Connect with us

Tác giả

Những người viết trẻ tự sự về quá khứ

Được phát hành

,

Quá khứ, lịch sử xa xôi, bất khả vãn hồi, trong nhiều trường hợp là không sao nắm bắt được nữa, đã và đang tạo thành lực hấp dẫn rất mạnh với một lớp người viết trẻ ngày hôm nay.

“Những người viết trẻ tự sự về quá khứ”. Nhưng ở đây tôi không đề cập quá khứ cá nhân hay lịch sử đời tư của họ, mà tôi muốn nói đến quá khứ của đất nước, quá khứ của dân tộc, như là đối tượng hay chất liệu để những người viết trẻ hình thành tự sự nghệ thuật của mình. Hoặc theo cách diễn đạt đã có phần quen nhàm: viết về đề tài lịch sử. Chính cái đó, cái quá khứ/lịch sử xa xôi, bất khả vãn hồi, trong nhiều trường hợp là không sao nắm bắt được nữa, đã và đang tạo thành lực hấp dẫn rất mạnh với một lớp người viết trẻ ngày hôm nay.

Vài năm trước, trong văn chương Việt Nam đương đại đã có một tập truyện ngắn lịch sử khá ấn tượng là Con chim phụng cuối cùng của Nguyễn Thị Kim Hòa, gồm 9 truyện; có tập truyện ngắn Xác tín mùa của Trần Quỳnh Nga, với 6 trên 19 truyện là truyện lịch sử; có tiểu thuyết Mộ phần tuổi trẻ của Huỳnh Trọng Khang, lấy bối cảnh lịch sử là Sài Gòn trong chiến tranh. Riêng trong năm 2021 vừa qua, đọc nhanh cũng có thể gọi ra được tên vài tác phẩm thuộc loại này: tiểu thuyết Vua Thành Thái của Nguyễn Hữu Nam, tiểu thuyết Nắng Thổ Tang của Đinh Phương, tập truyện ngắn Chuyến bay tháng ba của Lê Khải Việt.

Tieu thuyet lich su anh 1

Tiểu thuyết Vua Thành Thái của Nguyễn Hữu Nam, theo tôi, vẫn là tiểu thuyết về một “lịch sử xa”, tức lịch sử của những vương triều quân chủ chuyên chế, với những ông vua bà chúa hoặc rực rỡ uy quyền trên ngôi báu, hoặc lầm lụi buồn thương khi tàn cuộc. Nhà nghiên cứu Thái Phan Vàng Anh từng nhận định: “Với 13 chương, 13 mảnh ghép của vô vàn sự kiện, tình huống được tháo tung, xáo trộn, gắn với các mảnh không gian, thời gian rời rạc, phi tuyến tính, tiểu thuyết Vua Thành Thái của Nguyễn Hữu Nam đã đưa người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác trong khám phá về số phận của một nhân vật lịch sử sống trong bóng tối nhưng không đen như bóng tối, cuốn người đọc vào cuộc giải mã những ẩn uất, khoảng khuất phận đời trầm luân như một vết cắt ấn tượng giữa dòng lịch đại”.

Thật ra, cái đáng đọc nhất, cũng như toàn bộ sự hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết lịch sử này không nằm ở “cái được viết”, mà nằm ở “cái viết”. Bởi vì, những biến cố lớn trong cuộc đời của Thành Thái, vị hoàng đế thứ mười của triều Nguyễn, ta đều có thể đọc được trong các sử liệu cũng như trong những giai thoại dân gian truyền tụng về ông, mà khi viết tiểu thuyết Vua Thành Thái, Nguyễn Hữu Nam đã sử dụng lại hết và hầu như không thêm vào cái gì mới.

Advertisement

Từ việc hoàng tử Nguyễn Phước Bửu Lân lên ngôi, trở thành một vua Thành Thái có tinh thần cấp tiến, ham học hỏi, đa tài, và nhất là thái độ chống đối, ý chí bất tuân phục sức mạnh áp chế của thực dân Tây phương, đến những câu chuyện về vị vua giả danh “tầm gái” để bí mật thành lập đội nữ binh, lấy cớ vẽ chân dung để thực hiện những bản thiết kế vũ khí chống Tây, rồi việc nhà vua giả điên và bị người Pháp ép phải thoái vị, bị đày ra đảo La Réunion, thành phố Saint-Denis, để sống cuộc đời một phế đế, sống và nuôi gia đình mình bằng lao động chân tay thuần túy chứ quyết không nhận bất kì ân huệ nào của chính quyền thực dân, rồi cuối đời mới được hồi hương, chết trong bệnh tật và nghèo khó trên đất đai xứ sở…

Tất cả đều có đó, sẵn đấy, và việc của nhà tiểu thuyết là nhào nặn chúng, tháo và lắp, khi thì đặt chúng trong điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba số ít, lúc lại phát lộ chúng trong điểm nhìn của người kể chuyện xưng “tôi”, là hoàng tử Vĩnh Giu, một nhân chứng sống cho giai đoạn phế đế của cựu hoàng Thành Thái. Và tạo những điểm nhấn trội bật trong tính cách của nhân vật, là tài hoa và hùng khí.

Tài hoa của một vị hoàng đế tinh thông và đầy đam mê với nghệ thuật, nhất là nghệ thuật tuồng cung đình: tài hoa đến mức có thể nhập tâm để sống cùng, đến tận độ, cái dị biệt của người nghệ sĩ biểu diễn. Hùng khí của một vị hoàng đế khắc kỉ là không bao giờ chấp nhận thỏa hiệp với kẻ địch, coi ngai vàng như cái gông cùm đế vương mà mình phải mang suốt đời, dù tại vị hay khi phải sống kiếp lưu đày. Bi kịch của nhân vật vua Thành Thái là ở đó: bi kịch của sự kiêu hãnh vô song trong thân phận lầm lụi, bi kịch của những mệnh lệnh đạo đức nhất quyết phải thực hiện trong một thế giới đã đổ nát và không còn thuộc về mình. Cái nhìn xoáy vào lịch sử của Nguyễn Hữu Nam trong tiểu thuyết Vua Thành Thái là như thế.

