Connect with us

Tác giả

Nhà văn và chữ tình gởi lại

Được phát hành

,

Với giọng kể chân thực, nhà văn Trình Quang Phú đã dựng lên nhiều chân dung văn nghệ sĩ, mỗi câu chuyện, cảm xúc của ông đều được hun đúc, xâu chuỗi từ những năm tháng chiến tranh cho tới thời bình.

Hồn thơ nó ngấm trên đường hành quân, xúc cảm, rung động với thực tế, đêm dừng chân tôi viết một mạch, sáng ra đọc cho mọi người nghe, được hoan nghênh. Nghĩ sao viết vậy thôi.

Nhà thơ Quang Dũng.

Những năm 1970, tôi thường đến Nhà xuất bản Văn học ở 49 Trần Hưng Đạo, trước hết tôi là cộng tác viên, sau đó vì tôi có người bạn từ thời học sinh miền Nam là nhà văn Hoàng Lại Giang đang là biên tập viên ở đây.

Một hôm, tôi và Lại Giang đang ngồi ở phòng khách thì một người to cao vạm vỡ, mặt có nét lai Tây bước vào. Bạn tôi giới thiệu đó là nhà thơ Quang Dũng. Ôi, cái tên Quang Dũng gắn với bài Tây Tiến. Tôi chào anh với sự khâm phục, mến mộ. Chúng tôi quen nhau từ đó, đến nay cũng đã 50 năm có hơn. Quang Dũng sống rất thân tình, chân thật, anh vẫn luôn có một nét buồn nếu không muốn nói nốt trầm hiện trong anh.

Nhà văn nhưng chỉ sống bằng đồng lương ít ỏi của một biên tập viên để nuôi 7 người con thì quả là rất khó khăn. Anh phải vẽ thêm bìa sách, minh họa cho các báo để có thêm đồng ra đồng vô. Anh sống rất tằn tiện và khó khổ. Biết vậy tôi và Lại Giang thường rủ anh uống bia tươi vỉa hè với lạc luộc (đậu phộng luộc).

Advertisement

Tôi nhớ lần đó, tôi nhận được nhuận bút có bài in chung trong tác phẩm “Đất và nước” của Nhà xuất bản Văn học, tôi rủ anh và Lại Giang đi ăn thịt cầy bảy món. Những ngày bao cấp ấy, mỗi cán bộ một tháng chỉ mua được ba trăm gơ-ram thịt (có tem phiếu), các hàng quán, món thịt nhiều đạm và dễ kiếm nhất là thịt cầy. Tôi định mời ra phố Huế, nhưng Quang Dũng gợi ý nên lên đê Yên Phụ, vì ở đó nhiều quán ngon và rẻ. Ba chúng tôi lóc cóc đạp xe lên phố đê. Thời tiết đầu đông se se lạnh, từng ngọn gió bấc khe khẽ luồn vào các ngách áo và ngắt véo thân thể. Lạnh và buốt. Đúng là cả dãy ven đê các quán thịt cầy san sát nhau chạy dài từ cuối chợ hoa, có đến vài cây số. Hôm ấy khi có chút rượu vào tôi mạo muội hỏi Quang Dũng một câu:

– Anh có viết được gì không?

– Làm viết sao được? Anh lắc đầu: Viết theo rung động của trái tim lúc này là có chuyện, tôi đã viết và đã đốt. Làm thơ mà không rung cảm thì không còn là thơ, nó chỉ là hô khẩu hiệu theo kiểu ghép vần.

Một dịp khác, theo đề nghị của bác Nguyễn Tạo một nhà cách mạng vào Đảng từ khi Đảng mới ra đời năm 1930, ngày đó bác là Tổng cục trưởng Lâm Nghiệp, trực thuộc Chính phủ ngang Bộ trưởng. Bác Tạo cũng là Nhà văn. Bác bảo tôi mời một số nhà Văn nhà Thơ cuối tuần vào thăm rừng Cúc Phương vừa được công nhận là vườn Quốc gia (National Park) và tôi đã tổ chức được ba, bốn chuyến cho nhà văn, nhà báo vào đây. Giữa đất Ninh Bình của mùa hè nóng rát nhưng vào giữa rừng Cúc Phương thì mát mẻ vô cùng. Quang Dũng đi trong nhóm nhà xuất bản. Anh thích thú. Có lẽ là dịp hiếm hoi tôi thấy anh vui.

