cựu binh định viết gửi hai đứa cháu và cây muồng hoàng yến được những đứa trẻ trồng trong vườn trường cạnh bến sông sau giờ sinh học.

Tất nhiên, hai thứ đó có quan hệ với nhau. Cây muồng hoàng yến được nảy mầm từ những hạt giống mà người lính mang về từ Campuchia. Những hạt giống ấy được trao lại cho bọn trẻ, được gieo xuống và nảy mầm trên một vùng đất xa lạ. Nó chứng kiến những lũ trẻ lớn lên cũng giống như người cựu chiến binh già thay thế bố mẹ chúng nuôi dạy chúng nên người.

Thung lũng Đồng Vang sẽ là một khởi đầu mới nhiều hứa hẹn của một người đã quá nhiều duyên nợ với chiến tranh.

Trong dòng chảy của câu chuyện, bức thư của người lính già chỉ là một chi tiết thoáng qua. Một buổi sáng mùa đông, ông viết những dòng chữ đầu tiên xuống cuốn sổ trắng, đầy khó khăn, cố hé lộ một cái gì phức tạp, một câu chuyện cuộc đời, một lịch sử của một gia đình mà có những điều còn chưa được minh bạch, một lịch sử mà nhiều khi người ta phải “tự đẽo gọt chân mình cho vừa giày”. Thế rồi bức thư bị bỏ dở. Đến hết cuốn sách người đọc cũng không còn biết thêm gì về nó, về câu chuyện mà người lính muốn gửi lại trong nó, cũng như cây muồng hoàng yến.

Bị ám ảnh bởi cái sự dở dang ấy, tôi đã nghĩ về Hemingway. Ở điểm khởi đầu của sự nghiệp văn chương, E. Hemingway viết một truyện ngắn báo hiệu nguyên lý tảng băng trôi của ông: Sông lớn có hai dòng (Big two-hearted river). Trở về từ địa ngục Thế chiến thứ nhất, một người lính tìm về thị trấn cũ, nơi đã bị hỏa hoạn tàn phá hoàn toàn, đi sâu vào đầm lầy và dòng sông, cắm trại và câu cá, tìm sự an ủi và chữa lành những chấn thương tinh thần bằng cách sống lại những thứ tầm thường nhất của một con người giữa sự an ủi của thiên nhiên hoang dã: cắm trại giữa đồng hoang, nấu một bữa ăn, bắt những con châu chấu và câu cá từ dòng nước lạnh.

Tôi tin rằng, ông Kiền, người cựu chiến binh của Trung Sỹ cũng đang cố tìm một sự chữa lành như thế, nhưng bằng một cách khác, không phải trong sự cô độc giữa những ký ức và thiên nhiên mà thông qua việc dạy những đứa trẻ cách trồng một cái cây và nhìn những ngôi sao trên đời, những điều, có thể sau này sẽ là vô bổ trong một thế giới thực tế đến tàn nhẫn của “người lớn” nhưng lại tuyệt đối cần thiết cho một tâm hồn lành mạnh.

Advertisement

Nhìn theo góc độ đó, sự dở dang của bức thư viết cho những đứa cháu, biết đâu, cũng là một nỗ lực. Nỗ lực để khép lại và bước ra khỏi ký ức và khởi đầu một cuộc đời khác, bằng gieo trồng và chờ đợi nảy mầm những hạt giống thiện lương trong tâm trí của những đứa trẻ.

Đồng Vang, biết đâu sẽ là một sự khởi đầu mới nhiều hứa hẹn trong tương lai của một người đã quá nhiều duyên nợ với chiến tranh.

Nguồn: https://zingnews.vn/viet-cho-tre-nhu-mot-su-chua-lanh-post1359970.html

Advertisement
Tiếp tục đọc
Quảng cáo
Nhấn vào đây để bình luận

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Sách hay

Hồi ký của anh hùng Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập

Được phát hành

,

Bởi

Cuốn sách “Việt Nam – Quê hương thứ hai của tôi” là những ký ức của Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập về cuộc chiến tranh cách mạng Việt Nam.