Về tiểu thuyết Nắng Thổ Tang của Đinh Phương, bản thân tôi đã viết một tiểu luận có tên “Viết lịch sử, trường hợp Đinh Phương” (báo Văn nghệ, số 3, ngày 15/1/2022) nên ở đây chỉ nhắc lại vài ý. Thứ nhất, trở đi trở lại với hai cái mốc thời gian quá khứ là năm 1930 và năm 1954, nhưng Đinh Phương dường như không quan tâm đến những diễn giải lịch sử theo định hướng chính thống quen thuộc, mà bị hút vào những “lịch sử khác”, những lịch sử ít được nói đến, và kể những câu chuyện của mình bằng cách neo bám, vờn quanh những lịch sử ít được nói đến ấy, để tạo cho tác phẩm một vi khí hậu văn hóa “giả lịch sử” đậm đặc.

Tieu thuyet lich su anh 2

Ví như, với năm 1930, Đinh Phương kể những câu chuyện xoay quanh sự kiện 13 lãnh tụ Quốc dân đảng bị chặt đầu tại Yên Bái […]. Hay như, với năm 1954, những câu chuyện Đinh Phương kể liên quan rất ít đến chiến thắng Điện Biên Phủ của quân đội Việt Minh, mà lõi của nó chính là cuộc di dân lớn chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam, theo chiều từ Bắc vào Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm đường phân giới. Và hai cái mốc thời gian quá khứ ấy lại không hề chia tách với hiện tại, chúng luôn bị hút vào nhau theo những cách quỷ quyệt nào đấy.

Các nhân vật cũng vậy, dù người xưa hay người nay, đều được nối với nhau bằng vô vàn liên hệ kì quặc và không nhân vật nào bị bật ra ngoài. Thứ hai, tự sự về quá khứ trong Nắng Thổ Tang của Đinh Phương có sử dụng kĩ thuật siêu hư cấu – nói ngắn gọn, như Patricia Waugh từng chỉ ra trong công trình nghiên cứu Siêu hư cấu của bà (Phạm Tấn Xuân Cao dịch): siêu hư cấu là để cho nhà văn kể một câu chuyện khác trong lòng tiểu thuyết – và với kĩ thuật này, qua chi tiết hai cuốn sổ bìa da màu xanh, Đinh Phương đã dựng lên một nhân vật đóng giả linh mục, kẻ hằng muốn “men theo các đường biên, đi giữa lằn ranh của các cuộc di chuyển lớn”, chỉ để hiểu nó.

Advertisement

Bằng những gì mà anh ta ghi chép trong hai cuốn sổ, cuộc di dân 1954 đã hiện lên như một cơn li loạn tơi bời, với đủ trộm cắp, lừa đảo, cướp giật, bất hiếu, cưỡng dâm, hủ hóa, giết người. Bất cứ ai cũng không đáng tin. Bất cứ một kẻ nào cũng phạm cái ác. Cộng thêm với hai từ khóa “phản bội” và “giết người” trong những câu chuyện được kể quanh cái mốc năm 1930 nữa, Đinh Phương đã biến quãng thời gian quá khứ từ 1930 đến 1954 thành cả một thế giới đảo điên trong sự ác, thậm chí có những sự ác được vinh thăng nhờ kĩ năng giết người ghê gớm của nó, ví như cái nghề đao phủ mà tác giả đã dành tương đối câu chữ để mô tả.

Nói chung, với tiểu thuyết Nắng Thổ Tang, người viết trẻ Đinh Phương ít nhất đã làm được một việc: nhấn sâu hơn nữa niềm tin xác quyết rằng tiểu thuyết lịch sử không phải là kể chuyện lịch sử, cũng không quá nệ lịch sử. Vì tiểu thuyết lịch sử, tạm mượn cách nói của nhà mĩ học người Anh Ch. Caudwell, cần phải là một ảo ảnh về lịch sử.

Tập truyện ngắn Chuyến bay tháng ba của Lê Khải Việt, quả thực, là một bất ngờ lớn với tôi khi nói vấn đề tự sự về quá khứ của những người viết trẻ trong năm 2021. Lê Khải Việt sinh năm 1983 tại TP.HCM, tốt nghiệp luật kinh doanh quốc tế tại Đại học Monash, Australia năm 2013. Anh từng hành nghề luật, rồi kiểm toán, nhưng đam mê thực sự thì chỉ là nghiên cứu và văn chương. Tập Chuyến bay tháng ba gồm 12 truyện ngắn, có thể xem như chùm quả ngọt văn chương đầu tiên của những niềm đam mê ấy.

Tieu thuyet lich su anh 3

Người ta từng nói, và sẽ còn nói, rất nhiều, về viết chiến tranh trong chiến tranh và viết chiến tranh sau chiến tranh, viết chiến tranh của những người từng đi qua chiến cuộc và viết chiến tranh của những người không tham gia cuộc chiến, viết chiến tranh để ca ngợi lí tưởng chính nghĩa và viết chiến tranh để lên án chiến tranh. Nhưng Lê Khải Việt, theo tôi, là kẻ đứng ngoài những phân chia ấy.

Anh viết chiến tranh không phải để kết luận, mà là để cố gắng thấu hiểu nó, hơn thế, để được sống trải cảm giác của người trong cuộc, ở những không gian và những tình huống khả thể của chiến tranh. Bằng cách, như nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thạch chỉ ra trong bài viết Khi quá khứ không thôi là ám ảnh: “Không giống Phan Thúy Hà hay Võ Diệu Thanh, Việt chọn một cách đi khác để làm sống dậy những di chỉ của quá khứ: từ những tàn tích cũ (một hồi ức, một tấm ảnh, một văn bản…) anh cố gắng hư cấu và lấp đầy cái khung sơ sài của những biến cố với một nỗ lực ghê gớm nhưng cũng có phần vô vọng là trả lại cho quá khứ trạng thái sống động, trong thời hiện tại không tiếp diễn của nó”.