Tối đến ngồi trong nhà sàn uống trà, nhấm rượu với cá suối khô, Quang Dũng thốt lên: “Lâu lắm giờ tôi mới được ở giữa rừng, nhớ ngày xưa quá”. Cái ngày xưa ấy là những năm kháng chiến chống Pháp, những năm trong đoàn quân “Tây Tiến” của anh, những năm anh làm Đại đội trưởng của Trung đoàn 52 Tây Tiến, những năm anh làm Trưởng ban tuyên huấn của Trung đoàn rồi Trưởng đoàn Văn nghệ Liên khu 3. Trong những năm tháng đó anh sáng tác thơ, viết kịch, viết truyện ngắn. Anh còn là họa sĩ vẽ tranh sơn dầu, sáng tác cả nhạc… quả là một văn nghệ sĩ đa tài. Quang Dũng đã có nhiều thơ nổi tiếng như: Tây Tiến, Mùa hoa gạo, Rừng về xuôi, Đôi bờ, Mây đầu ô, Mắt người Sơn Tây…

Advertisement

Biết tôi là người đã có nhiều bài ký viết về sông Hồng, sông Đà, anh đọc cho tôi nghe Bài thơ sông Hồng của anh. Tôi cảm ơn anh và hỏi anh về bối cảnh viết bài thơ “Tây Tiến”. Anh nói ngay: “Hồn thơ nó ngấm trên đường hành quân, xúc cảm, rung động với thực tế, đêm dừng chân tôi viết một mạch, sáng ra đọc cho mọi người nghe, được hoan nghênh. Nghĩ sao viết vậy thôi”. Đúng là văn là người, thơ là người. Thơ của anh chân thật, gần gũi nhưng cũng rất hình ảnh, dễ xúc động lòng người.

Năm 1973, tôi đi công tác đối ngoại của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ở Paris về, có chai rượu ngon. Tôi mời riêng anh xuống chơi với tôi ở khu tập thể Trương Định. Chiều đó, anh đạp xe đến. Tôi mời anh lên gác nơi góc văn của tôi, chỉ hai anh em. Tôi nhỏ hơn anh gần 20 tuổi nhưng anh vẫn không chịu gọi ngôi khác. Anh nói: “Trong chống Pháp ông với tôi là lính cụ Hồ, là đồng đội, giờ lại ở chung trong làng viết lách thì gọi thế là đúng”, và ông buộc tôi gọi bằng anh.

Tôi lấy chai Whisky mang ở Paris về tặng anh. Tôi nói: chai này là quà tặng anh, còn hôm nay mình nhâm nhi “Cuốc lủi” (loại rượu gạo dân gian). Anh cầm chai rượu cảm động thể hiện rõ trên nét mặt. Im lặng một chút anh nói: “Này, tôi có một đề nghị. Chai rượu này quý lắm, nếu tôi xách về, vợ tôi sẽ đem bán và nhà được vài bữa tươi, nhưng nó là rượu tình, rượu nghĩa ông xách từ Paris về, bán thì xót lắm. Tôi đề nghị ta khui chai này, còn chai “Cuốc lủi” ông cho tôi mang về”. Tôi gật đầu đồng ý mà lòng rung cảm thương anh, thương cái tình chân thật của anh, thương cái nghèo, cái khó đang theo anh.

Khi tôi mở chai rượu thì anh lấy từ cái túi vải có hai quai anh vẫn xách theo một gói bằng giấy báo, bên trong bọc lá chuối, mở ra là đậu phộng luộc. Anh nói: “Tôi biết ông có mồi rồi, nhưng cái món lạc luộc này, nó có hồn dân tộc, tôi thích lắm!”. Chúng tôi vừa nhâm nhi vừa trò chuyện.

[…]

Advertisement

Sau này khi đất nước đổi mới, Quang Dũng là một trong những nhà văn được Chủ tịch nước tặng giải thưởng Nhà nước cho tác phẩm văn học nghệ thuật đợt đầu tiên. Và bài thơ Tây Tiến của anh được tạc trong cụm tượng đài kỉ niệm đoàn quân Tây Tiến.

Nguồn: https://zingnews.vn/ky-niem-voi-nha-tho-quang-dung-post1377640.html

Tiếp tục đọc
Quảng cáo
Nhấn vào đây để bình luận

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Tác giả

Danh hiệu nhà văn là do bạn đọc tôn vinh

Được phát hành

,

Bởi

Danh hiệu nhà văn trong xã hội nào cũng cao quý. Đây là danh hiệu nhân dân tôn vinh chứ không phải Hội Nhà văn ban phát cho người cầm bút.

Danh hieu nha van anh 1

Sách Bến không chồng của Dương Hướng. Ảnh: NXB Trẻ.

Dương Hướng là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học hậu chiến Việt Nam. Tiểu thuyết Bến không chồng của ông (cùng Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường) được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991. Năm 2017 ông được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Hiện ông giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam.

– Thưa nhà văn Dương Hướng! Dù quen thân đã lâu nhưng tôi vẫn còn nhiều điều chưa biết về ông, đó là khi vào lính ông chiến đấu ở đâu? Trong những năm ở chiến trường kỉ niệm nào khiến ông ám ảnh nhất? Ông đã viết về nó hay chưa?

– Năm 1971 tôi nhập ngũ, khi vào chiến trường thuộc Trung đoàn 573 Quân khu 5, hoạt động chủ yếu ở vùng Quế Sơn, Duy Xuyên, Đại Lộc của Quảng Nam, ra quân mang hàm trung sĩ quèn.

Advertisement

Kỉ niệm chiến trường thì nhiều vô kể, như chuyện lính sốt rét, đói dài đói rạc vào năm 1972-1973. Các sự kiện chiến trường nơi tôi hoạt động đã phản ánh một cách trung thực nhất trong tiểu thuyết Dưới chín tầng trời xuất bản năm 2007.