Kostas Sarantidis anh 1

Sách Việt Nam – Quê hương thứ hai của tôi.

tin trống

Cuốn hồi ký của Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập có tên nguyên gốc tiếng Hy Lạp là Lời chứng của một người Việt gốc Hy Lạp về cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam, được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp cùng Đại sứ quán Việt Nam tại Hy Lạp tổ chức lược dịch, xuất bản với tựa đề Việt Nam – Quê hương thứ hai của tôi.

Cuốn sách được xây dựng dựa trên cơ sở tư liệu hồi ức, nhật ký của Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập. Những câu chuyện, lời kể của Kostas Sarantidis đã được Hội những người Hy Lạp ở nước ngoài ghi chép, lưu giữ lại bởi “những trải nghiệm này của ông, có lẽ là duy nhất trên thế giới”.

Advertisement

PGS.TS Vũ Trọng Lâm – Giám đốc, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật – cho biết nhà xuất bản luôn chú trọng đến xuất bản sách phục vụ công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân nhằm góp phần tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị cùng phát triển giữa Việt Nam và các nước.

“Cuốn hồi ký Việt Nam – Quê hương thứ hai của tôi của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập là một trong những minh chứng rõ nét, tái hiện bức tranh đầy khốc liệt của cuộc chiến tranh cách mạng Việt Nam. Chân dung Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập hiện ra bình dị mà thấm đẫm khí phách của một anh hùng”, ông Vũ Trọng Lâm cho biết.

Cuốn sách cung cấp thêm tư liệu, góp phần giúp độc giả hai nước hiểu, trân trọng hơn lịch sử giữa hai dân tộc. Những người làm sách hy vọng góp phần củng cố, tiếp tục vun đắp và phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước Việt Nam – Hy Lạp, đồng thời mở ra triển vọng hợp tác ngày càng gắn bó, sâu sắc trong hoạt động xuất bản, phát hành sách và các hoạt động trao đổi, giao lưu văn hóa giữa nhà xuất bản và các tổ chức, cơ quan của Hy Lạp.

Kostas Sarantidis dù sinh ra ở Hy Lạp nhưng đã dành gần như trọn tuổi thanh xuân tham gia trong quân đội Việt Minh chống thực dân Pháp xâm lược. Chỉ bốn tháng sau khi đặt chân tới Sài Gòn, Kostas Sarantidis đã rời bỏ đội quân lê dương, đứng về phía người Việt Nam đang chiến đấu để giành độc lập, tự do.

Ra vùng tự do, ông gia nhập ngay hàng ngũ quân kháng chiến, lấy tên Việt Nam là Nguyễn Văn Lập, chính thức trở thành bộ đội Cụ Hồ vào tháng 6/1946. Năm 1949, ông được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam.

Advertisement

Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập được giao phụ trách nhiều công việc trong các đơn vị quân chính quy Liên khu 5, có mặt trong nhiều trận chiến đấu ác liệt ở khúc ruột miền Trung. Thời kỳ đầu làm công tác địch vận ở chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng, Nguyễn Văn Lập đã lập công xuất sắc, làm chương trình phát thanh vào đồn địch, cảm hóa được nhiều lính lê dương.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông tập kết ra Bắc và tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Việt Nam. Năm 1958, ông lập gia đình, sinh được bốn người con, tất cả đều lấy tên Việt Nam. Sau gần 20 năm ở Việt Nam, năm 1965 Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập trở về Hy Lạp và tiếp tục là cầu nối hữu nghị giữa hai nước Việt Nam – Hy Lạp.

Năm 2011, Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập được Đảng và Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Hữu nghị và cấp quốc tịch Việt Nam. Năm 2013, ông là người nước ngoài đầu tiên và duy nhất tới nay nhận được danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.