Ngay ở truyện mở đầu tập truyện, Người đàn ông trung niên, một truyện chỉ khoảng bốn trang in khổ 13 x 20,5 cm, Lê Khải Việt đã cho thấy phần nào kiểu hư cấu đặc trưng của mình. Không nhiều nhặn gì: một cựu binh Mĩ trở lại Việt Nam sau 45 năm, dừng chân trước số nhà 22 Lý Tự Trọng, nơi mà vào những giờ phút cuối cùng của Sài Gòn ông đã lên chiếc trực thăng cuối cùng, bay đi. Lúc đó, bất chợt quá khứ tấn công ông bằng một lằn chớp của kí ức: “Ánh mắt của đứa bé như một miếng đạn cối nóng hổi xé toang lớp cơ ngoài và nội tạng, để rồi bắn ra phía bên kia cơ thể của người cựu chiến binh”.

Advertisement

[…]

Ở những truyện như Nước đen, Chuyến bay tháng ba, Một nghiên cứu, Truyện số… nhân vật đã thực sự bước vào cuộc hành xác tinh thần trong việc tìm về và truy vấn quá khứ chiến tranh. Họ sống lại với những nghịch cảnh, những tình huống éo le, tàn bạo, thảm khốc, thậm chí cả tội ác của mình.

Chiến tranh không ngớt ám ảnh, dằn vặt họ, hoặc như một sang chấn tinh thần không thể chữa lành, hoặc như một cáo buộc lương tri không cách gì biện hộ. Nếu không, họ buồn thê thiết trong thân phận của những di dân, như ở truyện ngắn Bốn mùa của vùng sa mạc, hay đem nỗi đau buồn kí ức mà trút vào văn chương triết lí, để rồi nhận lại nhiều đau buồn hơn nữa, như trong truyện ngắn Tháng ba ở ngã ba mà chúng ta. Có thể nói, với tập truyện ngắn Chuyến bay tháng ba, Lê Khải Việt đã làm hình thành cả một sưu tập chứng tích chiến tranh của một người trẻ, nhưng là một người không ngừng tìm kiếm cái cảm giác sống trải ở bên dưới những tàn tro quá khứ.

“Những người viết trẻ tự sự về quá khứ”. Chỉ xét riêng năm 2021 thôi, tôi không chắc mình đã đọc được tương đối đầy đủ các tác phẩm nằm trong giới hạn này. Nhưng bằng những ví dụ kể trên, dù là “quá khứ xa” hay “quá khứ gần”, thì tự sự về quá khứ trong văn chương đương đại của những người viết trẻ hình như cũng báo hiệu vài điều gì đó đang chuyển động, mới mẻ và đầy hứa hẹn, ở chính cái cách họ đánh thức và tái cấu trúc quá khứ.

Nguồn: https://zingnews.vn/nhung-nguoi-viet-tre-tu-su-ve-qua-khu-post1355844.html

Advertisement

Tiếp tục đọc
Quảng cáo
Nhấn vào đây để bình luận

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Tác giả

Danh hiệu nhà văn là do bạn đọc tôn vinh

Được phát hành

,

Bởi

Danh hiệu nhà văn trong xã hội nào cũng cao quý. Đây là danh hiệu nhân dân tôn vinh chứ không phải Hội Nhà văn ban phát cho người cầm bút.

Danh hieu nha van anh 1

Sách Bến không chồng của Dương Hướng. Ảnh: NXB Trẻ.

Dương Hướng là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học hậu chiến Việt Nam. Tiểu thuyết Bến không chồng của ông (cùng Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường) được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991. Năm 2017 ông được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Hiện ông giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam.

– Thưa nhà văn Dương Hướng! Dù quen thân đã lâu nhưng tôi vẫn còn nhiều điều chưa biết về ông, đó là khi vào lính ông chiến đấu ở đâu? Trong những năm ở chiến trường kỉ niệm nào khiến ông ám ảnh nhất? Ông đã viết về nó hay chưa?

– Năm 1971 tôi nhập ngũ, khi vào chiến trường thuộc Trung đoàn 573 Quân khu 5, hoạt động chủ yếu ở vùng Quế Sơn, Duy Xuyên, Đại Lộc của Quảng Nam, ra quân mang hàm trung sĩ quèn.

Advertisement

Kỉ niệm chiến trường thì nhiều vô kể, như chuyện lính sốt rét, đói dài đói rạc vào năm 1972-1973. Các sự kiện chiến trường nơi tôi hoạt động đã phản ánh một cách trung thực nhất trong tiểu thuyết Dưới chín tầng trời xuất bản năm 2007.

Còn kỉ niệm ám ảnh nhất? Tôi đã phải chôn cất đồng đội trong hoàn cảnh không đào được mộ phải xếp đá cho thú rừng khỏi tha mất xác. Chi tiết này tôi đã đưa vào một truyện ngắn đầu tiên trong đời sáng tác của mình có tên Ngôi mộ đá in báo Hạ Long và truyện Hương hoa gạo in tạp chí Văn nghệ Quân đội.

– Như vậy là ông có duyên với Văn nghệ Quân đội từ rất sớm…

– Truyện ngắn đầu tiên tôi được đăng ở Văn nghệ Quân độiNgười mắc bệnh tâm thần, rồi đến Đêm trăng, Hương hoa gạo… sau này nữa là Bến khách. Tôi từng được nhận tặng thưởng năm và giải truyện ngắn ở đây. Tất cả những truyện kể trên đều được viết trong các trại sáng tác của Văn nghệ Quân đội. Bởi mình từng là lính, khi dự trại sáng tác vào lại chiến trường xưa mọi kí ức chiến tranh nó sống dậy, viết rất thông.