Còn kỉ niệm ám ảnh nhất? Tôi đã phải chôn cất đồng đội trong hoàn cảnh không đào được mộ phải xếp đá cho thú rừng khỏi tha mất xác. Chi tiết này tôi đã đưa vào một truyện ngắn đầu tiên trong đời sáng tác của mình có tên Ngôi mộ đá in báo Hạ Long và truyện Hương hoa gạo in tạp chí Văn nghệ Quân đội.

– Như vậy là ông có duyên với Văn nghệ Quân đội từ rất sớm…

– Truyện ngắn đầu tiên tôi được đăng ở Văn nghệ Quân độiNgười mắc bệnh tâm thần, rồi đến Đêm trăng, Hương hoa gạo… sau này nữa là Bến khách. Tôi từng được nhận tặng thưởng năm và giải truyện ngắn ở đây. Tất cả những truyện kể trên đều được viết trong các trại sáng tác của Văn nghệ Quân đội. Bởi mình từng là lính, khi dự trại sáng tác vào lại chiến trường xưa mọi kí ức chiến tranh nó sống dậy, viết rất thông.

Tôi nhớ nhất lần đi dự trại sáng tác ở Pleiku – Gia Lai năm 2007, gặp gỡ được nhiều bạn văn như Văn Công Hùng, Nguyễn Hiệp, Nguyễn Thị Thu Loan, Ngô Thanh Vân, Hoàng Thanh Hương… Đặc biệt, có nhà văn Đỗ Tiến Thụy người quản trại rất vui và dí dỏm dẫn đoàn đi thực tế Binh đoàn 15.

Advertisement

Trong lần đi trại ấy tôi viết được một bài kí và truyện ngắn Bến khách. Cũng chính cái trại ấy tôi trở thành nhân vật để Đỗ Tiến Thụy và Văn Công Hùng “mổ” ở mấy báo liền. Và chính cái trại ấy đã giúp tôi thu hoạch được nhiều chi tiết, sự kiện về chiến tranh để hoàn thành tiểu thuyết Dưới chín tầng trời sau này.

– Tôi biết, khi viết “Dưới chín tầng trời” ông đã xin nghỉ không lương, một việc rất không bình thường trong giới văn nghệ Quảng Ninh…

– Chuyện nghỉ không lương để viết với tôi rất bình thường, bởi nhu cầu viết thúc ép. Mình đang là công chức nhà nước, làm gì có chế độ không đi làm mà lại được hưởng lương cơ chứ, thế là quyết định xin nghỉ. Đấy không phải lần đầu, mà tôi đã từng làm thế khi viết Bến không chồng từ những năm 80 rồi.

– Qua tìm hiểu, tôi được biết đó là giai đoạn đỉnh điểm khó khăn của thời bao cấp, cả nước đói, nhà nhà đói, dân tình nháo nhác xoay xở tìm cách sống, thế mà ông lại xin nghỉ việc không lương để viết văn. Phản ứng của gia đình trước quyết định của ông thế nào?

– Lúc ấy mọi người nhìn mình như kẻ “có điện”, “ấm đầu”. Giữa thời buổi người người đua nhau làm kinh tế, buôn bán nhộn nhịp, mình ngồi ru rú góc nhà viết văn xem ra nó trái khoáy lắm. Mỗi lần nghe vợ phàn nàn nhắc tới chuyện cái ăn cái mặc, chuyện tiền nong, con cái mà xót hết cả ruột.

Advertisement
Danh hieu nha van anh 2

Nhà văn Dương Hướng.

Nhưng ý tưởng và cảm xúc đã chín, không thể không viết ra. Sau này, khi Bến không chồng được độc giả đón nhận, được giải thưởng Hội Nhà văn, tôi mới nhận ra cái quyết định nghỉ không lương để viết văn của mình là đúng đắn.

– Cuộc sống sau khi nhận giải thưởng của ông có khác gì so với trước?

– Ít ra cũng thấy an ủi trước tiên với vợ với con. Và ngẫm thấy cuộc đời của anh cầm bút gian nan vất vả nhọc nhằn cũng đã được đền đáp. Riêng tiền thưởng ít thôi nhưng cũng giải quyết được khối việc trong gia đình.

– Giải thưởng còn giúp ông khẳng định uy tín nghề nghiệp nữa chứ. Ông được tín nhiệm bầu làm Ủy viên Hội đồng Văn xuôi nhiều năm, và giờ là Chủ tịch Hội đồng Văn xuôi khóa X. Ông nghĩ sao về danh hiệu hội viên Hội Nhà văn trong xã hội ngày nay và quan điểm của ông về việc kết nạp hội?