Đọc được sách hay, hãy gửi review cho ZNews

Bạn đọc được một cuốn sách hay, bạn muốn chia sẻ những cảm nhận, những lý do mà người khác nên đọc cuốn sách đó, hãy viết review và gửi về cho chúng tôi. ZNews mở chuyên mục “Cuốn sách tôi đọc”, là diễn đàn để chia sẻ review sách do bạn đọc gửi đến qua Email: books@zingnews.vn. Bài viết cần gửi kèm ảnh chụp cuốn sách, tên tác giả, số điện thoại.

Advertisement

Trân trọng.

Nguồn: https://znews.vn/hoi-ky-cua-anh-hung-kostas-sarantidis-nguyen-van-lap-post1447112.html

Tiếp tục đọc

Sách hay

Thế giới đa tầng trong thơ Nguyễn Quang Thiều

Được phát hành

,

Bởi

Trong tập thơ mới nhất, Nguyễn Quang Thiều chủ trương mở rộng đề tài, biên giới hiện thực và biên độ cảm xúc của thơ, đổi mới phương thức sáng tạo thơ.

Nguyen Quang Thieu anh 1

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và tập thơ Nhật ký người xem đồng hồ.

Đã có rất nhiều bài viết về Nguyễn Quang Thiều chủ yếu là nói về những đặc điểm về nội dung tác phẩm của ông, chúng tôi nghĩ một điều cần chú ý có thể nói là trước tiên và rất quan trọng đó là tìm hiểu quan điểm sáng tác của ông để từ đó có thể rút ra những vấn đề riêng lẻ khác về thi pháp trong các tác phẩm thuộc các thể loại mà ông tham gia.

Lẻ tẻ trong các phát biểu, bài viết đặc biệt trong các diễn ngôn xoay quanh tập thơ mới xuất bản Nhật ký người xem đồng hồ thì ông nói khá rõ về các quan điểm này. Những ý kiến xoay quanh các vấn đề: sáng tác là khôi phục lại ký ức, sáng tạo có quan hệ đến các giấc mơ, thơ có thể viết về bất cứ cái gì ở khắp nơi trong cuộc đời, hiện thực trong thơ khác với thông tấn của báo chí, nghệ thuật hướng đến cái đẹp…

Trong cảm nhận của chúng tôi, ông chủ trương mở rộng đề tài, biên giới hiện thực và biên độ cảm xúc của thơ. Hiện thực trong thơ có tính đặc thù. Đổi mới phương thức sáng tạo thơ. Chúng tôi thấy Nguyễn Quang Thiều có đổi mới trên các bình diện quan trọng của công việc sáng tạo nghệ thuật, từ đấy toát lên những điều chính yếu mà ít nhiều có khác với những quan niệm của một số người về thực trạng của việc viết lách bấy nay, những người mà ông cho rằng “Chính quan niệm đó làm nhà văn trở nên nghèo nàn và hạn chế”. Thơ ông khá mới, nền thơ nào muốn phát triển cũng cần những nhà thơ tiên phong đi trước dẫn đường cho đội ngũ và nâng cao trình độ nhận thức thẩm mỹ cho công chúng.

Advertisement

Phương thức sáng tạo của Nguyễn Quang Thiều khá đa dạng, chỉ riêng trên bình diện thi ca và cũng chỉ trong tập thơ mới này ta cũng không thể xếp tất cả vào cái khung có sẵn, chúng ta thấy ông cũng đã có gợi ý khi chia tập thơ thành hai: các bài viết về hiện thực gia đình, quê hương, thế sự thuộc phần 1- Nhật ký người xem đồng hồ; các bài giải trí ngẫu hứng thuộc phần 2- Hồ sơ tự khai của đồ vật có trong phòng. Ông chú ý nhiều đến chức năng thẩm mỹ của văn chương.

Có ý kiến cho rằng “Nguyễn Quang Thiều luôn đứng giữ những tranh cãi”. Không ít người cho rằng, nhiều bài thơ của ông chênh vênh giữa hai chức năng “nhận thức” và “giải trí”, những bài thơ nặng về hình ảnh kỳ lạ hơn là chiều sâu tâm lý, đa phần khó hiểu, ít xúc cảm. Bài viết này chúng tôi muốn góp thêm một vài cảm nhận về thơ ông nhân tập thơ Nhật ký người xem đồng hồ mới ra đời trong bối cảnh nền thơ Việt đang cố tạo một bước chuyển và không phải không có những phân vân trước thực tiễn mới.