Tôi nhớ nhất lần đi dự trại sáng tác ở Pleiku – Gia Lai năm 2007, gặp gỡ được nhiều bạn văn như Văn Công Hùng, Nguyễn Hiệp, Nguyễn Thị Thu Loan, Ngô Thanh Vân, Hoàng Thanh Hương… Đặc biệt, có nhà văn Đỗ Tiến Thụy người quản trại rất vui và dí dỏm dẫn đoàn đi thực tế Binh đoàn 15.

Advertisement

Trong lần đi trại ấy tôi viết được một bài kí và truyện ngắn Bến khách. Cũng chính cái trại ấy tôi trở thành nhân vật để Đỗ Tiến Thụy và Văn Công Hùng “mổ” ở mấy báo liền. Và chính cái trại ấy đã giúp tôi thu hoạch được nhiều chi tiết, sự kiện về chiến tranh để hoàn thành tiểu thuyết Dưới chín tầng trời sau này.

– Tôi biết, khi viết “Dưới chín tầng trời” ông đã xin nghỉ không lương, một việc rất không bình thường trong giới văn nghệ Quảng Ninh…

– Chuyện nghỉ không lương để viết với tôi rất bình thường, bởi nhu cầu viết thúc ép. Mình đang là công chức nhà nước, làm gì có chế độ không đi làm mà lại được hưởng lương cơ chứ, thế là quyết định xin nghỉ. Đấy không phải lần đầu, mà tôi đã từng làm thế khi viết Bến không chồng từ những năm 80 rồi.

– Qua tìm hiểu, tôi được biết đó là giai đoạn đỉnh điểm khó khăn của thời bao cấp, cả nước đói, nhà nhà đói, dân tình nháo nhác xoay xở tìm cách sống, thế mà ông lại xin nghỉ việc không lương để viết văn. Phản ứng của gia đình trước quyết định của ông thế nào?

– Lúc ấy mọi người nhìn mình như kẻ “có điện”, “ấm đầu”. Giữa thời buổi người người đua nhau làm kinh tế, buôn bán nhộn nhịp, mình ngồi ru rú góc nhà viết văn xem ra nó trái khoáy lắm. Mỗi lần nghe vợ phàn nàn nhắc tới chuyện cái ăn cái mặc, chuyện tiền nong, con cái mà xót hết cả ruột.

Advertisement
Danh hieu nha van anh 2

Nhà văn Dương Hướng.

Nhưng ý tưởng và cảm xúc đã chín, không thể không viết ra. Sau này, khi Bến không chồng được độc giả đón nhận, được giải thưởng Hội Nhà văn, tôi mới nhận ra cái quyết định nghỉ không lương để viết văn của mình là đúng đắn.

– Cuộc sống sau khi nhận giải thưởng của ông có khác gì so với trước?

– Ít ra cũng thấy an ủi trước tiên với vợ với con. Và ngẫm thấy cuộc đời của anh cầm bút gian nan vất vả nhọc nhằn cũng đã được đền đáp. Riêng tiền thưởng ít thôi nhưng cũng giải quyết được khối việc trong gia đình.

– Giải thưởng còn giúp ông khẳng định uy tín nghề nghiệp nữa chứ. Ông được tín nhiệm bầu làm Ủy viên Hội đồng Văn xuôi nhiều năm, và giờ là Chủ tịch Hội đồng Văn xuôi khóa X. Ông nghĩ sao về danh hiệu hội viên Hội Nhà văn trong xã hội ngày nay và quan điểm của ông về việc kết nạp hội?

– Tôi nghĩ danh hiệu nhà văn trong xã hội nào cũng cao quý. Đây là danh hiệu nhân dân tôn vinh chứ không phải Hội Nhà văn ban phát cho người cầm bút. Dù Hội Nhà văn có trách nhiệm chọn lọc những người có đủ tư cách, tài năng để vào tổ chức hội. Xin được nói cho rõ thêm, có những người cầm bút không thuộc tổ chức hội nhưng họ vẫn là nhà văn đầy tài năng, đức độ, thể hiện rõ trong các tác phẩm của mình. Có rất nhiều nhà văn nổi tiếng trên thế giới không ở tổ chức hội nào mà nhân dân vẫn kính trọng họ.

Advertisement

Với đặc thù của Hội Nhà văn Việt Nam trong giai đoạn này, danh hiệu nhà văn trong tổ chức hội đã có nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau. Người cho rằng có gì quan trọng đâu, ai viết được văn, nhiệt tình tha thiết thì kết nạp vào cho thêm phần đông vui.

Người lại bảo Hội Nhà văn là chỗ cho một số kẻ lợi dụng xin vào để cốt có cái mác nhà văn nhằm khoe mẽ vênh vang với thiên hạ.

[…] Quan điểm của riêng tôi, việc kết nạp hội viên mới, trước tiên chúng ta cần quan tâm tới chất lượng tác phẩm và phẩm chất đạo đức của người có nguyện vọng. Chỉ có vậy mới bảo toàn được uy tín, danh dự của một hội nghề nghiệp. Và để phát triển, Hội cần quan tâm lớp trẻ và những tác giả đang có vai trò lãnh đạo ở các hội địa phương.

Nhìn vào danh sách hồ sơ, tôi nhận ra còn một vài cây bút lớn tuổi, tác phẩm của họ cũng đã được dư luận đánh giá cao, được nhận nhiều giải thưởng của các cuộc thi; rồi có những tác giả lặng lẽ viết, xuất bản, không tuyên ngôn, không ồn ào, tác phẩm của họ được độc giả ghi nhận, nhưng việc vào hội đối với họ thật gian nan, bao lần xét mà vẫn không qua khỏi vòng Hội đồng hoặc qua vòng Hội đồng nhưng không qua Ban Chấp hành.