– Tôi nghĩ danh hiệu nhà văn trong xã hội nào cũng cao quý. Đây là danh hiệu nhân dân tôn vinh chứ không phải Hội Nhà văn ban phát cho người cầm bút. Dù Hội Nhà văn có trách nhiệm chọn lọc những người có đủ tư cách, tài năng để vào tổ chức hội. Xin được nói cho rõ thêm, có những người cầm bút không thuộc tổ chức hội nhưng họ vẫn là nhà văn đầy tài năng, đức độ, thể hiện rõ trong các tác phẩm của mình. Có rất nhiều nhà văn nổi tiếng trên thế giới không ở tổ chức hội nào mà nhân dân vẫn kính trọng họ.

Advertisement

Với đặc thù của Hội Nhà văn Việt Nam trong giai đoạn này, danh hiệu nhà văn trong tổ chức hội đã có nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau. Người cho rằng có gì quan trọng đâu, ai viết được văn, nhiệt tình tha thiết thì kết nạp vào cho thêm phần đông vui.

Người lại bảo Hội Nhà văn là chỗ cho một số kẻ lợi dụng xin vào để cốt có cái mác nhà văn nhằm khoe mẽ vênh vang với thiên hạ.

[…] Quan điểm của riêng tôi, việc kết nạp hội viên mới, trước tiên chúng ta cần quan tâm tới chất lượng tác phẩm và phẩm chất đạo đức của người có nguyện vọng. Chỉ có vậy mới bảo toàn được uy tín, danh dự của một hội nghề nghiệp. Và để phát triển, Hội cần quan tâm lớp trẻ và những tác giả đang có vai trò lãnh đạo ở các hội địa phương.

Nhìn vào danh sách hồ sơ, tôi nhận ra còn một vài cây bút lớn tuổi, tác phẩm của họ cũng đã được dư luận đánh giá cao, được nhận nhiều giải thưởng của các cuộc thi; rồi có những tác giả lặng lẽ viết, xuất bản, không tuyên ngôn, không ồn ào, tác phẩm của họ được độc giả ghi nhận, nhưng việc vào hội đối với họ thật gian nan, bao lần xét mà vẫn không qua khỏi vòng Hội đồng hoặc qua vòng Hội đồng nhưng không qua Ban Chấp hành.

Chuyện này vẫn tồn tại bởi nhiều nguyên nhân, một là các thành viên xét chọn chưa thấu đáo, bao quát hết; hai là cũng có trường hợp may rủi bỏ phiếu lần nào cũng suýt soát thiếu một phiếu chẳng hạn. Tôi nghĩ phải giải quyết liệt vấn đề này, để người xứng đáng được vào, không bỏ rơi bỏ sót ai.

Advertisement

[…]

– Có chuyện này tế nhị, tôi muốn ông chia sẻ… Nghe đồn ngồi ở hội đồng giải thưởng được nhiều “lộc lá” lắm?

– Tôi cũng nghe người ta đồn vậy. Nhưng trải qua cương vị này nhiều năm, cái tôi nhận được nhiều nhất là “được đọc”. Mình phải bỏ công sức ra đọc, quên cả việc gia đình. Bạn bè đến nhà chơi nhìn đống tác phẩm chất trên bàn mà hãi.

Đọc tác phẩm xét giải không thể qua loa được. Phải đọc đi đọc lại, xong lại phải có ý kiến, bày tỏ quan điểm đánh giá… Vất vả và khó khăn lắm. Vì thế nên tôi xác định cứ trung thực, thẳng thắn, làm hết khả năng trách nhiệm. Cho dù có bị trách cứ mình cũng chấp nhận, chứ chuyện văn chương phong phú lắm, văn mình vợ người mà.

Còn về khoản “lộc lá” thì tôi nói thẳng là “lõm”, bởi mỗi lần lên Hà Nội họp, tôi đi xe nhà, phải chi tiền triệu cho xăng xe và vé đường cao tốc Quảng Ninh – Hà Nội mà không được Hội thanh toán. Mỗi buổi họp được nhận cái phong bì ăn trưa 200.000 đồng, phải kí vào sổ để văn phòng lưu.

Advertisement

Có lần tôi nói nhỏ với nhà văn Lê Minh Khuê, có khi mình phải xin nghỉ. Nhà văn nữ cười an ủi bảo, cố cho hết khóa đi. Nhưng nói đi thì phải nói lại, từ ngày nhận vai trò này tôi cũng thấy mở mang nhiều điều. Đọc tác phẩm từ mọi miền đất nước tôi nhận thấy còn rất nhiều người ngày đêm miệt mài cần mẫn sáng tạo. Chính những người đó thúc đẩy mình cũng phải nghĩ, phải viết tiếp.

– Vâng, có lẽ đó là cái “lộc lá” lớn nhất mà ông được nhận từ công việc đọc. Hiện tại ông đang viết gì?