Vấn đề nổi bật trước tiên là hiện thực trong thơ. Hiện thực thơ là hiện thực tâm trạng, nó khác văn xuôi nói chung đặc biệt là báo chí nói riêng, người ta thường ví như thế này: đời sống là gạo, văn là cơm, còn thơ là rượu, có nghĩa thơ là cái gì mơ hồ còn lại trên sự bay lên từ những cái vật chất cụ thể; có người thì nói cụ thể hơn, báo chí ghi lại đời sống hàng ngày, văn thì những sự kiện tiêu biểu, còn thơ thì ghi lại những dấu ấn trong tim.

Nói như vậy cũng có ý nghĩa tương đối toát lên một cái chung đó là thơ cũng phản ảnh hiện thực, phản ánh thế sự nhưng cái cách phản ánh của thơ nó khác văn ở chỗ một bên phản ánh hiện thực bằng cái hình hài cụ thể còn một bên phản ảnh bằng cái dấu ấn mà nó để lại trong tâm trạng, trong suy nghĩ.

Chỉ mấy câu thơ tâm trạng nhưng Chế Lan Viên đã khái quát được đầy đủ một thời kỳ, một xã hội mà nhà thơ đang sống: Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả / Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn! / Trái cây rơi vào áo người ngắm quả / Đường nhân loại đi qua bóng lá xanh rờn / Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ / Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn. (Tổ Quốc có bao giờ đẹp thế này chăng?), cũng chỉ một câu thơ Ngoài thềm rơi chiếc lá đa / Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng (Cây) của Trần Đăng Khoa, thể hiện cái vẻ đẹp của làng quê Việt, tình yêu con người với thiên nhiên đặc biệt từ cái linh hồn tạo vật qua xúc cảm tinh tế của tác giả đã thể cuộc sống ung dung thanh thản của con người Việt Nam trong chiến tranh… Hiện thực trong thơ là hiện thực tâm trạng, là cái bóng của hiện thực ngoài đời là vậy!

Advertisement

Thơ của Nguyễn Quang Thiều xoay quanh các chủ đề chính mà ý nghĩa hiện thực, màu sắc thế sự cũng như thái độ tích cực của ông bộc lộ rất rõ. Đó là những hiện thực tâm trạng được thể hiện qua tình yêu quê hương xứ sở, là tình yêu gia đình, tình yêu đối với cái đẹp, sự phê phán cái ác, cái xấu… Những nội dung được thể hiện bằng một lối nói mới mẻ, ông thường sử dụng lối kết cấu phi tuyến tính cùng cách xây dựng hình tượng giàu yếu tố siêu thực cho đến nhạc điệu tự do, ngôn ngữ tạo sinh…, luôn tạo một dấu ấn khác lạ trong tiếp nhận của bạn đọc.

Nhà thơ của Xứ Chùa cổ kính mang nặng những nỗi niềm về cảnh và người nơi mình sinh ra. Quê hương là một cảm xúc lớn thường xuyên trong các tập thơ ông. Bài thơ Lễ tạ (Châu thổ), một bài thơ triết lý sâu xa về quê hương, tứ bài thơ xoay quanh hai biểu tượng hồ nước và con đường. Con đường từ đất quê ra đi, để mong tìm được những giải đáp nhân sinh, tìm được con đường mơ ước, nhưng để rồi câu giải đáp lại ở chính nơi đất quê, nơi “hồ nước cũ” từ đó anh ra đi! Chính cái triết lý giản dị mà sâu sắc này bao nhiêu thế hệ suy tư, xúc cảm. Cám ơn đất quê đã dạy ta bao điều trong cuộc sống để ta trưởng thành. Lễ tạ là lời tạ ơn của con người đối với quê hương, với cha ông.