Chuyện này vẫn tồn tại bởi nhiều nguyên nhân, một là các thành viên xét chọn chưa thấu đáo, bao quát hết; hai là cũng có trường hợp may rủi bỏ phiếu lần nào cũng suýt soát thiếu một phiếu chẳng hạn. Tôi nghĩ phải giải quyết liệt vấn đề này, để người xứng đáng được vào, không bỏ rơi bỏ sót ai.

Advertisement

[…]

– Có chuyện này tế nhị, tôi muốn ông chia sẻ… Nghe đồn ngồi ở hội đồng giải thưởng được nhiều “lộc lá” lắm?

– Tôi cũng nghe người ta đồn vậy. Nhưng trải qua cương vị này nhiều năm, cái tôi nhận được nhiều nhất là “được đọc”. Mình phải bỏ công sức ra đọc, quên cả việc gia đình. Bạn bè đến nhà chơi nhìn đống tác phẩm chất trên bàn mà hãi.

Đọc tác phẩm xét giải không thể qua loa được. Phải đọc đi đọc lại, xong lại phải có ý kiến, bày tỏ quan điểm đánh giá… Vất vả và khó khăn lắm. Vì thế nên tôi xác định cứ trung thực, thẳng thắn, làm hết khả năng trách nhiệm. Cho dù có bị trách cứ mình cũng chấp nhận, chứ chuyện văn chương phong phú lắm, văn mình vợ người mà.

Còn về khoản “lộc lá” thì tôi nói thẳng là “lõm”, bởi mỗi lần lên Hà Nội họp, tôi đi xe nhà, phải chi tiền triệu cho xăng xe và vé đường cao tốc Quảng Ninh – Hà Nội mà không được Hội thanh toán. Mỗi buổi họp được nhận cái phong bì ăn trưa 200.000 đồng, phải kí vào sổ để văn phòng lưu.

Advertisement

Có lần tôi nói nhỏ với nhà văn Lê Minh Khuê, có khi mình phải xin nghỉ. Nhà văn nữ cười an ủi bảo, cố cho hết khóa đi. Nhưng nói đi thì phải nói lại, từ ngày nhận vai trò này tôi cũng thấy mở mang nhiều điều. Đọc tác phẩm từ mọi miền đất nước tôi nhận thấy còn rất nhiều người ngày đêm miệt mài cần mẫn sáng tạo. Chính những người đó thúc đẩy mình cũng phải nghĩ, phải viết tiếp.

– Vâng, có lẽ đó là cái “lộc lá” lớn nhất mà ông được nhận từ công việc đọc. Hiện tại ông đang viết gì?

– Tôi đang viết tiểu thuyết, có lẽ sẽ là cuốn cuối cùng của đời mình. Mà thật chả biết sao nữa, cứ như định mệnh sắp đặt, bao năm thư thả không viết, giờ bận tối mắt tối mũi với bao công việc lại đâm đầu vào tiểu thuyết. Ban đầu tôi dự tính sẽ hoàn thành trong hai năm, nhưng khi lao vào mới thấy tốc độ đến bất ngờ, chỉ ba tháng đã được 200 trang rồi. Cuốn lần này tôi viết về biển. Cuộc đời tôi luôn gắn liền với biển. Quê tôi có biển Vô Cực (Cồn Đen), nơi tôi đang sống có cả một vùng biển Đông Bắc.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử dân tộc, biển chứng kiến hết, con mắt của biển nhìn thấu mọi nỗi niềm. Hận thù và trả giá, tình yêu và sự khát khao kiếm tìm tự do hạnh phúc. Ngọn hải đăng trên biển là biểu tượng là linh hồn của biển đã làm nên hồn cốt trong tác phẩm mà tôi đang tiếp tục khai thác. –

Nguồn: https://zingnews.vn/danh-hieu-nha-van-la-do-ban-doc-ton-vinh-post1396809.html

Advertisement

Tiếp tục đọc

Tác giả

Thanh Tịnh làm báo Tết

Được phát hành

,

Bởi

Ðược ở gần nhà thơ Thanh Tịnh chừng hai chục năm thôi, nhưng tôi biết ông là một “tỉ phú” về ngôn từ, chữ nghĩa.

Tôi có may mắn được làm việc ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội ngót ngét 40 năm. Ở Nhà số 4, tôi lại may mắn được gần những bậc thầy, những bậc đàn anh về viết báo, làm báo như Thanh Tịnh, Mai Ngữ, Hồ Phương, Xuân Thiều, Vương Trí Nhàn, Ngô Thảo…, đặc biệt là “sư phụ” Thanh Tịnh, Tổng biên tập thứ hai của Văn nghệ Quân đội. Những câu chuyện làm báo của ông cả trong cương vị lãnh đạo Văn nghệ Quân đội và ở vị trí một người làm báo đều khiến tôi nhớ mãi.

Ðược ở gần nhà thơ Thanh Tịnh chừng hai chục năm thôi, nhưng tôi biết ông là một “tỉ phú” về ngôn từ, chữ nghĩa. Không phải ngẫu nhiên mà anh em báo chí văn nghệ ở “phố nhà binh” gọi ông là “pho tự điển sống” là “bậc huynh trưởng”. Ông không chỉ viết báo, làm báo giỏi mà còn chỉ cho nhiều nhà báo trẻ cách viết báo, làm báo một cách rất cụ thể, như thầy trò, như bầu bạn như đồng nghiệp… Thanh Tịnh là vậy, làm báo, viết báo, kể cả báo Tết, báo Xuân, báo số đặc biệt…, làm cái gì cũng cứ nhẹ tênh tênh, nhưng để theo ông, học ông thật chẳng dễ chút nào. Ðôi khi chỉ là để hiểu ý ông thôi mà mươi năm, thậm chí cả đời người vẫn chưa làm được.