– Tôi đang viết tiểu thuyết, có lẽ sẽ là cuốn cuối cùng của đời mình. Mà thật chả biết sao nữa, cứ như định mệnh sắp đặt, bao năm thư thả không viết, giờ bận tối mắt tối mũi với bao công việc lại đâm đầu vào tiểu thuyết. Ban đầu tôi dự tính sẽ hoàn thành trong hai năm, nhưng khi lao vào mới thấy tốc độ đến bất ngờ, chỉ ba tháng đã được 200 trang rồi. Cuốn lần này tôi viết về biển. Cuộc đời tôi luôn gắn liền với biển. Quê tôi có biển Vô Cực (Cồn Đen), nơi tôi đang sống có cả một vùng biển Đông Bắc.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử dân tộc, biển chứng kiến hết, con mắt của biển nhìn thấu mọi nỗi niềm. Hận thù và trả giá, tình yêu và sự khát khao kiếm tìm tự do hạnh phúc. Ngọn hải đăng trên biển là biểu tượng là linh hồn của biển đã làm nên hồn cốt trong tác phẩm mà tôi đang tiếp tục khai thác. –

Nguồn: https://zingnews.vn/danh-hieu-nha-van-la-do-ban-doc-ton-vinh-post1396809.html

Advertisement

Tiếp tục đọc

Tác giả

Thanh Tịnh làm báo Tết

Được phát hành

,

Bởi

Ðược ở gần nhà thơ Thanh Tịnh chừng hai chục năm thôi, nhưng tôi biết ông là một “tỉ phú” về ngôn từ, chữ nghĩa.

Tôi có may mắn được làm việc ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội ngót ngét 40 năm. Ở Nhà số 4, tôi lại may mắn được gần những bậc thầy, những bậc đàn anh về viết báo, làm báo như Thanh Tịnh, Mai Ngữ, Hồ Phương, Xuân Thiều, Vương Trí Nhàn, Ngô Thảo…, đặc biệt là “sư phụ” Thanh Tịnh, Tổng biên tập thứ hai của Văn nghệ Quân đội. Những câu chuyện làm báo của ông cả trong cương vị lãnh đạo Văn nghệ Quân đội và ở vị trí một người làm báo đều khiến tôi nhớ mãi.

Ðược ở gần nhà thơ Thanh Tịnh chừng hai chục năm thôi, nhưng tôi biết ông là một “tỉ phú” về ngôn từ, chữ nghĩa. Không phải ngẫu nhiên mà anh em báo chí văn nghệ ở “phố nhà binh” gọi ông là “pho tự điển sống” là “bậc huynh trưởng”. Ông không chỉ viết báo, làm báo giỏi mà còn chỉ cho nhiều nhà báo trẻ cách viết báo, làm báo một cách rất cụ thể, như thầy trò, như bầu bạn như đồng nghiệp… Thanh Tịnh là vậy, làm báo, viết báo, kể cả báo Tết, báo Xuân, báo số đặc biệt…, làm cái gì cũng cứ nhẹ tênh tênh, nhưng để theo ông, học ông thật chẳng dễ chút nào. Ðôi khi chỉ là để hiểu ý ông thôi mà mươi năm, thậm chí cả đời người vẫn chưa làm được.

Ðời làm báo của ông, như ông kể, tháng nào tuần nào cũng phải tự “trình diện” trước bạn đọc, bạn viết và… cấp trên. Tết, làm báo Tết mới bận rộn làm sao! Ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội có lệ mỗi lần Tết đến, mọi phóng viên trong tòa soạn phải góp một bài cho số báo đặc biệt này. Thơ còn không ngại, chứ đến truyện ngắn và các mục râu ria như giai thoại, thơ vui, câu đối cùng nhiều thể tài gọi là “bài vụn” khác, thì quả thật viết đã khó, mà chạy ra bài lấp đầy các số báo cũng không dễ… Tôi từng nghe kể, những lúc ấy nhà văn Nguyễn Minh Châu thường nhìn cánh “trực biên tập” (tức là đang lo dựng các số báo) một cách thương hại và tủm tỉm: “Trông kia kìa, chắc cụ Thanh Tịnh đã viết được vài bài rồi, giờ lại đang viết tiếp đấy. Tết năm ngoái đọc sơ sơ các báo, mình đếm chắc chưa đầy đủ mà đã có đến chục bài kí tên Thanh Tịnh. Ở nhà này về khoản làm báo, cánh cầm bút lớp sau cứ gọi là xách dép cho cụ Tịnh cũng không đáng”. Để tưởng nhớ nhà văn Tổng biên tập (Chủ nhiệm Tạp chí VNQĐ đời thứ 2, sau tướng Văn Phác), tôi xin kể vài câu chuyện về ông:

Advertisement

Nhà văn, nhà báo, nhà thơ (Tự họa)

Văn phẩm Thanh Tịnh để lại không thật đồ sộ, nhưng ông được người đời gọi là nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà thơ. Là nhà văn bởi ông có các tập truyện ngắn Ngậm ngải tìm trầm (1943) và trước đó là tập Quê mẹ (1941). Là nhà thơ bởi ngay từ năm 1937, lúc mới 26 tuổi ông đã cho in tập thơ Hận chiến trường nổi tiếng và đến năm 1942 được ghi danh trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân với những thi phẩm nổi tiếng như Mòn mỏi, Tơ trời và tơ lòng, Rồi một hôm

Thanh Tinh anh 1

Trước đó, năm 1936 ông đã đoạt giải Nhất về thơ do tờ Hà Nội báo tổ chức. Ông còn để lại cho đời rất nhiều câu ca dao bất hủ như: Nhà tan cửa nát cũng ừ/ Quyết tâm thắng Mỹ cực chừ sướng sau. Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong. Hà Nội, Huế, Sài Gòn/ Là cây một gốc là con một nhà…

Đời ông, một nhà thơ xứ Huế, một sĩ quan cao cấp của quân đội, nhưng lại đã từng “Trải qua mấy chục năm trường / Ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân” ở Hà Nội. Những năm tháng “ngày Bắc, đêm Nam” ấy ông đã để lại biết bao nhiêu kỉ niệm trong làng văn, làng báo cùng rất nhiều giai thoại dọc “phố nhà binh” – Phố Lý Nam đế Hà Nội.