Cảm nhận về quê hương trong tập thơ mới có khi gián tiếp xa xôi nhưng nồng nàn sâu lắng: Bầu trời rộng lớn / Đang nở mùa pháo hoa / Muôn màu rực rỡ /… Có những người lặng lẽ / Đi dưới cánh đồng pháo hoa / Trong lòng họ cũng đang nở / Một mùa hoa.. (Âm bản).

Và lan tỏa trong tình yêu quê hương là Mẹ – hình ảnh tiêu biểu thân thương nhất Áo xưa mẹ vẫn còn đây / Đêm đêm con mặc vào ký ức (Thư gửi mẹ), là Cha: Cha đã qua tuổi sáu mươi mỗi ngày con lại thấy / Cha gần hơn với chân trời… và lại thấy xa con hơn một chút / Trong không gian số phận những con đường (Cha về trong áng mây bay), là tình yêu đứa cháu nhỏ: Siêu nhân, tàu hỏa, khủng long… / Những đồ chơi của cháu không bao giờ có tuổi / Chỉ có một đồ chơi của cháu / Mỗi ngày một già / Và thi thoảng tỉnh giấc / Nằm nhớ chủ nhân của mình / Đang ngủ ở tầng trên (Đồ chơi của cháu nội). Cùng với một tình cảm đồng loại chân thành tha thiết: Dưới tán cây chiều nay hai người im lặng / Những hạt cây xếp bên nhau chuẩn bị khai mùa / Và bầy chim mỏ ngà từ trời xanh đậu xuống / Tán cây vàng / Nhặt họ / Bay đi (Những hạt cây).

Cảm xúc lớn về sự đa dạng đời sống nổi lên khá đậm trong thơ ông cũng như trong quan niệm thẩm mỹ về thi ca mà nhiều lần ông nói đến. Nhật ký người xem đồng hồ của Nguyễn Quang Thiều trình bày cho ta nhiều mảng màu đời sống. Ông viết về những người thân trong gia đình ông bà, cha mẹ, các con cháu, ông viết về bạn bè, những người quen trong làng xóm, những người chồng, người vợ đã mất con, người điên chạy trong đêm tối, ông viết về cố hương và cả những miền đất lạ, ông viết về những cánh đồng và mùa màng ở nông thôn thời đổi mới, ông viết về cuộc sống thường nhật và cả trong những giấc mơ…

Advertisement

Những hình tượng đan xen nói nhiều đến đời sống cộng đồng trong tập thơ này, từ những ô cửa sổ, những dòng sông, những con cá, những con chim, những đám mây, chuyến đò ngang, những cánh đồng, phiên chợ chiều… đến các em bé, các bà mẹ, Tất cả đều là những biểu hiện của sự sống, họ sống hết mình trong cuộc sống với nhiều va đập nhưng tràn đầy nhân ái, lạc quan, kể cả trước chết chóc, mất mát.… Và một người mở cửa / Cười trong hoa góc vườn / Ngôi nhà vừa nhóm lửa / Mùa đã về reo vang” (Người mở cửa buổi sáng).

Những bài thơ như những bức tranh minh họa rõ nét cho chủ đề Cái đẹp – một cảm xúc nhân văn đa dạng trong một thế giới đa chiều – không phải ở những hội hè, những thành tựu mà chính ở những vất vả, gian truân mà con người âm thầm vượt qua số phận để tồn tại. Tất cả là một tập đại thành về cái thế giới hiện hữu vận động và tồn tại… Đó là cái đẹp của thế giới trong cảm quan nhân văn Nguyễn Quang Thiều mà ông nhiều lần nhắc đến.

Về hình thức nghệ thuật, khuynh hướng nổi bật cách tân ở thơ Nguyễn Quang Thiều tạo một đổi mới đập vào cảm quan người đọc, thoáng qua là cách nói, là sự biểu cảm ngôn ngữ một cách mới lạ trên phương diện cú pháp cũng như từ vựng các nhà nghiên cứu đã nhắc đến.