Ðời làm báo của ông, như ông kể, tháng nào tuần nào cũng phải tự “trình diện” trước bạn đọc, bạn viết và… cấp trên. Tết, làm báo Tết mới bận rộn làm sao! Ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội có lệ mỗi lần Tết đến, mọi phóng viên trong tòa soạn phải góp một bài cho số báo đặc biệt này. Thơ còn không ngại, chứ đến truyện ngắn và các mục râu ria như giai thoại, thơ vui, câu đối cùng nhiều thể tài gọi là “bài vụn” khác, thì quả thật viết đã khó, mà chạy ra bài lấp đầy các số báo cũng không dễ… Tôi từng nghe kể, những lúc ấy nhà văn Nguyễn Minh Châu thường nhìn cánh “trực biên tập” (tức là đang lo dựng các số báo) một cách thương hại và tủm tỉm: “Trông kia kìa, chắc cụ Thanh Tịnh đã viết được vài bài rồi, giờ lại đang viết tiếp đấy. Tết năm ngoái đọc sơ sơ các báo, mình đếm chắc chưa đầy đủ mà đã có đến chục bài kí tên Thanh Tịnh. Ở nhà này về khoản làm báo, cánh cầm bút lớp sau cứ gọi là xách dép cho cụ Tịnh cũng không đáng”. Để tưởng nhớ nhà văn Tổng biên tập (Chủ nhiệm Tạp chí VNQĐ đời thứ 2, sau tướng Văn Phác), tôi xin kể vài câu chuyện về ông:

Advertisement

Nhà văn, nhà báo, nhà thơ (Tự họa)

Văn phẩm Thanh Tịnh để lại không thật đồ sộ, nhưng ông được người đời gọi là nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà thơ. Là nhà văn bởi ông có các tập truyện ngắn Ngậm ngải tìm trầm (1943) và trước đó là tập Quê mẹ (1941). Là nhà thơ bởi ngay từ năm 1937, lúc mới 26 tuổi ông đã cho in tập thơ Hận chiến trường nổi tiếng và đến năm 1942 được ghi danh trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân với những thi phẩm nổi tiếng như Mòn mỏi, Tơ trời và tơ lòng, Rồi một hôm

Thanh Tinh anh 1

Trước đó, năm 1936 ông đã đoạt giải Nhất về thơ do tờ Hà Nội báo tổ chức. Ông còn để lại cho đời rất nhiều câu ca dao bất hủ như: Nhà tan cửa nát cũng ừ/ Quyết tâm thắng Mỹ cực chừ sướng sau. Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong. Hà Nội, Huế, Sài Gòn/ Là cây một gốc là con một nhà…

Đời ông, một nhà thơ xứ Huế, một sĩ quan cao cấp của quân đội, nhưng lại đã từng “Trải qua mấy chục năm trường / Ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân” ở Hà Nội. Những năm tháng “ngày Bắc, đêm Nam” ấy ông đã để lại biết bao nhiêu kỉ niệm trong làng văn, làng báo cùng rất nhiều giai thoại dọc “phố nhà binh” – Phố Lý Nam đế Hà Nội.

Thanh Tịnh luôn luôn có những câu nói “xuất khẩu thành vần”. Một lần có một bạn đọc đến thăm ông tại căn phòng vừa là chỗ ở vừa là nơi làm việc ở số 4 – Lý Nam Đế hỏi ông: “Dạ thưa bác, bác đi làm có xa không ạ?” Thanh Tịnh trả lời rằng “Thưa không phải đi đâu ạ!”.

Người nọ còn ngỡ ngàng chưa hiểu ra thì nhà thơ đã giải thích: “Tôi được người ta gọi bằng bốn danh hiệu: nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà thơ. Nhưng xin thưa: bốn nhà ấy hiện không nhà ở!”. Về sau, khi đã được Quân đội chia một căn hộ riêng bên số 8 – Lý Nam Đế, nhắc đến câu nói kia ông đề nghị sửa chữa thành: Nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà nghèo. Ông bảo đó là “chân dung tự họa” của ông.

Truyện ngắn và đồng hồ

Biên tập viên tờ báo nọ đến đặt Thanh Tịnh viết bài cho số báo tất niên. Anh ta thưa với nhà thơ rằng ông là một tác giả viết nhanh, luôn đúng hẹn, lại là người “sáng lập” ra mục “những đoạn văn ngắn” của tờ Văn nghệ Quân đội và đặt vấn đề với ông viết cho một truyện ngắn.

Advertisement

Anh biên tập viên tin rằng với thời gian “cần”, “gấp” nhất định nhà thơ sẽ có truyện ngắn gửi đăng. Nghe xong Thanh Tịnh bảo: Sao không đặt mình viết truyện dài? Người khách nọ: Dạ sợ bác không đủ thời gian ạ. Nhà thơ cười: Vậy ra theo anh làm một cái đồng hồ nhỏ và chạy tốt lại dễ hơn làm cái đồng hồ to à?.

Văn chương và bánh chưng

Nhà thơ Thanh Tịnh xa quê đúng 30 năm và đón Tết một mình cũng đủ 30 lần. Nhưng với ông, Tết nhất luôn luôn phải vui vẻ. Buồn đến chết, Tết cũng vui, ông hay nhắc đi nhắc lại câu ấy mỗi năm hoa đào nở. Và như đã thành tục lệ, dù là “ăn cơm tập thể, nằm giường cá nhân” mỗi Tết trong phòng ông đều có bánh chưng, hoa đào và dĩ nhiên là cả báo Tết cùng một vài câu đối do ông sáng tác để mừng xuân, mừng Tết, mừng tuổi bạn bè, người thân…

Có một năm, hai mươi ba Tết ông Táo rồi mà ông vẫn chưa nghĩ được một vế tiếp theo của đôi câu đối mừng một tờ báo lớn kỉ niệm 50 năm ra số đầu tiên. Nhìn chiếc bánh chưng, cành đào nhỏ và chồng báo Tết của ông, người bạn nhà báo tức cảnh làm mấy câu thơ:

Tết nhất năm nay bác rất xôm

Bánh chưng xếp lộn với văn chương

Advertisement

Cành đào hé đúng mười ba nụ

Câu đối mừng ai viết nửa chừng…

Nghe vậy nhà thơ xứ Huế cười xí xóa: “Mới chiều 23 mà. Thời gian từ đây đến giao thừa còn dài dài. Thế nào rồi cũng xong. Với tui ‘tuổi tuy hưu trí, chí chưa hưu’ mà!”