Thanh Tịnh luôn luôn có những câu nói “xuất khẩu thành vần”. Một lần có một bạn đọc đến thăm ông tại căn phòng vừa là chỗ ở vừa là nơi làm việc ở số 4 – Lý Nam Đế hỏi ông: “Dạ thưa bác, bác đi làm có xa không ạ?” Thanh Tịnh trả lời rằng “Thưa không phải đi đâu ạ!”.

Người nọ còn ngỡ ngàng chưa hiểu ra thì nhà thơ đã giải thích: “Tôi được người ta gọi bằng bốn danh hiệu: nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà thơ. Nhưng xin thưa: bốn nhà ấy hiện không nhà ở!”. Về sau, khi đã được Quân đội chia một căn hộ riêng bên số 8 – Lý Nam Đế, nhắc đến câu nói kia ông đề nghị sửa chữa thành: Nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà nghèo. Ông bảo đó là “chân dung tự họa” của ông.

Truyện ngắn và đồng hồ

Biên tập viên tờ báo nọ đến đặt Thanh Tịnh viết bài cho số báo tất niên. Anh ta thưa với nhà thơ rằng ông là một tác giả viết nhanh, luôn đúng hẹn, lại là người “sáng lập” ra mục “những đoạn văn ngắn” của tờ Văn nghệ Quân đội và đặt vấn đề với ông viết cho một truyện ngắn.

Advertisement

Anh biên tập viên tin rằng với thời gian “cần”, “gấp” nhất định nhà thơ sẽ có truyện ngắn gửi đăng. Nghe xong Thanh Tịnh bảo: Sao không đặt mình viết truyện dài? Người khách nọ: Dạ sợ bác không đủ thời gian ạ. Nhà thơ cười: Vậy ra theo anh làm một cái đồng hồ nhỏ và chạy tốt lại dễ hơn làm cái đồng hồ to à?.

Văn chương và bánh chưng

Nhà thơ Thanh Tịnh xa quê đúng 30 năm và đón Tết một mình cũng đủ 30 lần. Nhưng với ông, Tết nhất luôn luôn phải vui vẻ. Buồn đến chết, Tết cũng vui, ông hay nhắc đi nhắc lại câu ấy mỗi năm hoa đào nở. Và như đã thành tục lệ, dù là “ăn cơm tập thể, nằm giường cá nhân” mỗi Tết trong phòng ông đều có bánh chưng, hoa đào và dĩ nhiên là cả báo Tết cùng một vài câu đối do ông sáng tác để mừng xuân, mừng Tết, mừng tuổi bạn bè, người thân…

Có một năm, hai mươi ba Tết ông Táo rồi mà ông vẫn chưa nghĩ được một vế tiếp theo của đôi câu đối mừng một tờ báo lớn kỉ niệm 50 năm ra số đầu tiên. Nhìn chiếc bánh chưng, cành đào nhỏ và chồng báo Tết của ông, người bạn nhà báo tức cảnh làm mấy câu thơ:

Tết nhất năm nay bác rất xôm

Bánh chưng xếp lộn với văn chương

Advertisement

Cành đào hé đúng mười ba nụ

Câu đối mừng ai viết nửa chừng…

Nghe vậy nhà thơ xứ Huế cười xí xóa: “Mới chiều 23 mà. Thời gian từ đây đến giao thừa còn dài dài. Thế nào rồi cũng xong. Với tui ‘tuổi tuy hưu trí, chí chưa hưu’ mà!”

Chữa cháy báo xuân

Tờ báo nọ dự định ra số xuân sớm hơn mọi năm vì quan niệm báo Tết là thứ hàng hóa, phải kịp thời đến tay bạn đọc. Nhưng hiềm một nỗi ông họa sĩ “mi” tính toán số chữ không chính xác nên khi “bông” ra thấy “thủng” rất nhiều chỗ. Đưa ảnh vào cũng được nhưng kiếm không ra, đưa bài khác vào thì đảo lộn hết ý đồ mà cũng chẳng đủ “đất”. Viên thư kí tòa soạn nhanh ý guồng xe đến “cụ” Thanh Tịnh xin vài mẩu chuyện hoặc câu đối để “lấp chỗ trống”.