Nhưng chiều sâu căn bản, theo chúng tôi, trầm tích bên dưới những hình ảnh khác lạ, ngôn ngữ tân kỳ là thủ pháp sáng tạo có sắc màu hư ảo siêu thực tạo sự khác lạ đầy tinh thần duy mỹ, trong chừng mực đã có một sự găp gỡ về lối “cảm nhận huyền ảo” giữa văn học truyền thống dân tộc và phương Tây hiện đại.

Ta bắt gặp các hình ảnh thật lạ trong các câu thơ: …Hai cánh tay đưa lên / Hai cành cây đang mọc…/ Gương mặt thì mở ra / Hoa đang nở trái mùa / Trên cánh đồng đầy tóc (Phạm Long Quận….) hay: Thịt da như là quả / Ngọt dần trong tiếng người /…Chăn gối tan như sương / Người đàn bà ngủ muộn…(Dậy muộn), hoặc là:

Advertisement

Khi đôi mắt Kya mở ra / Bầu trời ngập tràn ánh sáng / Khi giọng Kya vang lên / Trong các vòm cây chim hót / Khi tay Kya xòe ra / Những cánh đồng hoa bùng nở / Và khi Kya ngậm bầu bú mẹ / Có những dòng sông ngủ quên trong đất / Gió thức dậy và tuôn chảy…” (Ngày Kya ra đời).

Nguyễn Quang Thiều, theo chúng tôi, ở một phương diện nào đó đã dung hợp những yếu tố hư huyễn có sẵn trong truyền thống thẩm mỹ dân tộc, điều mà chúng ta cảm nhận rõ là cái quan niệm “vạn vật hữu cảm”, “vạn vật hữu linh” trầm tích ở các tranh khắc, ở các phù điêu nơi đình chùa cũng như trong thơ ca dân gian với các thủ pháp nghệ thuật lạ hóa siêu thực khá phổ biến của nghệ thuật phương Tây hiện đại! Nó tô đậm vóc dáng hình tượng trong thơ cũng như tranh của ông.

Thơ ông khá mới, nền thơ nào muốn phát triển cũng cần những nhà thơ tiên phong đi trước dẫn đường cho đội ngũ và nâng cao trình độ nhận thức thẩm mỹ cho công chúng. Tuy nhiên cái mới, cái đẹp nó khác cái xa lạ với thị hiếu thẩm mỹ công chúng! Cái mới chỉ thực sự có giá trị khi được công chúng tiếp nhận, rung động được trái tim công chúng.

Đúng là trên mặt đất nơi nào cũng có thơ “đại địa văn chương tùy xứ kiến”, cụ Nguyễn Du đã nói thế, nhưng không phải một cảm hứng bất chợt nào cũng là thơ, như câu thơ ông viết …Và trên một đám mây ngũ sắc / Làm bằng quần áo và khăn / Một người đàn ông và một người đàn bà / Làm tình cả khi đã chết (Mây ngũ sắc), có thể mải mê với cái lạ mà tác giả quên cái “gu” thẩm mỹ của công chúng, hay như lời mở của tập thơ: Những bài thơ tôi viết trong tập thơ này để xác lập tôi trong thời khắc ở không gian của tôi và chỉ vừa chứa đủ tôi mà không có khả năng thêm một ai vào đó nữa. Cùng lúc đó bạn xác lập bạn ở một không gian khác trong cùng một thời khắc với tôi. Chúng ta luôn bình đẳng và luôn khác biệt. Chỉ với tinh thần ấy chúng ta mới có thể xác lập được nền độc lập của mình”.

Tác giả nghĩ đề cao “sự độc lập” trong sáng tạo “xác lập tôi trong thời khắc ở không gian của tôi và chỉ vừa chứa đủ tôi” sẽ tạo giá trị của tác phẩm nhưng liệu có thể có sự độc lập trong các sản phẩm tinh thần nhất là văn chương đặc biệt như trong một không gian xã hội dân chủ đầy tính cộng đồng như văn hóa chúng ta hay chỉ tự cô lập hóa thơ mình! Thơ phải tìm đến tâm hồn đồng điệu, tìm đến với công chúng mới có sức sống! Các thi bá xưa nay đều mong thơ mình đến các hang cùng ngõ tối, người ta chỉ cần biết thơ mà có thể quên tên tác giả.