Chữa cháy báo xuân

Tờ báo nọ dự định ra số xuân sớm hơn mọi năm vì quan niệm báo Tết là thứ hàng hóa, phải kịp thời đến tay bạn đọc. Nhưng hiềm một nỗi ông họa sĩ “mi” tính toán số chữ không chính xác nên khi “bông” ra thấy “thủng” rất nhiều chỗ. Đưa ảnh vào cũng được nhưng kiếm không ra, đưa bài khác vào thì đảo lộn hết ý đồ mà cũng chẳng đủ “đất”. Viên thư kí tòa soạn nhanh ý guồng xe đến “cụ” Thanh Tịnh xin vài mẩu chuyện hoặc câu đối để “lấp chỗ trống”.

Thanh Tinh anh 2

Năm ấy tuổi đã thất thập cổ lai hi nên viết lách có phần chậm. Có tí vốn liếng nào cũng “bị” các báo Tết khác nhanh chân hơn đến “chộp” trước mất rồi, vì thế nên khi nghe lời “thỉnh cầu” đầy vẻ S.O.S của người thư ký tòa soạn ông cũng rất lo. Nhưng chỉ một thoáng đã thấy ông hỏi:

– Bản bông có đây không?

Advertisement

Người thư kí mở cặp đưa ra cho nhà thơ xem. Quả là bị “thủng” đến mấy chỗ. Dường như không phải suy nghĩ nhiều, nhà thơ cao niên vớ lấy cây bút bi, giương kính lão lên và viết liền vào mấy chỗ trống kia. Chỗ thì chữ “vi nhét”, chỗ thì chữ “hoa đào”. Chỗ “thủng” hơi to thấy ông “lia” vội “câu đố”:

Phần đầu tôi mệt lắm rồi

Phần đuôi lặng lẽ giúp người che thân

Nếu ai đem ghép hai phần

Tôi kêu một tiếng xa gần biết tên

Advertisement

Sau đó ghi thêm chữ “là chữ gì?” trong ngoặc đơn và tiếp chữ “xem giải đáp trang…”. Ông lật đi lật lại bản “bông” và tìm ra một chỗ “thủng” khác để “lia” bút viết lời giải đó: Pháo (ph: mệt phờ + áo = pháo). Đoạn ông bỏ kính, cất bút trao bản “bông” cho người khách và bảo “ổn chưa?” Người nọ chỉ biết “dạ” và guồng xe trở lại nhà in…

Thay cho lời kết

Năm ấy nghe tin Thanh Tịnh ốm nặng, Đỗ Chu vừa từ Bắc Ninh xuống sang ngay nhà thăm. Lâu ngày đôi bạn một già một trẻ mới gặp nhau, chuyện trò vui vẻ đến nỗi Thanh Tịnh như khỏe ra. Ông gượng dậy lấy rượu mời Đỗ Chu và câu chuyện thêm vui, thêm cả buồn lẫn lộn.

Nghe Thanh Tịnh nói về cuộc đời phiêu bạt, đơn côi của mình, Đỗ Chu thương lắm. Là người biết ít chữ Hán, chữ lại đẹp anh bèn cầm cây bút dạ viết luôn câu: Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân (trong bài thơ chữ Hán Dạ hành của thi hào Nguyễn Du) tặng nhà thơ già. Thanh Tịnh trân trọng treo câu thơ đó lên tường sát chỗ giường nằm.

Không ngờ mấy ngày sau bệnh ông càng thêm nặng, ông phải vào Viện Quân y 108… Và trước phút tác giả của Quê mẹ về quê mẹ, Đỗ Chu cũng có mặt. Nhà thơ còn níu nhìn người bạn văn trẻ và thều thào đọc câu thơ nọ Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân (nghĩa là: Trên con đường nhỏ, gió lạnh dồn thổi vào một người – thơ Nguyễn Du)… Không một ai ở đó khi ấy cầm nổi nước mắt!

Quả câu thơ rất hợp với ông, nhưng tôi nghĩ con đường xưa ông đi, quá khứ đời ông trải không chỉ có gió lạnh, đường xa và sự đơn côi mà còn có cả những chặng đường hoa cùng những ngày ấm áp nơi chiến khu xa và trên những con đường đường Hà Nội rụng vàng lá me lá sấu!

Advertisement

Nguồn: https://zingnews.vn/thanh-tinh-lam-bao-tet-post1396491.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Gắn kết yếu tố truyền thống với hiện đại trong minh họa sách Tết

Được phát hành

,

Bởi

Theo họa sĩ Kim Duẩn, minh họa trong sách giống món ăn trên mâm cỗ ngày Tết. Ngoài thưởng thức nội dung, hình ảnh giúp độc giả thấy được nội dung mạch lạc, hấp dẫn hơn.

Minh hoa sach Tet anh 1

Trong thị trường xuất bản phẩm dịp Tết hiện nay, sách Tết của Đông A tạo được dấu ấn trong lòng bạn đọc bởi chất lượng nội dung và tính thẩm mỹ. Họa sĩ Kim Duẩn, tác giả của nhiều bìa sách, tham gia vẽ bìa và minh họa cho ấn phẩm này. Anh chia sẻ về việc tạo lập phong cách riêng cho ấn phẩm sách Tết cũng như thị trường sách tranh Việt hiện nay.