Thanh Tinh anh 2

Năm ấy tuổi đã thất thập cổ lai hi nên viết lách có phần chậm. Có tí vốn liếng nào cũng “bị” các báo Tết khác nhanh chân hơn đến “chộp” trước mất rồi, vì thế nên khi nghe lời “thỉnh cầu” đầy vẻ S.O.S của người thư ký tòa soạn ông cũng rất lo. Nhưng chỉ một thoáng đã thấy ông hỏi:

– Bản bông có đây không?

Advertisement

Người thư kí mở cặp đưa ra cho nhà thơ xem. Quả là bị “thủng” đến mấy chỗ. Dường như không phải suy nghĩ nhiều, nhà thơ cao niên vớ lấy cây bút bi, giương kính lão lên và viết liền vào mấy chỗ trống kia. Chỗ thì chữ “vi nhét”, chỗ thì chữ “hoa đào”. Chỗ “thủng” hơi to thấy ông “lia” vội “câu đố”:

Phần đầu tôi mệt lắm rồi

Phần đuôi lặng lẽ giúp người che thân

Nếu ai đem ghép hai phần

Tôi kêu một tiếng xa gần biết tên

Advertisement

Sau đó ghi thêm chữ “là chữ gì?” trong ngoặc đơn và tiếp chữ “xem giải đáp trang…”. Ông lật đi lật lại bản “bông” và tìm ra một chỗ “thủng” khác để “lia” bút viết lời giải đó: Pháo (ph: mệt phờ + áo = pháo). Đoạn ông bỏ kính, cất bút trao bản “bông” cho người khách và bảo “ổn chưa?” Người nọ chỉ biết “dạ” và guồng xe trở lại nhà in…

Thay cho lời kết

Năm ấy nghe tin Thanh Tịnh ốm nặng, Đỗ Chu vừa từ Bắc Ninh xuống sang ngay nhà thăm. Lâu ngày đôi bạn một già một trẻ mới gặp nhau, chuyện trò vui vẻ đến nỗi Thanh Tịnh như khỏe ra. Ông gượng dậy lấy rượu mời Đỗ Chu và câu chuyện thêm vui, thêm cả buồn lẫn lộn.

Nghe Thanh Tịnh nói về cuộc đời phiêu bạt, đơn côi của mình, Đỗ Chu thương lắm. Là người biết ít chữ Hán, chữ lại đẹp anh bèn cầm cây bút dạ viết luôn câu: Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân (trong bài thơ chữ Hán Dạ hành của thi hào Nguyễn Du) tặng nhà thơ già. Thanh Tịnh trân trọng treo câu thơ đó lên tường sát chỗ giường nằm.

Không ngờ mấy ngày sau bệnh ông càng thêm nặng, ông phải vào Viện Quân y 108… Và trước phút tác giả của Quê mẹ về quê mẹ, Đỗ Chu cũng có mặt. Nhà thơ còn níu nhìn người bạn văn trẻ và thều thào đọc câu thơ nọ Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân (nghĩa là: Trên con đường nhỏ, gió lạnh dồn thổi vào một người – thơ Nguyễn Du)… Không một ai ở đó khi ấy cầm nổi nước mắt!

Quả câu thơ rất hợp với ông, nhưng tôi nghĩ con đường xưa ông đi, quá khứ đời ông trải không chỉ có gió lạnh, đường xa và sự đơn côi mà còn có cả những chặng đường hoa cùng những ngày ấm áp nơi chiến khu xa và trên những con đường đường Hà Nội rụng vàng lá me lá sấu!

Advertisement

Nguồn: https://zingnews.vn/thanh-tinh-lam-bao-tet-post1396491.html

Tiếp tục đọc

Tác giả

Gắn kết yếu tố truyền thống với hiện đại trong minh họa sách Tết

Được phát hành

,

Bởi

Theo họa sĩ Kim Duẩn, minh họa trong sách giống món ăn trên mâm cỗ ngày Tết. Ngoài thưởng thức nội dung, hình ảnh giúp độc giả thấy được nội dung mạch lạc, hấp dẫn hơn.

Minh hoa sach Tet anh 1

Trong thị trường xuất bản phẩm dịp Tết hiện nay, sách Tết của Đông A tạo được dấu ấn trong lòng bạn đọc bởi chất lượng nội dung và tính thẩm mỹ. Họa sĩ Kim Duẩn, tác giả của nhiều bìa sách, tham gia vẽ bìa và minh họa cho ấn phẩm này. Anh chia sẻ về việc tạo lập phong cách riêng cho ấn phẩm sách Tết cũng như thị trường sách tranh Việt hiện nay.

Món ngon trong mâm cỗ sách Tết

– Ý tưởng của anh để định hình phong cách mỹ thuật riêng cho sách Tết Đông A?

– Quý Mão 2023 là năm thứ năm tôi tham gia vào làm sách Tết cho Đông A. Âm hưởng chung của từng cuốn là sẽ theo linh vật của từng năm, đó như là tứ để tôi bám theo, mỗi con giáp có những tinh thần khác nhau, tùy theo đó mà trình bày cuốn sách sẽ đi theo.