Advertisement

Tiếp cận nghệ thuật Nguyễn Quang Thiều, ta như vừa trải nghiệm một thế giới đa tầng đa phương, một vũ trụ nhân sinh chứa đựng nhiều phức điệu của cuộc đời và con người, xen lẫn những nghịch lý và phi lý. Trên cái nền hiện thực đời sống nhà thơ gửi gắm đức tin vào cái đẹp của cuộc đời.

Đó cũng chính là nét triết lý nhân sinh trầm tích bên dưới các tác phẩm của ông, cái điều mà thế kỷ trước trong sự nhiễu nhương của cuộc sống nhà văn nổi tiếng F. Dostoyevsky (1821- 1881) đã nói “Cái đẹp cứu rỗi thế giới”. Đó chính là giá trị hiện thực và cách tân của thơ ông.

Đọc được sách hay, hãy gửi review cho ZNews

Bạn đọc được một cuốn sách hay, bạn muốn chia sẻ những cảm nhận, những lý do mà người khác nên đọc cuốn sách đó, hãy viết review và gửi về cho chúng tôi. ZNews mở chuyên mục “Cuốn sách tôi đọc”, là diễn đàn để chia sẻ review sách do bạn đọc gửi đến qua Email: books@zingnews.vn. Bài viết cần gửi kèm ảnh chụp cuốn sách, tên tác giả, số điện thoại.

Trân trọng.

Advertisement

Nguồn: https://znews.vn/the-gioi-da-tang-trong-tho-nguyen-quang-thieu-post1447115.html

Tiếp tục đọc

Sách hay

Nàng dâu viết về những món ăn mang mùi vị nhớ thương

Được phát hành

,

Bởi

Nhà văn Nguyễn Mỹ Nữ chia sẻ lý do chị viết tập tản văn nói về những món ăn dân dã Bình Định – những món ăn mang mùi vị nhớ thương – là vì mẹ chồng.

Thương quá Nục ởi! là tập tạp văn mới và cũng là cuốn sách thứ 11 của nhà văn Nguyễn Mỹ Nữ. Tập sách gồm 50 bài viết kể về câu chuyện xoay quanh những món ăn thấm tình đậm vị quê mà tác giả gắn bó qua suốt bao nhiêu năm khi làm dâu đất Bình Định.

Nhà văn Nguyễn Mỹ Nữ vốn là người gốc Bắc (quê Hà Nam), chào đời ở Quảng Ngãi và gắn bó với thành phố biển Quy Nhơn từ hồi còn rất nhỏ. Sau chị nên duyên cùng chồng và tiếp tục gắn bó với vùng đất này qua bao nhiêu năm tháng, như một bến đỗ cuộc đời vậy.

Thương quá nục ởi! được Nguyễn Mỹ Nữ gom góp và sắp xếp lại từ rất nhiều bài viết từng xuất hiện trên các trang báo trong nhiều năm cũng như để ghi dấu 35 năm làm dâu Bình Định của mình.

Advertisement

Ở đó, không thể thiếu những món ngon của má chồng yêu quý mà giờ đây chỉ có thể nhớ trong tâm trí với tình yêu thương, trân trọng. Có thể kể đến những món như bánh xèo ở Tam Quan, vỏ bánh trắng tinh được đổ xèo xèo trong khuôn tròn nhỏ trên bếp than đỏ lửa, vỏ mỏng giòn chấm mắm đục (Xèo xèo… vỏ).

Hay món ăn làm mồi lai rai không gì sánh bằng, tai heo sần sật và bùi bùi của thính, thơm của riềng và tỏi, cay cay của tiêu… bó trong lá ổi, lá chuối ngoài cùng là rơm được bó lại, dân dã (Xù xì cây tré xứ này).