Món ngon trong mâm cỗ sách Tết

– Ý tưởng của anh để định hình phong cách mỹ thuật riêng cho sách Tết Đông A?

– Quý Mão 2023 là năm thứ năm tôi tham gia vào làm sách Tết cho Đông A. Âm hưởng chung của từng cuốn là sẽ theo linh vật của từng năm, đó như là tứ để tôi bám theo, mỗi con giáp có những tinh thần khác nhau, tùy theo đó mà trình bày cuốn sách sẽ đi theo.

Sách Tết đặc thù là sách dành cho thời điểm cuối năm, khi mà Tết Nguyên đán cận kề, chính vì thế mỹ thuật cho sách Tết thường là không khí vui tươi, ấm áp. Điểm chung về phong cách nhận diện cho sách Tết Đông A đó chính là việc lấy ý tưởng từ tranh dân gian Việt Nam. Bố cục cũng như đường nét dựa theo các tranh dân gian nhưng được làm mới lại.

Advertisement
Minh hoa sach Tet anh 2

Họa sĩ Kim Duẩn. Ảnh: NVCC.

– Điều gì khiến anh kết hợp họa tiết tranh dân gian trong các minh họa sách Tết? Làm thế nào để những họa tiết dân gian đó phù hợp với thẩm mỹ hiện đại?

– Việc kết hợp tranh dân gian vào mỹ thuật cho sách Tết chính là gắn kết yếu tố truyền thống với hiện tại. Tranh dân gian mà tôi lấy cảm hứng chủ yếu là tranh Đông Hồ, bởi yếu tố gần gũi đi vào đời sống người Việt từ lâu đời.

Khi dựa vào phong cách tranh dân gian tôi hay đan cài yếu tố đương đại tạo sự thú vị cho người xem. Ví dụ, để các nhân vật cầm điện thoại thông minh cũng là cách tạo thú vị cho người xem. Với thẩm mỹ đương đại thì họa sĩ cần đơn giản hóa hình ảnh sẽ phù hợp thẩm mỹ hiện tại hơn.

– Anh có thể chia sẻ thêm về hình ảnh Mèo, cách thiết kế bìa cuốn “Sách Tết Quý Mão”? Ngoài vẽ bìa, các tờ gác cho mỗi phần Văn, Thơ, Nhạc, Họa, Vĩ thanh, anh còn thực hiện những minh họa nào trong sách?

– Năm Mèo là năm con giáp rất gần gũi với đời sống. Tôi thiết kế những nhân vật trên tranh bìa là những chú mèo tham gia những hoạt động như con người, cô gái mặc áo dài nhưng là chú mèo được nhân hóa…

Advertisement

Ngoài việc vẽ bìa và thiết kế cho cuốn sách thì tôi vẫn tham gia vẽ minh họa phần văn, thơ, nhạc… Ví dụ bài Tết quê nội, Tết quê ngoại của Xuân Phượng, Nước trong của Lê Minh Khuê, các minh họa thơ, chân dung Phú Quang trong phần Nhạc…

Sách tranh là thị trường xuất bản tiềm năng

– Theo anh, tranh, minh họa có vai trò như thế nào trong các ấn phẩm sách Tết?

– Tranh minh họa trong sách Tết giống một món ăn trên mâm cỗ ngày Tết, cho thêm phần trọn vẹn, đủ đầy. Ngoài việc thưởng thức nội dung thì phần hình ảnh khiến cho người xem thấy được không khí của nội dung một cách mạch lạc hơn, cuốn sách cũng tăng phần hấp dẫn lên rất nhiều.

– Tranh minh họa sách Tết cần đảm bảo những tiêu chí gì?

Tranh minh họa sách Tết ngoài bảo đảm yếu tố phù hợp nội dung thì phải đẹp, màu sắc sẽ tươi tắn hơn để hợp ấn phẩm dịp đầu xuân năm mới.

Advertisement
Minh hoa sach Tet anh 3

Minh họa bài viết Tết quê nội, Tết quê ngoại (Xuân Phượng) của Kim Duẩn trong Sách Tết Quý Mão 2023. Ảnh: NVCC.

– Là họa sĩ vẽ bìa quen thuộc cho các ấn phẩm văn chương Việt, anh nhận thấy điều gì làm nên thành công của một bìa sách?

– Một bìa sách thành công theo tôi ngoài việc phù hợp với nội dung thì yếu tố hấp dẫn về hình thức vô cùng quan trọng. Sự ấn tượng về mỹ thuật giúp người xem dễ chú ý đến cuốn sách hơn trong cái nhìn đầu tiên. Nhiều khi yếu tố ấn tượng về thị giác sẽ được đặt lên hàng đầu.

– Anh nhận định thế nào về thị trường sách tranh Việt hiện nay?

– Thị trường sách tranh ở Việt Nam ngày càng phát triển, so với trước đây thì lượng đầu sách đã tăng lên rất nhiều. Các họa sĩ cũng như nhà xuất bản cảm thấy tiềm năng của thị trường sách tranh này nên đã dành nhiều thời gian và đầu tư hơn cho dòng sách tranh.

Tuy nhiên dòng sách tranh cũng mới phát triển gần đây nên chất lượng chưa thật đồng đều, số họa sĩ chất lượng chưa nhiều nên số sách tranh đẹp vẫn rất ít ỏi. Chính vì thế đó vẫn là một thị trường tiềm năng cho người đọc cũng như người sáng tác.

Advertisement

Nguồn: https://zingnews.vn/gan-ket-yeu-to-truyen-thong-voi-hien-dai-trong-minh-hoa-sach-tet-post1391265.html

Tiếp tục đọc

Xu hướng