Sách Tết đặc thù là sách dành cho thời điểm cuối năm, khi mà Tết Nguyên đán cận kề, chính vì thế mỹ thuật cho sách Tết thường là không khí vui tươi, ấm áp. Điểm chung về phong cách nhận diện cho sách Tết Đông A đó chính là việc lấy ý tưởng từ tranh dân gian Việt Nam. Bố cục cũng như đường nét dựa theo các tranh dân gian nhưng được làm mới lại.

Advertisement
Minh hoa sach Tet anh 2

Họa sĩ Kim Duẩn. Ảnh: NVCC.

– Điều gì khiến anh kết hợp họa tiết tranh dân gian trong các minh họa sách Tết? Làm thế nào để những họa tiết dân gian đó phù hợp với thẩm mỹ hiện đại?

– Việc kết hợp tranh dân gian vào mỹ thuật cho sách Tết chính là gắn kết yếu tố truyền thống với hiện tại. Tranh dân gian mà tôi lấy cảm hứng chủ yếu là tranh Đông Hồ, bởi yếu tố gần gũi đi vào đời sống người Việt từ lâu đời.

Khi dựa vào phong cách tranh dân gian tôi hay đan cài yếu tố đương đại tạo sự thú vị cho người xem. Ví dụ, để các nhân vật cầm điện thoại thông minh cũng là cách tạo thú vị cho người xem. Với thẩm mỹ đương đại thì họa sĩ cần đơn giản hóa hình ảnh sẽ phù hợp thẩm mỹ hiện tại hơn.

– Anh có thể chia sẻ thêm về hình ảnh Mèo, cách thiết kế bìa cuốn “Sách Tết Quý Mão”? Ngoài vẽ bìa, các tờ gác cho mỗi phần Văn, Thơ, Nhạc, Họa, Vĩ thanh, anh còn thực hiện những minh họa nào trong sách?

– Năm Mèo là năm con giáp rất gần gũi với đời sống. Tôi thiết kế những nhân vật trên tranh bìa là những chú mèo tham gia những hoạt động như con người, cô gái mặc áo dài nhưng là chú mèo được nhân hóa…

Advertisement

Ngoài việc vẽ bìa và thiết kế cho cuốn sách thì tôi vẫn tham gia vẽ minh họa phần văn, thơ, nhạc… Ví dụ bài Tết quê nội, Tết quê ngoại của Xuân Phượng, Nước trong của Lê Minh Khuê, các minh họa thơ, chân dung Phú Quang trong phần Nhạc…

Sách tranh là thị trường xuất bản tiềm năng

– Theo anh, tranh, minh họa có vai trò như thế nào trong các ấn phẩm sách Tết?

– Tranh minh họa trong sách Tết giống một món ăn trên mâm cỗ ngày Tết, cho thêm phần trọn vẹn, đủ đầy. Ngoài việc thưởng thức nội dung thì phần hình ảnh khiến cho người xem thấy được không khí của nội dung một cách mạch lạc hơn, cuốn sách cũng tăng phần hấp dẫn lên rất nhiều.

– Tranh minh họa sách Tết cần đảm bảo những tiêu chí gì?

Tranh minh họa sách Tết ngoài bảo đảm yếu tố phù hợp nội dung thì phải đẹp, màu sắc sẽ tươi tắn hơn để hợp ấn phẩm dịp đầu xuân năm mới.

Advertisement
Minh hoa sach Tet anh 3

Minh họa bài viết Tết quê nội, Tết quê ngoại (Xuân Phượng) của Kim Duẩn trong Sách Tết Quý Mão 2023. Ảnh: NVCC.

– Là họa sĩ vẽ bìa quen thuộc cho các ấn phẩm văn chương Việt, anh nhận thấy điều gì làm nên thành công của một bìa sách?

– Một bìa sách thành công theo tôi ngoài việc phù hợp với nội dung thì yếu tố hấp dẫn về hình thức vô cùng quan trọng. Sự ấn tượng về mỹ thuật giúp người xem dễ chú ý đến cuốn sách hơn trong cái nhìn đầu tiên. Nhiều khi yếu tố ấn tượng về thị giác sẽ được đặt lên hàng đầu.

– Anh nhận định thế nào về thị trường sách tranh Việt hiện nay?

– Thị trường sách tranh ở Việt Nam ngày càng phát triển, so với trước đây thì lượng đầu sách đã tăng lên rất nhiều. Các họa sĩ cũng như nhà xuất bản cảm thấy tiềm năng của thị trường sách tranh này nên đã dành nhiều thời gian và đầu tư hơn cho dòng sách tranh.

Tuy nhiên dòng sách tranh cũng mới phát triển gần đây nên chất lượng chưa thật đồng đều, số họa sĩ chất lượng chưa nhiều nên số sách tranh đẹp vẫn rất ít ỏi. Chính vì thế đó vẫn là một thị trường tiềm năng cho người đọc cũng như người sáng tác.

Advertisement

Nguồn: https://zingnews.vn/gan-ket-yeu-to-truyen-thong-voi-hien-dai-trong-minh-hoa-sach-tet-post1391265.html

Tiếp tục đọc

Xu hướng