Hay món mắm cua làm cho người ăn từ ưa tới ghiền, thật khó diễn tả, có thể là mắm cua kho xôi xổi với sắn hay đậm đà hơn là có thêm cá rô và mỹ vị hơn nữa là thịt ba chỉ kho trên bếp lửa liu riu.

mui vi nho thuong anh 1

Sách Thương quá nục ởi!. Ảnh: Q.M.

Hay món mắm mặn mòi khó quên mà tác giả miêu tả: “Còn nữa chứ! Mắm quê sao có thể đậm đà ý nghĩa, khi không được thưởng thức cùng những người thân khi trời bỗng đổ mưa. Mắm, những hồi đó, đã như thể là chất keo dính kết tình nghĩa gia đình”.

Nhắc tới mắm là nhớ đến chuyện nhờ mắm mà tác giả cùng chồng nên duyên nhờ món ăn dân giã này, thuở đôi mươi. Món mắm cá mương sông Côn – một món ăn cải thiện đời sống thời còn khó khăn – đã gắn kết đôi lứa yêu nhau, thành chồng thành vợ cho đến ngày nay (Thập cẩm… mắm).

Advertisement

Hay là món mứt với nhiều thứ nguyên liệu ít tiền – bình dân như mứt dừa, mứt bí đao, mứt me.. tới sang hơn là mứt hạt sen, mứt mãng cầu, mứt hồng… được chuẩn bị trước. Món mứt thập cẩm là khúc biến tấu hòa trộn của vụn vặt còn lại các loại mứt trên thêm một chút gừng, cà chua, thơm, bí đao… trộn đều vào chậm rãi mà rim (Mứt xà bần).

Hay món ngon gắn liền với cá nục kho sền sệt, nấu canh lá giang, cháo cá, cá chiên chấm nước mắm chua ngọt xoài bằm, canh cá nục kho giằm giằm trái sấu, cá nục hấp nguyên vị để cuốn bánh tráng ăn (Thương quá nục ởi!).

Hay là món “ruốc” làm cho bữa cơm gia đình rộn vui, tiếng bẻ bánh tráng nướng rồm rộp để xúc ruốc, canh ruốc, gỏi ruốc, ruốc xào, ruốc kho, bánh xèo hay bánh căn có ruốc… là món ăn khiến chúng ta bồi hồi một cách dịu êm.

Và còn rất nhiều món quê gây thương nhớ như: cá chuồn kho mít non, bún quậy với tôm hoặc rạm, bánh nổ, chè kho, xu xoa, bánh tráng nướng, bánh rế, món ngon với con nuốt, các loại thịt thưng, mít non trộn gỏi, chả ram, chả ốc, chè ỉ nóng thơm lừng, gié đắng cùng rượu nồng …

Nhà văn Nguyễn Mỹ Nữ chia sẻ lý do viết tập sách này là vì mẹ chồng chị: “Còn má, nào chỉ đơn thuần là má chồng tôi. Bởi chúng tôi đã yêu thương gắn bó và thân thiết với nhau quá chừng. Khi má hãy còn, viết về má, tôi cười. Má đi xa, viết cho má, lòng tôi run khựng… Cảm xúc ấy, tôi vẫn bắt gặp trong suốt những lần viết đi viết lại, chỉnh sửa tới lui cho tập sách này”.

Advertisement

Đọc được sách hay, hãy gửi review cho ZNews

Bạn đọc được một cuốn sách hay, bạn muốn chia sẻ những cảm nhận, những lý do mà người khác nên đọc cuốn sách đó, hãy viết review và gửi về cho chúng tôi. ZNews mở chuyên mục “Cuốn sách tôi đọc”, là diễn đàn để chia sẻ review sách do bạn đọc gửi đến qua Email: books@zingnews.vn. Bài viết cần gửi kèm ảnh chụp cuốn sách, tên tác giả, số điện thoại.

Trân trọng.

Nguồn: https://znews.vn/nang-dau-viet-sach-nhung-mon-an-mang-mui-vi-nho-thuong-post1447062.html

Advertisement
Tiếp tục đọc

Xu hướng